Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

Chuyến hành quân cuối năm - Vương Mộng Long



Từ trái: Lũy, Lạn, Attaya, Long, Hester, Đàm, Đa, Quý – Pleiku 1968 – 8 người trong ảnh Pleiku 1968 nay chỉ còn 2: Mục Sư Hồ Khắc Đàm (CA) và VMLong (WA) - LGT: “Chuyến hành quân cuối năm” coi như món quà Xuân nho nhỏ của một cựu chiến binh VNCH gửi tới Quê Hương, Đồng Bào, Chiến Hữu và bạn Đồng Minh một thời. Sáng ngày 23 tháng Chạp Âm Lịch năm Tân Hợi (khoảng đầu tháng 2 năm 1972 Dương Lịch) Trung tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Đoàn II gọi điện thoại cho tôi: “Trưa nay chú lên gặp Trung tướng để nhận lệnh hành quân.” Tôi đã trình diện đúng giờ. Trung tá Tiếu chờ tôi nơi cầu thang dẫn lên lầu hai. Chúng tôi theo nhau bước vào văn phòng Tư Lệnh. Ngay sau đó, anh Quân Cảnh đã nhanh tay đóng kín cửa phòng.
<!>
Cuộc họp hôm đó diễn ra chỉ có 3 người: Trung tướng Ngô Du, Trung tá Trịnh Tiếu và Đại úy Vương Mộng Long. Lệnh ban ra ngắn, nhưng rõ ràng và dứt khoát:
– Nhiệm vụ của Long là đích thân thám sát truy tìm cho bằng được sự có mặt của xe tank Cộng Sản trong vùng Tam Biên.
Tôi biết kết quả của cuộc hành quân này rất quan trọng nên Trung tướng Ngô Du mới đích thân vạch kế hoạch và chỉ định đích danh tôi thi hành.
Buổi họp kết thúc bằng cái bắt tay thật chặt của người chỉ huy:
– Anh tin tưởng chú! Anh chúc chú may mắn!

Nhìn nụ cười tươi tắn và phúc hậu của Tư Lệnh, tôi không thể biết được thái độ ân cần cùng những lời nói dịu dàng của ông đã phát xuất tự đáy lòng, hay chỉ là cái vỏ bề ngoài của một Lưu Bị tân thời, hay một Ngô Khởi tân thời? Nhưng rõ ràng, cái cách bắt tay của ông và những lời khích lệ của ông đã dạy tôi một bài học về cách xử thế, về cách thu phục nhân tâm. Thêm vào đó, những tiếng “Anh” và “Chú” phát ra từ miệng ông Tư Lệnh cũng khiến tôi quên đi cái mặc cảm tự ti của một người cấp dưới, vì tôi đã ngộ ra: Trước khi thành Trung tướng Ngô Du, đã có một Sinh Viên Sĩ Quan Khóa 2 Võ Bị tên là Ngô Du, sau đó là Thiếu úy, Đại úy, Đại tá Ngô Du. Tôi cũng tốt nghiệp từ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, đương nhiên tôi có quyền hy vọng... Với lòng thiết tha yêu Quê Hương và yêu Quân Đội, tôi chưa từng từ chối bất cứ nhiệm vụ nào mà cấp trên giao phó.
Hiện thời, đang là 1 sĩ quan giữ chức vụ Trưởng Phòng 2 của Biệt Động Quân Vùng 2 nhưng tôi vẫn vui vẻ và hãnh diện với vai trò Trưởng toán Viễn Thám của mình.
Tôi biết rõ, trong lòng địch, mạng sống của một Đại úy Viễn Thám cũng chẳng có gì khác biệt so với mạng sống của một Binh nhì Viễn Thám.

Ngày mai, tôi sẽ mặc cái áo không có 3 bông mai đen hay mai vàng trên cổ; trên vai tôi cũng cõng một chiếc balô trong đó có tấm nhựa nylon che mưa cùng 7 ngày lương khô; ngang hông tôi cũng kẹp chặt khẩu M16 với cái băng chứa 20 viên đạn. Và quan trọng hơn cả, trong lần nhảy toán này, nếu bất ngờ... xảy ra tao ngộ chiến... nếu tôi bắn chậm... tôi sẽ chết!
Giữa trưa, 23 tháng Chạp Âm Lịch, tôi rời Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, với một cái máy ảnh mini treo tòn ten trước ngực bởi sợi dây da choàng quanh cổ, trên tay tôi ôm 10 tấm bản đồ Dak Mot Lop tỷ lệ 1/50,000 bao gồm cả khu vực Tam Biên Việt-Miên-Lào.
Viễn Thám của Phòng 2 Biệt Động Quân lúc nào cũng sẵn sàng. Tôi chỉ cần tóm tắt trong vài câu nói, thuộc cấp của tôi sẽ thi hành không sai:
– Toán A của Hạ sĩ Yêng và Toán B của Trung sĩ Thìn, sẽ vào vùng với 7 ngày lương khô. Hạ sĩ Ba đi theo Đại úy Trưởng Phòng. Toán B đem theo 1 ăng ten 292.
Kỳ hành quân này các toán viên sẽ không hóa trang với quân phục màu xanh rêu, nón tai bèo và AK 47 của Việt Cộng. Chúng tôi trang bị thật bình thường với nón đi rừng cùng dây ba chạc và M16.

Từ ngày đáo nhậm chức vụ Trưởng Phòng 2 Biệt Động Quân/Quân Khu 2, mọi phương tiện chuyển vận và yểm trợ của tôi đều nhờ vào Ban Cố Vấn Hoa Kỳ. Tôi đi đâu thì cố vấn của tôi cũng phải đi theo.
Tôi đích thân thông báo lịch trình chuyến đi cho Cố vấn Phòng 2 hiện thời là Đại úy Humphrey.
Chỉ 10 phút sau khi nhận tấm bản đồ, Humphrey cùng người lính Mỹ mang máy PRC 25 của anh đã ở vào tình trạng sẵn sàng.
Đúng 5 giờ chiều chúng tôi tập họp trong căn nhà phía sau văn phòng để kiểm tra quân phục, vũ khí lần chót. Mọi sự chuẩn bị đều ổn.
Tối 23 tháng Chạp Âm Lịch tiễn Ông Táo về Trời, trong văn phòng của tôi có 8 người lính Việt Nam và 2 người lính Mỹ ngồi quây quần trên nền gỗ. Ở giữa vòng tròn người là 1 mâm rau thơm, rau sống với 4 con gà luộc, gần chục ổ bánh mì cùng 2 vò rượu chát Napoleon.
Tôi nâng ly, mở lời:
– Hôm nay để tiễn chân Táo Quân, tụi mình sẽ chơi hết 2 bình Napoleon này!
10 anh lính Việt, Mỹ, Kinh, Thượng cùng giơ tay hô to:
“Dô!... Dô!... Go!... Go!...”
Hạ sĩ Yêng là người Thượng, tửu lượng khá cao, thoáng chốc đã cạn ly rượu thứ nhì.
Yêng quệt miệng rồi nhìn tôi:
– Anh Hai! Em nhờ Anh Hai một việc được không?
– Ừ! Được!
– Nếu ngày mai em không về, em nhờ Anh Hai gả thằng Y Tuk Nier cho con vợ em có được không? Em thấy thằng Tuk cũng hiền, em thương vợ em, em cũng thương thằng Tuk!

Nhiều năm sống cùng người Thượng, từng vài lần chỉ huy những đơn vị người thiểu số nên tôi chẳng sững sờ, ngạc nhiên trước ý nguyện của thằng Yêng:
– Okay! Hãy làm cho xong công tác ngày mai. Chuyện sau đó Anh Hai sẽ tính tiếp!
Nghe tôi trấn an, thằng Yêng khẽ gật đầu rồi đưa tay chùi nước mắt.
Hạ sĩ Yêng và Binh Nhứt Tuk là lính tăng phái từ Tiểu Đoàn 90 ở Trại Dak Seang. Yêng có vợ một con, còn Tuk thì độc thân.
Chẳng riêng gì ở các đơn vị người Thượng, mà thời chiến chinh này chuyện một anh lính cưới vợ anh bạn vừa tử trận không còn là lạ.
Hồi còn ở Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân tháng 11 năm 1967, Hạ sĩ Hường tử trận ở Blao, tôi cho phép Binh nhất Bụng đưa vợ Hạ sĩ Hường và quan tài của Hường về Đà Nẵng. Sau khi lãnh tiền tử tuất, vợ Hạ sĩ Hường đã sớm trở thành vợ Binh nhất Bụng.
Sau đó vì thấy Binh nhất Bụng cần mẫn, siêng năng, tôi đề bạt cho Bụng lên hạ sĩ.
Trận Ben Het tháng 5 năm 1969, Bụng thăng cấp hạ sĩ nhất. Tôi bị thương nặng trận này và thuyên chuyển đi đơn vị khác ngay sau khi xuất viện.
Năm 1970 tôi được tin Hạ sĩ Bụng tử trận trong một lần chạm súng ở Núi Voi Đà Lạt.
Bẵng đi một thời gian tôi mới gặp người góa phụ của đơn vị cũ trong sân Liên Đoàn 2. Chị ấy kể rằng lãnh tử tuất của anh Bụng xong chị tính về quê Quảng Nam, nhưng có ông hạ sĩ giữ kho nhiên liệu muốn nối duyên cùng chị, chị xuôi tay, bằng lòng. Ông hạ sĩ này hơi lớn tuổi, góa vợ và có 2 đứa con, một trai, một gái.
Chị vừa cười vừa giải thích với tôi:
– Em bằng lòng lấy anh ấy vì không cần mang nặng đẻ đau mà vẫn có con. Có cả nếp, cả tẻ, cả gái, cả trai. Mai này về già chắc chắn có nơi nương tựa!
Nhớ lại chuyện xưa, tôi thấy thương thằng Hường, thằng Bụng.

Nhìn thằng Yêng sụt sùi, tôi thấy lòng mình như đang chùng xuống.
Bất chợt, trong đầu tôi hiện ra hình ảnh vợ tôi và đứa con gái đầu lòng vừa tròn 3 tháng tuổi.
Tim tôi bỗng như đập chậm lại một nhịp, ngập ngừng.
Phải chăng tôi vừa động lòng, tự thương cho chính bản thân mình?
Humphrey là người hay hóng chuyện. Thấy Hạ sĩ Yêng nức nở, anh ta hỏi tôi:
– Vì sao anh ta khóc?
Tôi bèn kể lại lời trăn trối của Yêng cho Humphrey nghe. Hiểu chuyện rồi, viên sĩ quan Mỹ gật gù:
– Thật là tốt! Một người chồng biết lo cho tương lai của vợ con!
Đại úy Humphrey có cái máy Cassette, anh ta giơ tay nhấn nút Play, tiếng hát của Neil Sedaka lập tức cất lên cùng tiếng nhạc xập xình. Lời của bài ca sao buồn quá!!
“One way ticket! One way ticket!
Gotta travel on, ain’t never comin’ back
Ooh, ooh, got a one way ticket to the blues....”
Tạm dịch:
“Vé một chiều! Vé một chiều!
Lên đường, không bao giờ quay lại...
Ù!... Ú!... Ù!... U!!…...
Vé một chiều, đi về biển xanh....”

Đây không phải là lần đầu tôi nghe ca khúc này. Sau khi bị trọng thương Tết Mậu Thân 1968, tôi được nghỉ 29 ngày tái khám. Về thăm nhà ở Hội An, tôi có dịp nghe bài “One way ticket” lần đầu qua chiếc máy thu băng của một sĩ quan Đại Hàn. Ngày ấy nghe Neil Sedaka hát, tôi không thấy có gì đáng chú ý.
Nhưng nay thì khác, mai tôi sẽ lên đường, có thể đây sẽ là chuyến đi không trở lại.
Để chấm dứt cái không khí phiền não bi quan, tôi đưa tay tắt cái máy Cassette, rồi hất hàm về phía Trung sĩ Thìn:
– Tình Nhớ!
Trưởng toán Lương Thìn lập tức xoay người ra sau lưng, sau lưng chú ấy có cây guitar.
Lương Thìn đàn rất hay và hát cũng rất hay, bài ca chú thích nhất có tên là “Tình Nhớ”.
Chú Thìn thua tôi 10 tuổi, chẳng biết Thìn đã qua bao nhiêu lần thất tình, mà mỗi lần cất tiếng, “Tình ngỡ đã quên đi....” thì người nghe sẽ không còn nhớ tới cái tên Khánh Ly!
Tôi là người uống rượu rất kém, chưa qua ly thứ nhì mặt tôi đã nóng bừng.
Rồi từ đó, tôi chỉ biết đưa tay lên, xuống, cụng ly với anh em mà không uống thêm nữa.
Tôi không nghe rõ Hạ sĩ Ba đã ca bài ca Vọng Cổ có tên gì, tôi cũng thấy Humphrey hát bài gì đó quen quen mà tôi đã từng nghe qua tần số FM.
Trong khi anh em càng lúc càng vui, càng nhộn thì tôi ngồi dựa lưng vào tường, chỉ biết gật gù cái đầu, nhe răng ra cười, và vỗ tay...
Khoảng 10 giờ đêm thì bữa tiệc tàn.

Ngày 24 Tháng Chạp: 8 giờ sáng chúng tôi lên xe, tới xế trưa thì có mặt ở Ben Het.
Ben Het nằm trong địa phận Quận Dak Tô tỉnh Kontum, cách ngã ba biên giới Việt, Miên, Lào chừng 13 cây số.
Ben Het còn có tên Lào là Bản Het. “Bản” có nghĩa là “Làng” theo tiếng Lào.
Mặt khác, Việt Cộng lại gọi Ben Het là Pơ Lây Cần.
Chúng tôi ngừng xe trước một tiền đồn quân sự có tên là Trại Bạch Hổ.
Trước đây, tiền đồn này mang tên Camp Ben Het, do Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu của Mỹ phòng thủ.
Nhưng cuối năm 1970, khi đơn vị Dân Sự Chiến Đấu này được cải tuyển thành Tiểu Đoàn 95 Biệt Động Quân Biên Phòng thì Tướng Ngô Du đã đổi tên Camp Ben Het thành Trại Bạch Hổ.
Lúc này Thiếu tá Lê Chữ đang giữ chức Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 95 Biệt Động Quân Biên Phòng.

Tôi xuống xe rồi leo lên đồi gặp Thiếu tá Chữ. Tôi trao tận tay ông Chữ cái công điện tuyệt mật của Phòng 2 Quân Đoàn 2, trong đó có ghi rõ từ ngày N ranh giới hoạt động về hướng Tây của Tiểu Đoàn 95 sẽ là trục tung YB 80 trên bản đồ. Từ trục này kéo dài về hướng Tây là vùng của Viễn Thám Biệt Động Quân/Quân Khu 2. Nhiệm vụ của tôi kỳ hành quân này hoàn toàn độc lập. Tôi không phải báo cáo diễn tiến hoạt động của tôi cho bất cứ ai. Tôi được trực tiếp yểm trợ pháo binh từ Căn Cứ 6 và Pháo Binh Biên Phòng Ben Het.
Đại úy Humphrey có tần số của những chiếc O2 và OV10 bay liên tục trên trời, khi hữu sự, chúng tôi sẽ được Không Lực Hoa Kỳ ưu tiên yểm trợ.
Đúng chương trình, lúc 3 giờ chiều tôi nhận được 2 trực thăng để di chuyển chúng tôi lên núi Ngok Hồi. 10 phút sau khi đạp đất, toán B đã dựng xong cây ăng ten 292 và bắt đầu thử máy với Trại Bạch Hổ và Căn Cứ 6.
Ngày 25 tháng Chạp: 6 giờ sáng tôi cho lệnh khởi hành.
Hạ sĩ Yêng dẫn đầu, tiếp đó là 2 viễn thám viên rồi tới tôi, đi sau tôi là Hạ sĩ Ba, theo sau Hạ sĩ Ba là Đại úy Humphrey, đoạn hậu là anh mang máy truyền tin người Mỹ. Chúng tôi trượt theo triền dốc hướng chính Tây mà tiến. Xuống hết vòng cao độ 700 chúng tôi bị sương mù dày đặc che mắt chẳng nhìn thấy gì.
Sau khi vượt con suối nhỏ, tôi đặt chân lên con đường xe be cũ, không dấu vết người.
Có lẽ đây là Tỉnh Lộ 512 nối dài? Đường xe be này cỏ tranh cao quá đầu, tôi e rằng mặt lộ có mìn bẫy của quân đội Hoa Kỳ gài lại trước đây, nên cho quân tạt vào bên trái, đi theo triền núi và cách mặt đường khoảng 200 thước.
Thảo mộc khu vực này toàn là tre lồ ô và cỏ tranh.
Giữa ban ngày mà muỗi bay từng đàn tấp vào mặt rát rạt như ném trấu.
Hình như có vài con vắt đã chui vào ống quần tôi, da tôi bắt đầu ngứa ngáy khó chịu.
Lâu rồi tôi mới lội bộ trong rừng có vắt, nên ngày khởi hành tôi quên béng đi cái vụ đem theo thuốc chống vắt. Có lẽ giờ này trên đùi tôi đang treo tòn ten mấy con vắt to như ngón tay!
Chưa tới 3 giờ chiều mà sương mù đã đặc quánh lại như mây. Đi thêm một giờ nữa nhưng không thấy động tĩnh gì, tôi cho quân dừng lại bên rừng cỏ hôi.
Người đi đầu vạch một lỗ vừa thân mình, rồi cả đoàn theo nhau chui vào rừng cỏ.
Chui được chừng hơn 10 thước tôi cho lệnh dừng lại. Chúng tôi xoay một vòng tròn, nằm đâu đầu vào giữa.
Người canh gác ca đầu là anh lính mang máy của toán A. Đúng 2 tiếng đồng hồ sau, anh ta sẽ vỗ vai người nằm kế thay phiên gác, cứ thế, luân phiên, bất kể là tôi hay anh đại úy Hoa Kỳ. Tôi là người gác thứ sáu, mãn giờ gác của tôi thì trời đã mờ sáng.
Mọi người đánh răng, lau mặt một cách lặng lẽ, không ai dám khạc nhổ hay ho hắng.
Tôi mở ba lô, một khẩu phần lương khô loại C của Mỹ được khui ra, ăn với nước suối từ bi đông, không lửa khói, thuốc lá là thứ tuyệt đối cấm!

Ngày 26 tháng Chạp: 6 giờ sáng nhổ neo!
9 giờ sáng chúng tôi tới Pơlei Kuan, Việt Cộng gọi đây là Làng Quán. Pơlei Kuan cách Ngok Hồi chừng 3 cây số. Giờ đây Làng Quán chỉ còn một cái cột gỗ đã cháy đen đứng cô đơn giữa đồng tranh lộng gió.
Tụt xuống một cái dốc, chúng tôi bắt đầu leo lên ngọn đồi thấp nằm giữa hai ngọn núi. Núi bên trái có cao độ 900, núi bên phải có cao độ 800.
Đoạn đường này đúng là tử lộ! Nếu chạm địch thế lực mạnh, chúng tôi chỉ còn cách chạy ngược lại hướng cũ vì hai bên đường đều là vách đá cheo leo.
Không có tiếng chim kêu, không có tiếng suối reo...
Rừng âm u, im ắng một cách lạnh người.
Chúng tôi kiên nhẫn mím môi, dò dẫm từng bước, tai người nào cũng vểnh lên, ngón tay trỏ sẵn sàng kéo cò súng, và chân thì... sẵn sàng... chạy!
Cuối cùng, hơn một tiếng đồng hồ sau, con dốc cũng bị chinh phục. Tọa độ của đỉnh đồi này cách biên giới Lào khoảng chừng 4 cây số. Cũng tại địa điểm này, Hạ sĩ Yêng ra thủ hiệu cho chúng tôi dừng lại.

Tôi vội vàng vượt lên trước đoàn quân. Cảnh vật trước mặt khiến tóc gáy tôi dựng đứng ngay lập tức!
Bên kia dốc là một con đường khá rộng, mới được khai quang. Đường theo hướng Tây Nam, nhưng tới cuối dốc thì đâm thẳng về Nam.
Tôi vẫy tay ra hiệu. Lập tức, Toán A tấp vào bên phải, canh giữ hướng Tây Bắc. Hạ sĩ Ba và 2 cố vấn Mỹ thì ghìm súng giữ hướng chính Nam.
Thêm vài bước nữa, tôi nhìn rõ mặt lộ, hình như có dấu xe hơi, xe bò, xe thồ! Bên lề cỏ cũng có dấu xích, nhưng không rõ là xích xe tank hay chỉ là dấu xích của máy cày? Tôi mở cái máy ảnh ra, chụp một vài tấm rồi ra thủ lệnh cho anh em rút về đường cũ.
Đi được chừng một cây số chúng tôi rẽ vào rừng.
Muốn được an toàn, tôi đã chọn cách lui về đường cũ để nghỉ qua đêm.
Ngày 27 tháng Chạp: 6 giờ sáng lại nhổ neo!
Tôi không trở lại cái ngã rẽ nơi có con dốc mà tôi đã đi qua ngày hôm trước. Tôi tin tưởng rằng, cứ hướng Tây Nam mà đi, chắc chắn chúng tôi sẽ gặp con đường mà địch đang sử dụng. Nào ngờ, vừa lội qua đầu nguồn suối Dak Hơniang chúng tôi lạc vào một thung lũng bao la toàn là cỏ tranh và tre nứa. Dưới tàn lá của rừng tre là hàng chục con đường mới, cũ đan nhau.
Quân tôi tiếp tục đi, lúc thì hàng ngang, lúc thì hàng dọc, tùy theo địa thế.
Trên trục tiến, tôi phải nhiều lần tránh né những toán quân Cộng Sản đi cùng chiều.
Tôi không vào vùng để đánh nhau, phá hoại, hay bắt cóc. Nhiệm vụ của tôi là: Nghe Ngóng- Quan Sát- Chụp Hình và Chạy Trốn.
May mắn thay! Trong vùng này không thấy bóng dáng tên du kích nào.
Dấu tích giao thông vẫn tiếp tục, mà đa phần là hướng Đông Nam.
Chiều 27 tháng Chạp tôi tới một làng Thượng đã bỏ hoang nằm trên bờ suối. Đứng đây tôi có thể nhìn thấy đỉnh Ngok Hồi mờ mờ ở đằng xa.

Làng này nằm trên bờ Bắc suối Dak Kal và cách đồi Ngok Hồi khoảng chừng hơn 5 cây số về hướng Nam.
Tôi biết chắc chắn rằng, từ nơi này, đi về hướng Đông Nam, sau khi qua hai cái đèo thấp, con đường sẽ dẫn vào thung lũng Dak Klong. Nếu địch ém quân trong khe núi đầu nguồn Dak Klong thì pháo binh 105 ly của ta từ Ben Het và Căn Cứ 6 dù có nạp hết thuốc bồi cũng không thể với tới.
Sở dĩ tôi rành vùng này vì tôi đã từng tham dự hầu hết các cuộc hành quân Bình Tây thời 1968-1969.
Ngày 31 tháng 5 năm 1969 tôi đã lãnh một vết thương bể xương vai, Trung sĩ Attaya, Cố Vấn Mỹ của đơn vị tôi cũng bị vỡ xương hông. Vị trí mà Attaya và tôi bị thương năm 1969 chỉ cách xa làng Thượng này chừng 7 hay 8 cây số hướng Đông Nam.
Tôi đóng chốt trên ngọn đồi ở cái dốc cuối làng có cây xanh lúp xúp, rất tiện cho việc quan sát. Nếu có biến động thì chỉ cần tụt xuống rừng tre là chúng tôi có thể thoát thân ngay.
Tôi thấy dưới chân đồi, hướng Tây có con đường ẩn mình trong rừng tre. Tôi dự trù ngày mai sẽ xuống thám sát con đường này.
Trời ngả bóng chiều, tôi chợt nghe có tiếng động cơ từ xa vọng về...
Chẳng mấy chốc tiếng xe đã tới chân đồi. Chúng tôi nín thở, núp mình trong bụi.
Một chiếc xe tank lội nước PT76 nhanh như một cánh én, vừa xẹt qua đã khuất bóng.
Tôi thở dài tiếc rẻ, vì không kịp chụp một tấm ảnh nào.
Nhưng hình như tiếng động cơ đã không dứt mà càng lúc càng lớn hơn. Hóa ra có tới 2 chiếc tank T54 đang nối đuôi nhau đi tới!
Theo đúng sách vở, T54 di chuyển lúc nào cũng phải có đôi, cách nhau một khoảng khá xa để dễ bề yểm trợ cho nhau. Nhưng trước mắt tôi, 2 cái xe này lại chạy cách nhau không tới chục thước. Chúng di chuyển một cách thật là chậm rãi và nặng nề.
Có lẽ địch ỷ y vùng này có rừng tre bao phủ nên không cần ngụy trang và cũng chẳng cần giữ đội hình?
Tôi bấm máy, một lần, rồi hai, ba lần, 2 chiếc T54 mới khuất dạng. Chúng tôi tiếp tục nằm chờ...
Sau khi 3 chiếc chiến xa địch đi qua chừng 10 phút thì một toán cán binh chính quy Cộng Sản xuất hiện, bọn họ có 3 người. Cắc cớ làm sao! Vừa tới cuối làng tên cán binh đi đầu chợt la lên:
– Các đồng chí ơi! Nghỉ một tý đi! Tớ thèm thuốc quá!
Rồi 3 anh bộ đội ngừng lại, chậm rãi tháo ba lô, sà ngay xuống bãi cỏ dưới chân đồi.
Chỉ vài phút kế đó, một bếp lửa rực rỡ bùng lên.
Trên đồi, tai tôi vừa nghe tiếng điếu cày rít, “Tít! Tít!” thì mũi tôi cũng bắt đầu ngửi thấy mùi thuốc lào hăng hắc..
Đúng vào thời điểm chúng tôi chuẩn bị rút êm về triền đồi hướng Đông thì,“Khụ! Khụ! Khặc! Khặc! Khặc!....”
Lý do xảy ra tai nạn này chỉ vì gió đang thổi từ Tây Bắc xuống Đông Nam, gió mang theo khói thuốc lào, khói thuốc lào làm cho ông Mỹ Humphrey bị nghẹt thở, tức ngực. Ông cố vấn đã gắng bịt mũi, bịt mồm mà chỉ mấy giây sau đã đành ôm ngực, phát ra một tràng ho khan!
Trời ơi! Tiếng ho của ông ta lúc này nghe sao mà giống như tiếng sấm long trời lở đất!
Vậy là! Chẳng đặng đừng! Tôi đứng lên, phất tay chỉ xuống chân đồi. Nhanh như máy, 7 khẩu M16 lao xuống dốc. “Cành! Cành! Cành!”
– “Xung phong! Xung phong! Go! Go!”
– “Khụ! Khụ! Khặc! Khặc!”
Tiếng súng nổ, tiếng hô xung phong cùng tiếng ho sặc sụa đã phá tan cái yên tĩnh của một góc rừng chiều.
Tội nghiệp cho anh chàng Humphrey! Không thể đưa tay bịt miệng vì hai tay anh đang bận ôm súng bóp cò!
Giờ phút đó, cổ họng anh ta chắc là ngứa ngáy lắm? Anh ta cứ vừa bắn, vừa chạy, vừa ho một cách thật là... tự do!
Qua đống lửa, ra khỏi vạt tranh cuối làng, tôi tiến lên dẫn đầu, sau tôi là 2 anh Mỹ, Hạ sĩ Yêng đi đoạn hậu.
Quẹo về phải, theo hướng chính Bắc. Cứ đội hình hàng dọc, chúng tôi chạy thục mạng.
Vượt một eo núi, tôi nhìn thấy đỉnh Ngok Hồi. Tôi cho lệnh đứng lại để kiểm kê quân số. Một trăm phần trăm toàn mạng! Rồi tôi bật cười thành tiếng, “Ừ! Hì! Hì! Hì! Địch chỉ có 3 thằng, chắc chết cả 3! Có ai đuổi theo mình đâu mà không toàn mạng một trăm phần trăm?”
Hạ sĩ Yêng lò dò tới chỗ tôi ngồi rồi đưa cho tôi một cái ba lô bộ đội. Ngạc nhiên, tôi hỏi:
– Cái gì thế?
– Em xung phong sau cùng, nhìn thấy 3 thằng chết, 3 khẩu súng, 3 cái ba lô, em nhặt một cái ba lô cho Anh Hai coi xem có gì lạ không?
Viễn Thám Viên tên Yêng này quả là chuyên nghiệp và xuất chúng! Tôi thường dặn thuộc cấp mỗi khi họ sắp vào vùng, “Ưu tiên lấy tài liệu! Không cần lấy súng!” Hôm nay thằng Yêng còn xuất sắc hơn cả Anh Hai của nó!

Mở ba lô ra, tôi tìm được một quyển nhật ký ghi những kỷ niệm gia đình của người lính Bắc Việt này khi anh ta còn ở ngoài Thái Bình. Tôi đã quên tên anh ta. Có việc tôi mãi nhớ là anh ta vừa xâm nhập vào Tam Biên chỉ 3 ngày trước đó. Trên giấy tờ có ghi rõ anh ta là cán binh của đơn vị có tên K1, E52, F320A. Điều này cho tôi biết Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 52 của Sư Đoàn 320A đang có mặt tại đây.
(Ghi chú của tác giả: Đầu năm 1972, khi xâm nhập vào Tây Nguyên thì Sư Đoàn F320A Cộng Sản Bắc Việt có 3 trung đoàn bộ binh mang tên E 48, E 52, và E 64. Sau chiến dịch mùa Hè năm 1972 thì E 52 bị điều động xuống Bình Định để tăng cường cho Sư Đoàn 3 Sao Vàng).
Tôi vỗ vai Yêng:
– Yêng giỏi! Yêng giỏi!
Thằng Yêng cảm động, nhìn tôi. Ánh mắt nó tràn đầy yêu thương.
Tôi mở tấm bản đồ, nhìn vào đoạn đường mình đã đi qua, lại so với địa điểm mà 3 chiếc tank của địch xuất hiện, tôi mới phát giác ra rằng con đường mà tôi gặp ngày 26 tháng Chạp thì xuất phát từ Căn Cứ Địa 609 nằm trên đất Lào. Còn vị trí 3 chiếc tank của địch xuất hiện chiều 27 tháng Chạp lại đi theo hệ thống đường xuất phát từ Căn Cứ Địa 701 nằm trên đất Cao Miên!
Suối Dak Kal cách suối Dak Hơniang tới hơn 3 cây số.
Mấy ngày nay tôi đã phí công do thám trục đường dọc thung lũng Dak Hơniang mà chẳng thấy dấu vết gì của xe tank, trong khi đó cơ giới địch cứ nghênh ngang phun khói trong rừng tre Dak Kal.

Đêm 27 Âm Lịch trời quá lạnh. Thấy sương mù đặc quánh, tôi cho phép đốt một đống lửa giữa rừng để anh em sưởi ấm.
Ngày 28 tháng Chạp, đúng 4 giờ sáng, đống lửa bị xóa dấu vết, phi tang.
6 giờ sáng tôi dẫn quân đi tìm một sườn đồi để làm bãi bốc. Bãi bốc mà tôi chọn là nương rẫy của một buôn Thượng đã bỏ hoang có tên là Pơlei Bungai.
8 giờ sáng, Humphrey bắt đầu vào tần số gọi chiếc O2 đang bay tuần tra biên giới để chuyển đơn xin trực thăng. Chừng 2 giờ sau, hướng Đông xuất hiện 2 UH1 và 2 gunship.
Tôi được biết, trên C&C là Trung tá Cố Vấn Trưởng của Biệt Động Quân/Quân Khu 2 và Trung sĩ thông dịch viên Trương Tô Hà.
Trực thăng bay vòng vòng trên cao và cho tôi hay họ đã nhận được tín hiệu bằng gương chiếu của tôi. Chiếc tàu bốc quân sẽ vào từ hướng Bắc.
Đúng lúc chiếc UH1 còn cách bãi bốc chừng 200 thước thì phòng không nổ giòn!
Hai vị trí 12.7 ly của địch nằm trong hốc núi ngay sau lưng bãi trực thăng mà tôi đã chọn!
Chiếc UH1 trúng đạn, chúi xuống bãi lau bên bờ Nam của Dak Hơmong!
Tôi chỉ nghe tiếng động cơ “Lụp! Bụp!” một lúc rồi im. Trực thăng rơi, nhưng không cháy.
Vì ở xa, nên tôi không rõ thiệt hại đã xảy ra như thế nào. Tôi cũng không biết có ai chết hay bị thương.
Ngay giờ phút đó, 2 gunship liền bốc lên thật cao rồi chúc xuống bắt đầu bắn phá.
Chiếc C&C cũng vội vàng hạ xuống bờ suối để tiếp cứu phi hành đoàn của chiếc máy bay bị nạn.
Trung tá Cố Vấn Trưởng Biệt Động Quân/Quân Khu 2 báo cho tôi hay cuộc bốc quân hôm nay tạm gián đoạn, chúng tôi phải tìm một bãi bốc khác an toàn hơn.
Thoáng chốc, 3 chiếc trực thăng đã biến dạng ở chân trời hướng Đông.
Bị lộ, tôi cho quân tụt xuống đồi, rồi theo con đường xe be dưới chân núi chạy về hướng Đông.
“Tóc! Tóc! Tóc!” Sau lưng tôi có tiếng súng!
Quay đầu lại để quan sát, tôi thấy hơi xa, dưới triền đồi, có cả mấy chục người đang leo lên bãi đáp mà chúng tôi vừa rời đi.
“Gâu! Gâu! Gâu!...” Trời ơi! Có chó! Có chó là có du kích! Du kích dẫn đường, chính quy theo sau! Thế là chết cha tụi tui rồi!
Chạy được chừng 200 mét, một ý nghĩ lóe lên, tôi cho quân dừng lại. Tôi mở cái túi đeo trên dây ba chạc lấy ra ve thuốc Penicillin bằng thủy tinh, trong đó chứa đầy bột mắm ruốc đã hong khô. Mùi mắm ruốc có thể làm mũi chó bị điếc, ngửi mùi này, chó sẽ mất khả năng đánh hơi tìm mồi.
Năm 1968 ông Trung sĩ Ngọ đã chỉ cho tôi cái công dụng vô song của mắm tôm là có thể làm mất đi thính giác của cọp, beo, heo, gà, và chó...
Rắc hết lọ bột mắm tôm, tôi ra dấu cho anh em dàn hàng ngang nhào xuống triền dốc bên lề trái.
Chỉ lăn tròn vài chục thước thân hình tôi đã nằm im trên mặt một con đường mòn cũ. Đường mòn này chạy song song với đường xe be ở trên kia.
Lúc này tôi mới chứng tỏ bản lĩnh của “Anh Hai”: Thay vì tiếp tục chạy về Đông, tôi cho lệnh chạy ngược lại, về Tây. Tôi chạy về Tây có nghĩa là ngược chiều với đoàn người đang truy sát mình. Chúng nó càng đi xa về Đông chúng tôi càng xa sự đe dọa.
Chẳng bao lâu sau, đường xe be phía trên kia đã có tiếng thúc quân bằng tiếng Bắc:
– Khẩn trương! Khẩn trương! Các đồng chí nhanh chân lên! Thấy tụi nó thì các đồng chí cứ bắn chết hết! Không cần bắt sống thằng nào cả!
Trước mặt tôi có đoạn đường đất lở với dây leo che kín như một cái hang, tôi cho anh em chui vào hang để ẩn mình, chờ cho tụi địch đi qua.
Chỉ 2 phút sau, trên kia, tiếng chân người đã bớt dồn dập, tiếng đối đáp léo nhéo cũng nhỏ dần....
Bỗng, “Lộp bộp! Lộp bộp!..” có tiếng nước rơi trên đầu! Hóa ra 1 thằng địch đang dừng chân bên đường để đái.
Nước đái nóng hổi, bốc khói của thằng Việt Cộng đang tưới trên nón tôi và nón Hạ sĩ Ba. Tôi thấy mặt ông Hạ sĩ Biệt Động Quân nhăn nhó như đang đau khổ vô cùng. Tôi cau mày, hất đầu một cái, rồi kéo Hạ sĩ Ba đứng lên. Hai khẩu M16 đồng loạt nhả đạn, ngay lập tức thằng Việt Cộng đang đứng đái lên đầu tôi và Hạ sĩ Ba đã trở thành một liệt sĩ “Sinh Bắc Tử Nam”.
Tôi thấy xác thằng địch nằm bật ngửa, nửa trên mặt đường, nửa dưới mép đất lở, chiếc nón cối trên đầu nó đã vỡ nát. Những mảnh nón cối bị vướng vào dây leo, cứ lắc lư, đong đưa...
Sau khi bắn cạn 20 viên M16, tôi vội thay băng đạn mới rồi lớn tiếng hô to: “Nhảy! Nhảy! Jump! Jump!” Tiếp đó, tôi quay người nhắm mắt phóng xuống dốc núi. 6 người còn lại cũng nhanh chân phóng xuống theo.
Mở hết tốc lực của đôi chân, chúng tôi băng qua đồng cỏ tranh, vượt qua con suối lớn Dak Hơniang, rồi chui vào rừng lau nằm dang hai tay mà thở.
Thở đã đời một hồi thì hết mệt. Tôi cho quân tiếp tục đi.
Trời bỗng đổ mưa to, không nhìn thấy gì, đoàn người lại chui vào rừng lau. Lại đội hình vòng tròn, chúng tôi không nằm, mà ngồi, súng để trên đùi, không chia phiên gác, vì có ai ngủ được đâu!
Cuối cùng, mưa cũng tạnh và trời cũng sáng...

Ngày 29 tháng Chạp Âm Lịch, vất vả nửa ngày chúng tôi mới vượt qua một khu rừng tre gai và một cái đầm lầy. Tới trưa thì chân của chúng tôi rã rời, không tài nào bước nổi. Vừa ngồi xuống nghỉ, chưa được bao lâu thì mặt trời đã biến mất!
Đêm 29 tháng Chạp Âm Lịch trời đầy sao và không có sương mù. Chúng tôi cứ nhắm cái đèn đỏ trên đỉnh cột ăng ten của phi trường Ben Het rồi vẹt cỏ mà đi tới.
Hết lên dốc, xuống đồi, qua rừng, qua suối, cuối cùng chúng tôi cũng đặt chân lên Tỉnh Lộ 512.
Tôi tin chắc rằng phi trường Ben Het không hề có hàng rào và mìn bẫy nên cứ hiên ngang leo lên đầu phi đạo hướng Tây rồi lăn quay ra ngủ sau khi báo cho ông Thiếu tá Chữ biết rằng tôi đang ở đâu.
Sáng 30 tháng Chạp, mặt trời vừa lên, chiếc trực thăng riêng của Tư Lệnh Quân Đoàn 2 đã hạ xuống phi trường Ben Het. Hành khách độc nhất của chuyến bay chính là ông Trung tá Trưởng Phòng 2 Quân Đoàn 2. Tôi trao cái máy ảnh và tấm bản đồ có ghi lộ trình mà tôi đã đi qua cho ông Tiếu.
Sau khi nghe tôi tường trình lại một cách chi tiết toàn bộ diễn tiến của cuộc thám sát vừa qua, ông Tiếu bèn ôm vai tôi rồi nói nhỏ:
– Nghe tin chuyến đi thành công, anh em an toàn trở về Tư Lệnh mừng lắm! Chắc chắn sau khi thấy kết quả chuyến đi này của Long thì tụi Mỹ mới chịu tin rằng chiến xa Việt Cộng đang hiện diện trong khu vực này.
Thì ra mục đích chuyến nhảy toán cuối năm của chúng tôi là chứng minh cho người Mỹ biết chuyện chiến xa địch đã có mặt trong vùng Tam Biên là có thật.
Trước đây người Mỹ cứ khăng khăng không hề có chuyện này.
Sau khi bắt tay tôi và Đại úy Humphrey, ông Trung tá Trưởng Phòng 2 vội vàng leo lên tàu bay đi.
Ngày 30 tháng Chạp Âm Lịch, 2 giờ chiều trực thăng chở 10 Viễn Thám Viên Mỹ Việt của Biệt Động Quân Vùng 2 đáp xuống bãi đáp có tên “Hill 1001” nằm sau bảng hiệu “Thành Quang Trung” nơi cổng chính của quân đoàn.
Trung tướng Ngô Du và vài ba ông sĩ quan tham mưu của Quân Đoàn 2 đã có mặt đón chờ chúng tôi.

Tôi còn nhớ, năm 1970, ngay ngày nhậm chức Tư Lệnh Quân Đoàn 2 và Quân Khu 2, Tướng Ngô Du đã cho lệnh hạ bệ cái bảng “Thành Pleime” ở cổng chính Bộ Tư Lệnh và thay thế bằng cái bảng mới mang tên là “Thành Quang Trung”. Sau cổng chính là điếm canh, đối diện điếm canh có một sân để trực thăng hạ cánh.
Trước đây, vị trí này chỉ là khoảng đất trống phủ bằng cát, rộng cỡ một sân bóng chuyền, ở giữa là một chữ “H” bằng vỉ sắt, sơn trắng. Chữ “H” chỉ có ý nghĩa là Trực thăng (Helicopter).
Cuối năm 1971, Tướng Ngô Du đã cho sơn phết lại cái bãi đáp này rồi đặt tên cho nó là “Hill 1001”.
Trung tướng Tư Lệnh làm việc này với chủ ý để ghi nhớ chiến thắng mùa mưa năm 1971. Do chiến thắng này mà ông đã được vinh thăng cấp trung tướng.
Tuy vậy, ít người biết “Hill 1001” có ý nghĩa gì.
“Hill 1001” là tiếng Mỹ, dịch ra tiếng Việt là “Đồi 1001”.
Đồi 1001 là nơi có Căn Cứ 6. Căn Cứ 6 nằm trên đỉnh núi Ngok Ring Rua có cao độ 1001 mét.
Mùa Hè 1971 đã xảy ra những trận giao tranh vô cùng ác liệt trong vùng xung quanh Căn Cứ Hỏa Lực số 6, trong núi Ngok Tang, trong núi Ngok Long Roua, trong núi Ngok Bear Beang, và trong những thung lũng Dak Drol, Dak Kal, Dak Klong.
Hàng trăm đồng ngũ của tôi đã ngã xuống. Để ghi lại công lao hy sinh của bạn bè tôi năm ấy, hiện giờ chỉ còn cái sân trực thăng trải cát mang tên “Hill 1001”.
Hôm nay kết thúc một lần nhảy toán cuối năm, chúng tôi cũng hiện diện ở đây để nhận 10 tấm huy chương, 10 cái vỗ vai và 10 cái bắt tay.
Mai đây sẽ chẳng còn ai nhớ chuyện này.

Tối 30 tháng Chạp Âm Lịch trong văn phòng của tôi lại có 8 người lính Việt Nam và 2 người lính Mỹ ngồi quây quần trên nền gỗ.
Ở giữa vòng tròn người là một mâm rau thơm, rau sống với 4 con gà luộc, gần chục ổ bánh mì cùng 2 vò rượu chát Napoleon. Tôi nâng ly, mở lời:
– Hôm nay để đón mừng Ông Táo về lại trần gian, tụi mình sẽ chơi hết 2 bình Napoleon này!
10 anh lính Việt,Mỹ, Kinh,Thượng lại cùng giơ tay hô to:
“Dô!... Dô!... Go!... Go!...”
Thằng Yêng đã uống tới ly rượu thứ tư hay thứ năm rồi mà vẫn chưa say. Nó còn bắt nhạc sĩ Lương Thìn đệm đàn cho nó hát bài “Người yêu của lính”.
Thấy giọng ca của nó cứ lơ lớ như thể là nó đang ca bằng tiếng Mỹ, tôi bèn hỏi Humphrey:
– Ông có hiểu thằng Yêng đang hát gì không?
Humphrey gật đầu:
– Hiểu chứ! Nó đang ca tụng vợ nó đẹp!
– Làm sao ông biết nó đang khen vợ nó đẹp?
– Nhìn ánh mắt chớp chớp của nó và cái miệng tươi cười của nó mà tôi biết!
Tôi chịu thua, đành vỗ vai Humphrey giống như cách đây mấy ngày, tôi đã vỗ vai thằng Yêng:
– Humphrey giỏi! Humphrey giỏi!

Humphrey mở cửa văn phòng, nơi đó anh đã để sẵn 3, 4 két bia. Humphrey nhét vào tay mỗi người chúng tôi một lon Budweiser bông trắng rồi cao giọng:
– Mời các bạn say trọn đêm nay! Hãy uống để tiễn tôi lên đường! 2 ngày nữa tôi sẽ rời xa các bạn.Tôi đã mãn nhiệm kỳ. Tôi phải về Mỹ!
Humphrey bấm cái nút Play của chiếc máy Cassette để trên mặt bàn. Khi tiếng đàn, tiếng trống, tiếng kèn, bắt đầu phát ra từ cái loa của Cassette thì anh em cũng tự động đứng lên vỗ tay theo nhạc.
Phút chốc, cường độ âm thanh trong phòng đã lớn tới mức làm cho cái bóng điện treo lơ lửng dưới trần nhà phải rung rinh.
Tôi không còn nhớ lúc đó lòng tôi đã vui hay đã buồn. Có thể là buồn, vui lẫn lộn.
Tôi buồn vì sắp đứng trước một cuộc chia ly.
Tôi vui vì được chia sẻ hạnh phúc với người bạn Đồng Minh đã có thời gian hơn nửa năm cùng tôi đồng cam cộng khổ.
Với tấm vé “One way ticket” trên tay, 2 ngày nữa, bạn tôi sẽ bay qua biển để về sum họp với gia đình.
Và từ ấy, bạn tôi sẽ không bao giờ quay lại....

Vương Mộng Long
January 15th, 2026

Không có nhận xét nào: