Lời người viết: Sáng nay, khi đi dạo với chú Wabi ở một công viên gần nhà, người viết tình cờ chụp được bức ảnh bên cạnh. Về nhà, nhìn lại, thấy một bức tường chắn ngang và đường cong của lối mòn. Ba hình ảnh chợt nảy ra trong đầu: - Nút nghẽn – Khúc quành – Nghị quyết 23 vừa mới ra lò. Tôi nghĩ ngay câu: “Tôi đã rời Việt Nam, nhưng Việt Nam chưa bao giờ rời khỏi tôi.”Và bài viết dưới đây… ra lò trong vòng 5 tiếng đồng hồ.
<!>
Xin nói ngay, Nghị quyết 23 chưa chắc là một “nút nghẽn” của quê hương; nó có thể là một “khúc quành” của dòng sông định mệnh, nhưng khúc quành ấy sẽ đưa con sông về biển lớn hay vào một nhánh cụt, còn tùy cách Việt Nam đối xử với chính người Việt của mình. (người viết dùng chữ “khúc quành” là nói theo tác giả Doãn Quốc Sĩ qua quyển “Giòng Sông Định mệnh”).
Trước hết, cần xác định chính xác văn bản Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, do Tổng Bí thư CS, Chủ tịch nước Tô Lâm ký. Đây không phải Nghị quyết 23-NQ/TW năm 2008 về văn học, nghệ thuật, hai văn bản trùng số nhưng hoàn toàn khác nội dung.
1- Vì sao đây là một “khúc quành”?
Bởi vì chỉ riêng việc Bộ Chính trị ban hành một nghị quyết mới, ở cấp cao nhứt của quyền lực, nhắm vào người Việt ở nước ngoài, đã cho thấy vấn đề người Việt hải ngoại không còn có thể được xem đơn thuần như một vấn đề đối ngoại hay vận động kiều hối nữa. Nó liên quan đến một câu hỏi lớn hơn nữa, nhằm định hình một câu hỏi quan trọng đang làm cả Bộ chính trị cần phải suy nghĩ lại là, Ai là người Việt Nam trong thế kỷ XXI?
Nếu, người Việt Nam không chỉ được xác định bởi nơi cư trú, mà còn bởi nguồn gốc, tình cảm, trách nhiệm và sự đóng góp đối với đất nước, thì Nghị quyết 23 có thể mở ra một suy nghĩ, một đường hướng mới.
Nhưng nếu việc “thu hút người Việt ở nước ngoài” không ngoài mục đích được hiểu theo nghĩa thu hút nguồn vốn, chất xám, quan hệ quốc tế và kiều hối, trong khi những khác biệt về lịch sử, chính kiến và quyền tham gia xã hội vẫn là những bức tường khó vượt qua, thì khúc quành ấy sẽ trở thành nút nghẽn.
2- Cái nút thật sự không nằm ở người Việt hải ngoại
Nút nghẽn không phải là khoảng cách địa dư giữa Việt Nam và cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Khoảng cách ấy đã bị mạng xã hội, kinh truyền thông, điện thoại…và thế hệ trẻ xóa đi rất nhiều. Nói trắng ra, nút nghẽn nằm ở khoảng cách tâm lý và chính trị. Một người Việt ở Mỹ, Canada, Úc hay Pháp có thể cách Việt Nam hàng chục ngàn cây số nhưng vẫn có thể rất gần quê hương. Ngược lại, một người đang sống ngay tại Việt Nam có thể vẫn cảm thấy xa quê hương vì họ không được quyền nói điều mình nghĩ.
Vì vậy cho nên, bài toán căn bản không phải là kêu gọi “Làm thế nào để người Việt hải ngoại quay về?” mà phải là:“Làm thế nào để người Việt ở bất cứ nơi đâu cảm thấy rằng quê hương cũng là CỦA MÌNH?”
Đây là hai cách suy nghĩ và tiếp cận hoàn toàn khác nhau.
3- Người Việt hải ngoại là tài sản quốc gia hay mối đe dọa thể chế?
Đây chính là vấn đề chúng ta cần bàn với nhau. Một quốc gia tự tin và trưởng thành sẽ nhìn cộng đồng của mình như một nguồn lực đa dạng, một tài nguyên nhân sự của quốc gia. Nếu một thể chế thiếu tự tin sẽ tạo ra một chính sách “phân loại” như phân loại người ủng hộ, người im lặng, người bất đồng, người chống đối v.v…Và nguy hiểm nhất là khi bất đồng chính kiến bị đồng nhất với việc chống lại quốc gia.
Bởi vì một khi đã xảy ra sự suy nghĩ đồng nhất ấy, thì chính sách đối với người Việt ở nước ngoài sẽ luôn có một giới hạn vô hình, tuy không có trong văn bản, nhưng rất rạch ròi:“Anh sẽ được hoan nghênh nếu anh đóng góp thuận theo chiều hướng của Đảng, nhưng phải cẩn thận nếu anh muốn nói khác đi. Watch out!”
Nếu Nghị quyết 23 vượt qua được giới hạn tâm lý này, nó sẽ thực sự là một bước ngoặt. Nếu không, nó chỉ là một chính sách thu hút nguồn lực, chứ chưa phải là một chính sách hòa giải dân tộc đúng nghĩa.
4- Nghị quyết 23 có thể là “khúc quành” theo hai hướng
· Hướng thứ nhất: Khúc quành sẽ mở ra biển lớn, nếu Việt Nam thực sự chuyển từ suy nghĩ luôn luôn muốn quản lý người Việt ở hải ngoại qua suy nghĩ, kết nối tất cả nguồn nhân lực Việt Nam trên toàn thế giới”; lúc đó, sẽ là một thay đổi rất lớn. Và chỉ khi đó, người Việt hải ngoại không còn được nhìn như là một nguồn kiều hối, hay nhà đầu tư, hoặc chuyên gia kỹ thuật, hay là những cầu nối ngoại giao. Mà người Việt hải ngoại được xem như là một thành phần của dân tộc Việt Nam, với đầy đủ sự đa dạng về quan điểm, kinh nghiệm và ký ức lịch sử. Đó mới là sức mạnh tổng hợp thực sự cho đất nước.
· Hướng thứ hai: Khúc quành sẽ trở thành nút nghẽn dân tộc, nếu chính sách vẫn đặt một điều kiện ngầm, bất thành văn là muốn gần quê hương thì trước hết phải đồng thuận với quan điểm chính trị của thể chế. Nếu nghĩ như vậy, chính sách của Nghị quyết 23 sẽ gặp giới hạn. Bởi vì thế hệ thứ hai, thứ ba của người Việt hải ngoại sẽ không còn chấp nhận kiểu quan niệm cứng ngắt ấy nữa. Vì, họ sẽ hỏi một câu rất đơn giản:“Tại sao tôi phải chọn giữa quê hương và quyền được suy nghĩ khác?” Và, chắc chắn, những người đại diện cho thể chế, sẽ không thể nào trả lời được câu hỏi trên; và, theo thời gian, sợi dây tình cảm với quê hương sẽ yếu dần, đặc biệt trong thế hệ trẻ. Từ đó, họ sẽ hoàn toàn xa rời Đảng dù sẽ còn bao nhiêu Nghị quyết… mời gọi nữa.
5- Và đây mới là điểm bắt đầu của Nghị quyết 23
Chúng ta chưa nên vội vàng kết luận rằng Nghị quyết 23 là tốt hay xấu. Mới vừa được ban hành ngày 2/8/2026, văn bản chính thức xác nhận đây là nghị quyết về công tác người Việt Nam ở nước ngoài và có hiệu lực ngay từ ngày ban hành vừa … ráo mực! Do đó, điều quan trọng hơn văn bản là chúng ta sẽ nhìn Nghị quyết sẽ được thực hiện như thế nào?
Người viết có năm câu hỏi tự đặt ra cho chính mình, và cho những tác giả của bản Nghị quyết là:
· Một, người bất đồng chính kiến có được đối xử bình đẳng hơn không?
· Hai, người từng rời Việt Nam vì những lý do lịch sử khác nhau có thực sự được nhìn nhận như những thành phần của dân tộc hay không?
· Ba, người Việt hải ngoại có thể đóng góp mà không phải “đổi lấy” sự im lặng chính trị hay không?
· Bốn, thế hệ trẻ Việt Nam ở nước ngoài có được xem là đối tác của quê hương hay chỉ là đối tượng để “thể chế” vận động?
· Năm, quan trọng hơn cả, Việt Nam có đủ tự tin để chấp nhận một câu rất đơn giản:“Yêu nước không bắt buộc phải đồng ý với chính quyền.”
Nếu năm câu hỏi ấy được trả lời một cách rốt ráo, thành tâm, và tích cực, người viết sẽ tình nguyện làm người đi vận động, cổ súy cho người Việt khắp nơi tham gia vào việc phát triển Việt Nam tích cực hơn nữa,
6- Tạm kết
Cho đến hôm nay, có thể nói Nghị quyết 23 đang còn là một “khúc quành”, nhưng chưa thể biết đó là khúc quành dẫn ra biển lớn hay dẫn vào một dòng nước tù, dù trong quá khứ, Việt Nam đã từng tuyên bố là… đã đi ra biển lớn nhiều lần, hơn 20 năm qua rồi.
Nghị quyết có thể trở thành một trong những bước ngoặt quan trọng nhất trong chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài nếu nó giúp tháo gở tâm lý nghi kỵ lịch sử và xây dựng một quan niệm rộng và mở hơn về cộng đồng dân tộc. Nhưng nó cũng có thể trở thành một nút nghẽn mới nếu sự “đoàn kết dân tộc” chỉ được hiểu là sự quy tụ quanh một lập trường chính trị duy nhất do thể chế định đoạt.
Một dòng sông không trở nên mạnh vì nó chỉ chảy trong một lòng sông. Nó trở nên mạnh vì biết tiếp nhận những dòng nước khác nhau để cùng ra biển lớn. Việt Nam cũng vậy. Sức mạnh của dân tộc không nằm ở chỗ mọi người Việt đều nghĩ giống nhau, mà ở chỗ những người Việt khác nhau vẫn có thể cùng nhận quê hương là của mình. Nếu Nghị quyết 23 làm được điều đó, nó là khúc quành của lịch sử. Nếu không, nó sẽ trở thành một nút nghẽn khác trên dòng sông Việt Nam.
Cá nhân tôi, tôi không cần chờ Nghị quyết 23 để được “trở về” Việt Nam. Bởi vì, trong tận cùng tâm khảm, tôi chưa bao giờ rời khỏi Việt Nam. Sự việc tôi rời khỏi năm 1982 ấy, là lãnh thổ Việt Nam. Nhưng cái mà tôi đã mang theo là “Việt Nam của tôi” và tôi vẫn còn giữ cho đến bây giờ, năm 2026, và chắc chắn sẽ còn giữ cho đến hơi thở cuối cùng!
Và Việt Nam của tôi ấy không nằm trong visa, trong hộ chiếu….mà nó nằm trong cách tôi nhớ, cách tôi đau, cách tôi suy nghĩ và cách tôi vẫn muốn đất nước tôi tốt hơn.
Xin xác nhận một lần nữa là tôi không phải một người Việt Nam ở nước ngoài, mà tôi là một người Việt Nam đang đứng ở một nơi khác, cách xa Quê hương hàng ngàn dặm trường.
Nhưng tôi ĐANG ở Việt Nam đây. Điều đó có nghĩa là, tôi chưa bao giờ thôi là một phần tử của Việt Nam, tôi chưa bao giờ thôi nghĩ ngợi về Việt Nam, tôi chưa bao giờ thôi đau đáu vì Việt Nam, và chừng nào tôi còn nói về tương lai Việt Nam, tương lai của các thế hệ tiếp nối, chừng đó tôi vẫn còn … ĐANG ở Việt Nam.
Thiết nghĩ, đó chính là điều mà mọi nghị quyết về người Việt Nam ở nước ngoài phải ghi nhận trước tiên.
Mai Thanh Truyết
Con đường Việt Nam
Houston – Tháng 8 - 2026
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét