Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2026

NGHE SẦU RIÊNG CHÍN TỚI - Fb Trần Kiêm Đoàn


Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa. Việt Nam và nước Mỹ cách nhau mười bốn múi giờ; còn tôi, suốt hơn nửa đời người, vẫn sống giữa hai múi giờ của quê hương và hoài niệm. Nghe tôi nhắn tin và gọi điện thoại cho bằng hữu cùng khách mời để đinh hoãn cuộc “Hội Ngộ Mùa Thu” kỳ niệm sinh nhật 80 tuổi của tôi đã được chuẩn bị khá chu đáo vào ngày 10 tháng Tám, “chiếc dép bên kia” của tôi bất ngờ lên tiếng muốn kéo tôi đồng hành về quê thăm người thân đang hấp hối. 
<!>
Tôi đồng ý không điều kiện vì không có suối nguồn tình cảm nào dâng trào mãnh liệt hơn điểm hẹn của dấu mốc bên này và bên kia thế giới.
Rồi qua 15 giờ bay liên tục từ San Francisco về Tân Sơn Nhất; đợi 8 tiếng để nối chuyến bay tiếp lên Buôn Ma Thuột nghĩa là mất liên tục 24 tiếng đồng hồ cho một vòng đi. Tôi đến nơi, điểm giao đời giữa hai đầu sống chết đã làm dịu đi cái vất vả hành trình.
Buôn Ma Thuột, một vùng đất cao nguyên rất hào hiệp và bao dung của suốt dòng lịch sử Nam tiến. Nơi đây là vùng đất tụ cho những dòng người lập nghiệp đến từ khắp mọi miền đất nước.
Đây là lần thứ năm tôi ghé đến vùng đất này trong gần nửa thế kỷ tha phương. Bốn lần trước, đây vẫn là vùng đất Cà (người địa phương gọi gần gũi thay cho Cà - Phê); nhưng lần này mùi cà phê ngan ngát đường phố và núi rừng đã thoảng mùi nồng ngọt mà ngai ngái hăng hăng làm nhăn mũi người chưa quen của sầu riêng đang ở thời cao điểm của mùa thu hoạch.

Tám mươi năm tuổi đời, nếu đem đếm bằng ngày tháng thì dài; nhưng khi đứng giữa một vườn sầu riêng đang mùa trái chín trên cao nguyên Đắk Lắk, nhìn những cành cây oằn xuống vì quả, tôi bỗng thấy đời người cũng chỉ như một mùa cây trái: nảy mầm, xanh lá, trổ hoa, kết quả, rồi một ngày lặng lẽ trả tất cả lại cho đất trời.
Năm nay, người trồng sầu riêng trên cao nguyên vui vì hai phần ba đất đồn điền cà phê đã chuyển sang trồng sầu riêng từ năm, bảy năm trước nay được mùa, sai trái.
Đi qua những vùng ngoại ô Buôn Ma Thuột, những khu vườn nối tiếp nhau, màu xanh thẫm trải dài dưới bầu trời mùa mưa khiến tâm hồn dịu mát. Trên cành, từng trái sầu riêng gai góc, nặng trĩu, được buộc dây cẩn thận. Gai nhọn là sự lỡ tay của thiên tài tạo hóa nên nhân gian đã được đền bù bằng những múi ngọt bên trong.
Buôn Ma Thuột cũng đang chuẩn bị cho lễ hội Sầu Riêng giữa thành phố. Đây là lần đầu tiên sản phẩm sầu riêng trở thành sức mạnh kinh tế vượt trội hơn cả sản phẩm cà phê đã hàng trăm năm qua có vai trò chủ lực trong hàng nông phẩm của vùng cao nguyên Đặk Lắk Buôn Ma Thuột.

SẦU RIÊNG.
Một cái tên nghe buồn quá!
Sầu đã buồn, lại còn riêng e cũng lẻ loi.
Nhưng trái sầu riêng thì chẳng có vẻ gì buồn cả. Nó lớn lên giữa nắng gió nhiệt đới, vỏ đầy gai nhọn, bên trong lại mềm, vàng, thơm và ngọt. Đến mùa, nó làm vui cả nhà vườn, thương lái, người mua kẻ bán; thậm chí trở thành một sản vật có giá trị của vùng đất cao nguyên.
Vậy tại sao lại gọi là “sầu riêng”?
Câu hỏi tưởng nhỏ ấy bỗng theo tôi suốt mấy ngày trên vùng đất này.
Người ta kể nhiều truyền thuyết rất đẹp về một mối tình dang dở, về người mất kẻ còn, để rồi “sầu riêng” trở thành nỗi sầu của riêng một người.
Truyền thuyết có dấu ấn đậm nét trong lòng tôi là câu chuyện của một mối tình nghèo thuở ban đầu trái sầu riêng du nhập vào nước ta. Đó là thời kỳ khi những nhóm người Việt bắt đầu đặt chân và định cư tại vùng đất Nam Bộ từ khoảng cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII. Phần lớn họ là những lưu dân từ Thuận Hóa, Quảng Nam và vùng Ngũ Quảng, đi về phương Nam để tránh chiến tranh, tìm đất sinh sống và khai khẩn.

Có thể ghi nhớ ba giai đoạn chính:
Cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII những nhóm lưu dân người Việt đầu tiên đến vùng Mô Xoài, tức Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay, rồi dần tiến về Đồng Nai, Bến Nghé và Sài Gòn. Thời ấy có anh thương lái Khmer yêu cô gái Việt và hẹn hò trao chiếc xuồng chở đầy quả “mít gai” mà đất phương Nam chưa có. Cuộc hẹn hò trên bến Tiền Giang đã thành nỗi sầu vạn cổ khi tới gần bờ, thuyền lật úp và chôn vùi người con gái không thể bám vào gai nhọn của loại trái cây mới mẻ đó nên đã bị dìm chết đuối.
Không lâu sau đó có một giống cây lạ mọc trên bờ đất Việt. Chàng trai chung tình qua bao năm vẫn nhở và đến ôm gốc cây gọi tên “THU-RIEN” (gốc tiếng
Khmer gọi trái sầu riêng nghe như SẦU RIÊNG)!
Tôi thích câu chuyện ấy với tư cách một người làm văn.
Nhưng nếu nhìn bằng con mắt ngôn ngữ học, có lẽ phải đi xa hơn.
Ở Mã Lai và Indonesia, trái này được gọi là “durian”, từ “duri”, nghĩa là gai. Sang những vùng lân cận, âm thanh ấy biến đổi: người Khmer có cách gọi gần với “thurén”; tiếng Thái có “thurian”; tiếng Lào cũng có âm gần “thu-rian”.
Durian.
Thurén.
Thurian.
Thu-rian.
Rồi đến Việt Nam:
Sầu riêng.

Tôi không dám quả quyết rằng “sầu riêng” nhất định là hậu thân của một trong những âm ấy. Ngôn ngữ học cần chứng cứ lịch sử, văn bản cổ và những quy luật chuyển âm chặt chẽ hơn một sự giống nhau nghe bằng tai.
Nhưng tôi vẫn thấy chữ “riêng” của chúng ta đứng cạnh những âm “-rian”, “-rien” của các dân tộc láng giềng là một điều đáng suy nghĩ.
Biết đâu trên con đường thiên di của một giống cây, cái tên của nó cũng đã đi qua nhiều bến bờ?
Từ những khu rừng nhiệt đới Mã Lai - Indonesia, qua đất Khmer, Thái, Lào, rồi vào miền Nam nước Việt, mỗi dân tộc nghe một cách, gọi một cách. Đến tai người Việt, một chuỗi âm thanh xa lạ có thể đã được uốn lại thành những tiếng quen thuộc với tâm hồn mình.
Và người Việt vốn là một dân tộc thi ca, rất hay “nghe” cuộc đời bằng tình cảm.
Thế là từ một tiếng gọi ngoại lai nào đó, nếu quả thực có cuộc chuyển âm ấy, dân gian đã nghe thành hai tiếng đẹp đến nao lòng:
Sầu riêng!
Rồi khi đã có hai chữ ấy, trí tưởng tượng của con người bắt đầu dệt nên những chuyện tình, những cuộc chia lìa, những nỗi nhớ.
Đó cũng là một cách ngôn ngữ trở thành văn hóa.
Tôi vốn là người Huế.
Huế của tôi cũng có nhiều chữ “sầu”.

Mưa Huế sầu đông.
Sông Hương sầu: Hương giang nhất phiến nguyệt. Kim cổ hứa đa sầu - ND (Mảnh trăng vằng vặc sông Hương. Sầu dâng hiện bóng vẫn thường xưa nay. )
Nhưng sống đến tám mươi tuổi, tôi mới hiểu rằng sầu không nhất thiết là khổ.
Có những nỗi sầu làm cho đời người sâu hơn.
Có những chia lìa làm cho ta biết quý một cuộc gặp.
Có những năm tháng xa quê làm cho một buổi trở về trở nên đa diết.
Và cũng có những cái “riêng” tưởng là của một mình mình, cuối cùng lại gặp được cái riêng của biết bao nhiêu người khác.
Tám mươi năm đời tôi cũng vậy.
Từ một miền quê làng Liễu Cốc Hạ
xứ Huế, qua chiến tranh, ly tán, những cuộc ra đi, những chân trời xa lạ; từ quê nhà sang đất Mỹ rồi nhiều lần trở lại Việt Nam; mỗi đoạn đường tưởng như một câu chuyện riêng. Nhưng càng về cuối cuộc hành trình đời mình, tôi càng thấy chẳng có gì thật sự riêng.
Đời mình nằm trong đời người.
Nỗi vui buồn của mình nằm trong vui buồn của quê hương.
Và quê hương, lạ thay, đôi khi không hiện về bằng những điều lớn lao mà chỉ là những sợi mưa tình hoài niệm.
Nó có thể chỉ là một cơn mưa Buôn Ma Thuột như chiều nay tôi đi một mình trên đường Y jut!
Một con đường đất đỏ chiều qua quanh vùng chợ chiều Đạt Lý.
Một khu vườn sau cơn mưa.
Một người nông dân đứng dưới tàng cây nhìn mùa trái chín.
Hay một trái sầu riêng vừa được bổ ra, năm múi vàng ươm, thơm nồng đến mức người thích thì mê mà người không quen phải chạy xa.
Tôi bật cười.
Quả thật, sầu riêng cũng giống cuộc đời.
Bên ngoài gai góc.
Bên trong mềm.
Mùi vị lại chẳng chiều lòng tất cả mọi người.
Có người yêu, có người ghét.
Có người vừa gặp đã tránh xa; có người ăn một lần rồi nhớ mãi.
Con người sống tám mươi năm có lẽ cũng thế.
Không cần mong tất cả mọi người đều hiểu mình.
Cũng không cần mong mọi người đều thích mình.
Chỉ cần qua bao nhiêu mùa mưa nắng, bên trong lớp vỏ đã chai sần theo năm tháng vẫn còn giữ được một chút ngọt lành thuần khiết để chia cho người khác, thế là đủ.

Ngày 10 tháng 8 năm 2026, tôi bước vào tuổi tám mươi.
Tạm biệt Sacramento và tiệc mừng sinh nhật.
Tôi có một mùa sầu riêng đang chín trên cao nguyên.
Có đất đỏ dưới chân.
Có trời Buôn Ma Thuột trên đầu.
Có một quê hương mà sau bao nhiêu năm đi xa, mỗi lần trở lại vẫn còn đủ sức làm cho mình xúc động.
Và tôi chợt thấy cái tên “sầu riêng” hôm nay mang một nghĩa khác.
Sầu; nhưng không bi lụy.
Riêng; nhưng không đơn độc.
Bởi đến tuổi này, nỗi sầu riêng của một đời người, nếu biết mở lòng ra, cũng chỉ là một giọt nhỏ trong biển vui buồn vô tận của nhân gian.
Tám mươi tuổi, đứng giữa mùa trái chín, tôi không muốn đếm những gì đã mất.
Tôi muốn nhìn những gì vẫn còn.
Còn một buổi sáng để thức dậy.
Còn một con đường để đi.
Còn một quê hương để trở về.
Còn một mùa sầu riêng để nhớ.
Và, may mắn thay, còn một chút chữ nghĩa khiêm tốn và dòng tâm tư nhớ nhớ quên quên để ghi lại đôi điều trước khi tất cả cũng trở thành kỷ niệm.

Buôn Ma Thuột, mùa sầu riêng 2026
TRẦN KIÊM ĐOÀN

Không có nhận xét nào: