Kính thưa qúy Độc Gỉa các Diễn Đàn, Trong thời đại hôm nay, với sự tiến bộ của khoa học, người ta có thể chứng minh được các sự kiện có từ mấy chục triệu năm về trước... Tạp chí Dân Văn nhận được bài luận văn liên quan đến Cổ Sử Việt Nam của tác gỉa MINH DI từ Châu Úc, tựa của bài luận văn này là BẤT TÚC TRƯNG TẬP, Ban Biên Tập xin được gởi đến qúy độc gỉa bốn phương... Vì bài rất xúc tích và qúa dài nên chúng tôi chia ra làm nhiều kỳ, lần lượt gởi lên các diễn đàn. Qúy vị nào muốn có toàn bài luận văn này, xin liên lạc với tạp chí Dân Văn (Email: danvanmagazin@gmail.com) Germany, ngày 26.01.2006 (đăng lần 1), đăng lần thứ 2, ngày 18.11.2014, đăng lần thứ 3, ngày 05.8.2026 theo yêu cầu của độc giả.
<!>
Điều Hợp Viên DĐ Ngôn-Ngữ-Việt,
Chủ Nhiệm Tạp Chí Dân Văn.
LÝ TRUNG TÍN
Bài này chủ nhiệm TCDV riêng tặng Nhà Báo Kiều Mỹ Duyên, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ, Nhà Văn Dương Thu Hương, Bác Sĩ Nguyễn Thượng Vũ, Bác Sĩ Hà Ngọc Thuần, Bác Sĩ Bùi Duy Tâm, Nhà Báo Huỳnh Lương Thiện, Nhà Báo Đỗ Thông Minh, Bạn cùng khóa 25SQTĐ Nguyễn Thiện Từơng, Chu Tất Tiến, Bác Sĩ Nguyễn thanhdiepjudy, Huynh Trưởng Phạm Tín An Ninh, Anh Lê Huy Trứ, Anh Nguyễn Hữu Phát.
Bất Túc Trưng Tập.
Dẫn ngôn.
Tập này bao gồm những Luận văn liên quan Cổ sử Việt Nam, hoặc giải thích danh xưng, hoặc đính chính 1 số vấn đề mà cho tới bây giờ vẫn chưa có kết luận (tương đối) dứt khoát, chưa kể 1 số vấn đề người ta vẫn hiểu sai lạc.
Tư sử liệu cổ đề cập những vấn đề trình bày, thảo luận ở đây phần lớn chỉ một số rất nhỏ trong giới nghiên cứu Cổ sử là nghe nhắc đến, nói khác đi là chỉ nghe chứ chưa từng đọc qua. Đây là những Sử liệu của người Trung Hoa viết, do đó, trong nhiều trường hợp, nhãn quan của tác giả không phải là cái nhìn của người Việt Nam - 1 nhãn quan ít nhiều có tính cách lệch lạc, đượm sắc thái chính trị. Ở đây tôi trình bày, thảo luận những Sử liệu này theo quan điểm của 1 người Việt Nam. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà tôi dễ dãi tự cho phép mình ngả về 'Cực' kia, hay nói khác đi, quan điểm trong Tập luận văn này đã được phân tích và cân nhắc sao cho phù hợp thái độ khách quan của 1 người luận Sử. Đây là nét chính của Tập luận Sử này, đồng thời cũng là cố gắng của tôi trong khi biên soạn.
Ngoài ra, như đã biết, ngày trước tiền nhân ta trứ thuật bằng Hán văn, do đó, muốn nghiên cứu Cổ Sử thì đòi hỏi tiên quyết, tất yếu là phải thông Hán văn. Chính vì không thông Hán văn mà thời hiện đại có một vài người khi viết về Cổ Sử đã không hiểu í nghĩa để rồi giải thích lếu láo 1 số Danh xưng trong Cổ Sử Việt Nam - chẳng hạn, như 1 ông linh mục nọ (đã chết) đã giảng chữ 'Cú ('Cố) trong từ ngữ 'Đại Cù Việt' rất lếu láo là 'Rất Lớn', trong khi chữ này có nghĩa là 'Con đường thông đi 4 nẻo’.
Và rồi, cũng có người chỉ chép lại từ người khác nhưng cũng do nỗi không đọc thông Hán văn để kiểm chứng lại cho nên người sai mình cũng sai theo.
Tệ, hại hơn hết là gần đây, ở chốn 'Vu Xứ’ này, nảy ra 1 số các ông, các bà Tây học Việt Nam bỗng đâu sấn sổ xông ra nghiên cứu Cổ học Việt Nam. Các ông các bà chộp đâu được một mớ sách Anh, sách Pháp cũng như 1 mớ sách chuyển dịch từ Hán văn qua Việt văn... để rồi cứ thế nhắm mắt, nhắm mũi viết loạn cào cào, giải thuyết lung tung...... Cứ thế, 'Cổ Sử Việt Nam' cứ như 1 khu đất hoang, ông nào muốn nhảy thì nhảy, bà nào muốn múa thì múa! Thiệt là vui!
Và, cuối cùng, nhìn lên vách nhà các ông, các bà, thì ngoài 1 tờ giấy do 1 Đại học Tây phương nào đó cấp phát được trang trọng lộng kiếng treo ở phòng khách, nhìn lại các ông, các bà đứng dưới tờ giấy lộng kiếng đó thì... ô hô, trong tay ông nào, bà nào rồi cũng có 1 cây Gậy!
Sau cùng, Tập này có thể được coi như phần 'Phụ Lục' cho Bộ 'Cổ Sử Việt Nam' của tôi.
Trong Bộ Cổ Sử này có những điều chép khác với những gì cho đến nay người ta vẫn đọc thấy trong 1 số sách trước đây, và Tập này chính là luận cứ cho những gì chép khác đó.
Cổ Sử Việt Nam có những vấn đề tưởng chừng thiên thu vô khả giải, nhưng, nếu như chịu khó tìm tòi trong thư tịch cổ Trung Hoa thì đôi lúc cũng tìm gặp được những câu trả lời thỏa đáng.
Minh Di.
Viết tại Bất Túc Trưng Thư Trai.
02. 3. 2004.
Giáp Thân.
Như nguyệt. Thập tam nhật. Kinh Trập tiền nhị nhật.
Việt Thường. Giao chỉ. An Nam.
02 - 17 (21)
(KỲ 1)
[I]. Việt Thường.
Cứ Cổ sử, thời Hồng Bàng (2879? - 258 tr. Cn.), Việt Nam có Quốc hiệu Văn Lang.
Về tổ chức hành chánh, nước Văn Lang được phân ra 15 Địa khu, gọi là Bộ - và, Việt Thường là 1 trong 15 Bộ đó, địa hạt đại khái ở đất Hà Tĩnh, trung bộ Việt Nam hiện nay.
Thế nhưng, trong cổ sử và thư tịch Trung Hoa, Việt Thường lại là tên 1 Quốc gia.
Sử học gia Phạm Việp (398 - 445) triều Lưu Tống (420 - 479), thời Nam Bắc triều (420 - 589) đã chép trong 'Hậu Hán Thư’ như sau:
'Giao Chỉ chi Nam hữu 'Việt Thường' quốc.
Chu Công cư nhiếp lục niên, chế Lễ, tác Nhạc, thiên hạ hòa bình, 'Việt Thường' dĩ tam tượng trùng dịch nhi hiến bạch trĩ, viết:
- Đạo lộ du viễn, sơn xuyên thư thâm, âm sứ bất thông, cố trùng dịch nhi triều.
Thành vương dĩ qui Chu Công, Công viết:
- Đức bất gia yên tắc quân tử bất hưởng kì chí, Chính bất thi yên tắc quân tử bất thần kì nhân, ngô hà dĩ hoạch thử tứ dã!'.
/ Hậu Hán Thư. Qu. LXXXVI. Nam Man, Tây Nam Di Liệt Truyện /.
'Phía Nam đất Giao Chỉ có nước 'Việt Thường'.
Chu Công nắm chính sự được 6 năm, chế Lễ, tác Nhạc, thiên hạ hòa bình, nước 'Việt Thường' dùng tới 3 người thông ngôn, trải qua nhiều lần phiên dịch để hiến chim trĩ trắng, nói rằng:
- Đường xá xa xôi, sông núi thăm thẳm, sứ giả không qua lại được, cho nên phải trải nhiều lần phiên dịch để vào triều kiến.
[Chu] Thành vương đem [chim trĩ này] tặng lại Chu Công, Chu Công nói:
- Ân đức không trải ra cho người thì quân tử không nhận lễ của người, Chính trị không chế tài được người thì quân tử không coi người là thần dân của mình, tôi lấy tư cách gì đây để nhận lễ vật này?'.
Ngoài 'Hậu Hán Thư’, sự kiện Việt Thường hiến bạch trĩ còn thấy ghi chép trong 1 số thư tịch cổ điển Trung Quốc, như:
(1). Hàn Thi Ngoại Trruyện. Qu. V.
Hàn Anh (? - ?) thời Tây Hán (206 tr. Cn. - 08) soạn.
(2). Thuyết Uyển. Trong thiên Biện Vật.
Lưu Hướng (77 - 06 tr. Cn.) soạn.
(3). Luận Hành. Trong 5 thiên: Dị Hư. Nho Tăng. Giảng Thụy. Tuyên Hán. Khôi Quốc.
Vương Xung (27 - ~ 97) thời Đông Hán (25 - 220) soạn.
(4). Hán Thự Qu. XII. Bình đế Kỉ.
Qu. LXIV. Hạ. Giả Duyên Chi truyện.
Ban Cố (32 - 92) thời Đông Hán soạn.
(5). Hậu Hán Thự Ngoài Quyển đã dẫn (Qu. LXXXVI.) còn thấy đề cập trong phần chú thích 'Mã Dung truyện', Qu. LX. phần Thượng.
(6). Lương Thự Qu. LIV. Nam Hải Chư Quốc truyện.
Diêu Tư Liêm (557 - 637) đời Đường (618 - 907) soạn.
(7). Văn Tuyển. Qu. XLVI. Ghi lại ở phần chú thích Bài 'Khúc Thủy Thi Tứ của Văn học gia Vương Nguyên Trưởng (467 - 493) đời Tề (479 - 502), Lí Thiện (~ 630 - 689) đời Đường chú.
Chiêu Minh Thái Tử Tiêu Thống (501 - 531) thời Lương (502 - 557) soạn.
(8). Hiếu Kinh Viện Thần Khế.
Khuyết danh.
(9). Nghệ Văn Loại Tụ. Qu. XCIX. Tường Thụy Bộ, phần Hạ.
Âu Dương Tuân (557 - 641) đời Đường soạn.
(10). Thái Bình Ngự Lãm. Qu. CMXVII. Tứ Di Bộ (06).
Lí Phương (925 - 996) thời Triệu Tống (960 - 1279) soạn.
Trong những tác giả, và những nhà chú giải các tác phẩm kể trên đây, Lí Hiền (655 - 684) chú 'Hậu Hán Thư’ (Mã Dung truyện), Lí Thiện chú 'Văn Tuyển' (bài 'Khúc Thủy Thi Tứ), cũng như Lí Phương ('Thái Bình Ngự Lãm') đều đã dẫn việc Việt Thường hiến bạch trĩ từ tác phẩm 'Thượng Thư Đại Truyện', tương truyền do Phục Sinh (? - ?) thời Tây Hán soạn. Trong khi đó sách 'Nghệ Văn Loại Tu’ của Âu Dương Tuân thì đã dẫn từ 'Hiếu Kinh Viện Thần Khê, 1 bộ. Vĩ thư không rõ ai là tác giả.
Tùy nguồn tư liệu dẫn dụng mà câu chuyện có một số chi tiết khác nhau, chẳng hạn như trong bộ 'Hiếu Kinh Viện Thần Khê’ chép:
'Chu Thành vương thời, Việt Thường hiến bạch trĩ. Khứ Kinh Sư tam vạn lí.
Vương giả tế tự bất tương du, yến thực, i phục hữu tiết tắc chí.'.
'Thời Chu Thành vương, Việt Thường hiến bạch trĩ. [Nước này] cách Kinh Đô 3 vạn dặm.
Bậc Vương giả trong việc tế tự mà không quá phận, trong yến tiệc, phục sức mà có chừng mực thì có chim [bạch trĩ] đến.'.
Về phương diện văn tự, chữ 'Thường' trong danh xưng 'Việt Thường', sách 'Luận Hành' chép 3 chữ khác nhau:
(1). Thường: Nếm. Thử. Trải qua. Chữ thuộc Bộ Khẩu.
Trong thiên 'Dị Hư’.
(2). Thường: Phần dưới của i phục. Chữ thuộc Bộ I.
Trong thiên 'Nho Tăng'.
(3). Thường: Luôn luôn. Bình thường. Pháp tắc. Chữ thuộc Bộ Cân.
Trong 3 thiên: 'Giảng Thụý. 'Tuyên Hán'. 'Khôi Quốc'.
Tuy viết khác nhau nhưng 3 chữ này thời cổ có thể dùng thay thế cho nhau được.
Có điều hầu hết thư tịch cổ Trung Hoa đã viết với chữ 'Thường' thứ 2, tức chữ 'Thường' thuộc Bộ 'Í.
Chúng ta vẫn thường nghe từ ngữ 'I Thường'. 'Í là phần trên của phục sức, còn phần phục sức từ eo lưng trở xuống được gọi là 'Thường'. Do nơi đã hiểu chữ 'Thường' ở đây theo nghĩa như là 1 bộ phận của phục trang cho nên có người đã giải thích danh xưng 'Việt Thường' một cách sai lạc như sau:
'Trương Yến viết: -Việt bất trước i thường, mô. Trung Quốc hóa, khiển dịch lai trứ i thường dã, cố viết 'Việt Thường' dã.
Sư Cổ viết: - Trương thuyết phi dã! 'Việt Thường' tự thị quốc danh, phi dĩ tập i thường thủy vi xưng hiệu.'.
/ Hán Thự Qu. LXIV. Giả Duyên Chi truyện.
Phần chú giải 'Việt Thường thị trùng cửu dịch' của Nhan Sư Cổ /.
'Trương Yến nói: - Dân Việt không bận i phục, vì ngưỡng mộ văn hóa Trung Quốc cho nên đã sai thông dịch tới học may i phục, cũng vì lẽ đó mà được gọi là 'Việt Thường'.
Sư Cổ nói: - Thuyết của họ Trương không đúng! 'Việt Thường' vốn là tên của quốc gia, chẳng phải do sự việc theo tập tục bận i phục mà sau đó mới lấy 2 chữ này làm danh hiệu.'.
Có lẽ Khuất Đại Quân (1630 - 1696) vào đầu Thanh triều (1644 - 1911) là người đã giải thích danh xưng 'Việt Thường' tinh tường và xác đáng hơn hết. Sau đây là giải thuyết của ông:
'Việt Thường tại Tượng Lâm giới ngoại, Việt chi thường dã!
Việt chư thượng quận vi I, nhi chư hạ quận vi Thường. Nam cực nhập địa, chí Nam hải nhi ích hạ, cố xưng Giao Châu vi thiên hạ chi Chỉ, nhi Tượng Lâm giới ngoại vi Việt chi 'Thường' dã.
Ngạn viết: - 'Quần điền quần sá, ngôn hồ biên chi phúc dã, Thường chi thuyết dã.
Hựu cổ ngôn cương vực giai viết 'Phục'. Hán Văn đế tứ Úy Đà thư viết: - 'Phục, Lãnh dĩ Nam vương tự trị chí
- 'Sử Ki: - 'Lãnh nam, Sa bắc.'
- Lưu An vân: - 'Kì nhập Trung Quốc tất ha. Lãnh thủy.'.
'Hán Thứ, Lãnh dịch tác Lãnh. Lãnh giả, i lãnh dã. Ngũ Lãnh chi ư hoang phục, do i chi lãnh, cố viết 'Lãnh'. Kì biên hải chi địa tắc viết 'Thường' dã.
Việt cố tiển phát, văn thân, phi Trung Hoa quan đới chi thất. Hán Cao đế thường di Úy Đà bồ đào cung cẩm, nhi Văn đế tứ thượng, trung, hạ trữ i, kì dục dĩ i thường tập bỉ lân giới dã. Xuân Thu trọng 'I Thường chi Hộí, cái dĩ Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn thùy i thường nhi thiên hạ trị; thiên hạ nhi giai hữu kì i thường nhi thiên hạ trị hĩ! I thường thủ chư Càn Khôn, vô i thường tư vô Càn Khôn hĩ! Việt Tây hữu Âu Lạc, kì chúng bán lỏa, Nam diện xưng vương. Việt Thường chi địa nhi hữu i thường thị do tri phù Lễ, Nghĩa, phi đồng lỏa quốc chi dân dã.
Cổ giả i dữ thường tương liên, do Càn dữ Khôn bất tương li dã. Việt Thường nhi dục thông ư Trung Quốc, cái dục dĩ kì thường liên hồ Trung Quốc chi i dã!'.
/ Quảng Đông Tân Ngữ. Qu. II. Địa Ngữ. Việt Thường /.
'Đất Việt Thường ở mé ngoài cõi Tượng Lâm, là phần dưới của đất Việt.
Các quận ở vùng trên của đất Việt là I, và các quận ở vùng dưới là Thường. Dải đất ở cực Nam càng tiến gần về Nam hải thế đất càng thấp đi, vì vậy mà gọi đất Giao Châu là Ngón Chân của thiên hạ và vùng đất nằm ở mé ngoài cõi Tượng Lâm là Phần dưới của đất Việt. Ngạn ngữ nói: - 'Ruộng quần, bãi quần', là nói [phần ruộng, phần bãi] ở vị trí tận cùng, [chữ Quần ở đây] tức như chữ Thường, [là phần dưới của i phục].
Hơn nữa, trong ngôn ngữ cổ, các vùng biên cương đều được gọi là 'Phục'. Hán Văn đế gởi thư cho Úy Đà trong có đoạn viết: - 'Những đất phía Nam vùng biên cương và vùng Ngũ Lãnh thì vua tự cai trị lấy.'
- 'Sử Ki chép: - 'Vùng biên thùy phía Nam gọi là Lãnh, vùng biên thùy phía Bắc gọi là Sá
- Lưu An viết: - '[Muốn] đi vào Trung Quốc thì phải qua vùng sông, nước đất [Ngũ] Lãnh.'.
Chữ Lãnh [với Bộ Sơn (Núi) ở trên], bốHán Thứ cũng viết là Lãnh [không có Bộ Sơn]. Lãnh ở đây tức đường viền áo (i lãnh). Đối với vùng biên địa xa xôi đất Ngũ Lãnh rồi không khác gì đường viền áo, do đó mà gọi là Lãnh. Còn dải biên địa ven biển thì gọi là 'Thường'.
Dân Việt vốn cắt tóc ngắn, vẽ mình, không mũ mão, đai lưng như dân Trung Hoa. Hán Cao đế đã từng gởi tặng Úy Đà loại gấm sắc bồ đào đặc chế trong cung, riêng Hán Văn đế thì gởi tặng áo vải đủ cả 3 hạng, thượng, trung, hạ, tất cả nhằm tập cho dân man di đó tục bận i phục. Thời Xuân Thu sở dĩ người ta coi trọng 'Hội I Thường' là xuất từ sự việc Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn buông thõng i thường mà thiên hạ thái bình - thiên hạ mà đâu đó đều có i thường thì rồi đâu đó thiên hạ đều thái bình. Định chế về i thường rồi đã bắt nguồn từ khái niệm về Càn Khôn, [nếu] không có i thường thì cũng không có Càn Khôn. Đất Việt Tây có xứ Âu Lạc, cư dân nửa người để trần, day mặt về hướng Nam xưng vương. Đất Việt Thường mà có i phục thì có khác gì một nước biết Lễ, Nghĩa, không giống như dân để trần nửa người.
Thời cổ, phần i và phần thường liền nhau, như Càn và Khôn không lìa nhau. Phần dưới của đất Việt mà muốn thông với Trung Quốc là muốn I của mình liền với Thường của Trung Quốc.'.
Minh Di án:
Cứ như đoạn văn trên đây của Khuất Đại Quân thì cương vực nước Việt Thường thời cổ nằm ở bên kia ranh giới của Tượng Lâm.
Vào năm 113 trước Tây lịch, Cù thị triều Triệu (207 - 111 tr. Cn.) nước Nam Việt tư thông với sứ giả Hán triều là An Quốc Thiếu Quí (? - 113 tr. Cn.) âm mưu đem nước Nam Việt dâng cho Trung Quốc, Tể tướng đương triều là Lữ Gia (? - 111 tr. Cn.), do đó, dẫn quân thẳng vào Cung giết Cù thị và Thiếu Quí. Sự việc xảy ra vào tháng 4, đầu mùa Hạ năm đó.
Vào mùa Thu năm 111 trước công nguyên, Hán Vũ đế (156 -87 tr. Cn.; tại vị: 141 - 87) phong Lộ Bác Đức (? - ?) là Phục ba Tướng quân và Dương Bộc (? - ?) Lâu thuyền Tướng quân, lệnh cho 2 tướng này chỉ huy quân đội chia 2 ngả Thủy, Lục tiến chiếm Nam Việt.
Mùa Đông cùng năm, giết được Lữ Gia, tiêu diệt Nam Việt.
Năm sau, mùa Xuân năm 110, Hán triều chia Nam Việt thành 9 Quận:
(1). Nam Hải: Toàn tỉnh Quảng Đông ngày nay, trừ góc Tây nam.
(2). Hợp Phố: Phần đất Tây nam Quảng Đông ngày nay.
(3). Thương Ngô: 1/2 tỉnh mặt Đông tỉnh Quảng Tây hiện nay.
(4). Uất Lâm: tỉnh mặt Tây tỉnh Quảng Tây hiện nay.
- 2 Quận Thương Ngô và Uất Lâm bằng toàn tỉnh Quảng Tây hiện nay.
(5). Chu Nhai: Gồm 1/2 đảo Hải Nam mặt Đông.
(6). Đam Nhĩ: Gồm 1/2 đảo Hải Nam mặt Tây.
(7). Giao Chỉ: Toàn miền Bắc hiện nay (tới phân giới Ninh Bình và Thanh Hóa hiện nay).
(8). Cửu Chân: Gồm các tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh hiện nay.
(9). Nhật Nam: Bao quát các tỉnh Bình, Trị, Thiên, Nam, Ngãi, Định và Phú Yên ngày nay, và biên địa giới hạn ở Vĩ tuyến 12 o48'.
Quận Nhật Nam thời bấy giờ quản hạt gồm 5 huyện, và Tượng Lâm là 1 trong 5 huyện đó - và là huyện tận cùng ở cực Nam quận.
5 huyện này, kể từ Bắc xuống Nam, là: Tỉ Cảnh. Chu Ngộ Tây Quyển. Lư Dung. Tượng Lâm. Trị sở cũ của Quận đặt tại Tây Quyển, nằm cách Thị xã Quảng Trị ngày nay khoảng 08 cây số về phía Tây bắc (tính theo Bản đồ Tỉ lệ), ở Vĩ tuyến 16 o46'.
Trị sở xưa của Tượng Lâm nằm cách thành phố Hội An (tỉnh Quảng Nam) ngày nay 15 cây số về phía Tây nam (Bản đồ Tỉ lệ), ở Vĩ tuyến 15 o42' 04''.
(KỲ 2)
[II]. Giao Chỉ.
Giao Chỉ là danh xưng người Trung Hoa thời cổ gọi người Việt Nam. Và lãnh thổ tại đó người Giao Chỉ sinh sống được gọi là đất Giao Chỉ. Danh xưng này có ít nhất cũng trên 2000 năm.
Sách 'Lễ Ki’ chép:
'Nam phương viết Man, điêu đề Giao Chỉ.'.
/ Lễ Kí. Vương Chế /.
'Các dân tộc ở phương Nam được gọi [chung] là Man, [phương này] có dân Giao Chỉ xâm, vẽ hình trên trán.'.
Chú giải 2 chữ 'Giao Chỉ’ trong câu trên, học giả Tôn Hi Đán (1736 - 1784) đời Thanh đã dẫn thuyết của 1 số học giả như sau:
'Trịnh thị viết: - Giao Chỉ túc tương hướng, dục tắc đồng xuyên, ngọa tắc xuyên...
Khổng thị viết: - ...... Đề, ngạch dã, vị dĩ đơn thanh điêu khắc kì ngạch; Chỉ, túc dã, Man ngọa thời đầu hướng ngoại nhi túc hướng nội tương giao, cố viết 'Giao Chỉ.'.....
Phạm thị 'Quế Hải Ngu Hành Chi viết: - 'Giao Chí dữ 'Điêu đế tịnh ngôn, tắc kì nhân hình tất tiểu dị.'Giao Châu Ki vân: - Giao Chỉ chi nhân xuất Nam Định huyện, túc tiết vô cốt, thân hữu mao, ngọa giả cánh phù thủy đắc khởi! 'Sơn Hải Kinh' dịch ngôn: - Giao Hỉnh quốc nhân giao hỉnh. Quách Phác vân: 'Hỉnh cước khúc lệ tương giaó, cố vị chi Giao Chỉ.
Kim An Nam địa nãi Hán, Đường quận, huyện, kì nhân bách hài dữ Hoa vô dị. Hoặc truyền An Nam hữu Bá Lưu Sơn hoàn sổ bách lí giai như thiết vi, bất khả phan tê, trung hữu thổ điền duy nhất khiếu khả nhập nhi thường tự trất chi. Nhân vật ngụy quái, bất dữ ngoại thông. Nghi thử thị cổ Giao Chỉ địa.
Ngu vị Giao Chỉ chi thuyết Chú, Sớ thù bất minh.
Phạm thị dĩ vi 'kì hình tất hữu dí thị dã! Nhiên Giao Chỉ, địa thậm quảng, nhi dục dĩ nhất Sơn đương chi khả hồ?! Cái cổ thời 'Giao Chí chi nhân kì túc chỉ tất dữ Hoa bất đồng, cố dĩ thử vi danh. Kì hậu tiệm nhiễm Hoa phong, dữ Trung Quốc thông hôn giá, cố hình thể toại biến. Thử nãi sự lí chi thường, bất túc quái dã.'.
/ Lễ Kí Tập Giải. Vương Chế 2 /.
'Họ Trịnh nói: - Dân Giao Chỉ 2 đầu bàn chân giao lại gần nhau, tắm thì [nam, nữ] tắm chung dưới suối, ngủ chung [một đám] thì đâu chân lại....
Họ Khổng nói: - .... Đề là cái trán, í nói xâm, vẽ hình màu trên trán; chỉ là bàn chân, dân Man lúc ngủ thì đầu hướng ra ngoài, bàn chân hướng vào phía trong, đâu lại với nhau, do đó mà gọi là 'Giao Chỉ’....
Sách 'Quế Hải Ngu Hành Chi của họ Phạm nói: - Cùng một lúc đề cập 'giao chỉ, điêu đế thì thân hình của dân xứ này hẳn phải có điểm hơi khác lạ. 'Giao Châu Ki nói: - Người Giao Chỉ gốc từ huyện Nam Định, khớp bàn chân chẳng có xương, người nhiều lông, đã nằm thì phải có người dìu đỡ mới đứng dậy được! 'Sơn Hải Kinh' cũng nói: - 'Người nước Giao Hỉnh có 2 đầu bàn chân đâu lại với nhau.'. Quách Phác nói: '2 bàn chân cong, ngón dạt ra đâu đầu lạí, do đó mà gọi là 'Giao Chỉ’.
Đất An Nam ngày nay xưa kia là quận, huyện dưới các triều Hán, Đường. Dân xứ này thân thể rồi chẳng khác chi người Hoa. Có truyền thuyết nói là: An Nam có dãy Bá Lưu Sơn vây quanh mấy trăm dặm như một cái vòng rào bằng sắt, không thể leo qua được. Bên trong có ruộng rẫy và chỉ có 1 lỗ duy nhất để ra vào nhưng người Bên trong thường bít kín lại. Người và vật ở đây kì dị, quái lạ, không giao tiếp với người bên ngoài. Nghi rằng đây là đất Giao Chỉ thời cổ.
Theo í tôi, các thuyết về Giao Chỉ đề cập trong các phần Chú, Sớ không được rõ ràng lắm.
Họ Phạm cho rằng 'thân hình dân xứ này hẳn phải có điểm hơi khác lạ.', điều này thì có đúng!
Có điều là, đất Giao Chỉ thì rất rộng, vậy mà nói cương vực rồi chỉ giới hạn trong một dãy Núi thì điều này có thể nào [nghe] được chăng?! Đại khái, thời cổ bàn chân người Giao Chỉ hẳn có khác với bàn chân của người Hoa, bởi lẽ đó mà người ta đã dùng danh xưng [Giao Chỉ] này để gọi dân xứ ấy. Về sau, người Giao Chỉ dần dà nhiễm phong tục Trung Hoa, [lại] thông hôn với người Trung Quốc, hình thể họ rồi do đó mà biến đổi đi. Đây là sự lí thông thường chẳng có gì đáng lạ hết!'.
Minh Di chú:
+ Họ Trịnh tức Trịnh Huyền (127 - 200), Kinh học gia trứ danh đời Đông Hán (25 - 220). Ông chú giải hầu hết Kinh điển cổ, trứ danh nhất và có ảnh hưởng rất lớn đối với học giả hậu đại là các bộ 'Thi Kinh' và 'Tam Lễ’ ('Nghi Lế, 'Chu Lế, 'Lễ Ki).
Ông có tên Tự là Khang Thành, học giả kính trọng thường gọi ông là Trịnh Khang Thành.
Chú giải về tiếng 'Giao Chỉ’ của ông Tôn Hi Đán dẫn trên đây xuất từ 'Lễ Kí Chú’.
+ Họ Khổng là Khổng Dĩnh Đạt (574 - 648), học giả trứ danh đời Đường (618 - 907), chủ biên Tác phẩm 'Ngũ Kinh Chính Nghĩá (gồm có: Dịch, Thư, Thi, Xuân Thu, Lễ Kí), theo lệnh của Đường Thái tông (599 - 649; tại vị: 627 - 649), để làm tiêu chuẩn trong khoa cử thời bấy giờ.
Chú giải về tiếng 'Giao Chỉ’ trên đây của ông xuất từ bộ 'Lễ Kí Chính Nghĩa’.
+ Họ Phạm đây là Phạm Thành Đại (1126 - 1193), thi nhân thời Nam Tống (1127 - 1279). Về Thơ, ông kế thừa được phong cách Đường thi, nhất là về Điền Viên Thi thì ảnh hưởng của ông rất thâm viễn.
Sử học gia Phạm Việp đã viết trong 'Hậu Hán Thư’ như sau:
'Lễ Kí xưng 'Nam phương viết Man, điêu đề Giao Chí. Kì tục nam nữ đồng xuyên nhi dục cố viết Giao Chỉ.'.
/ Hậu Hán Thự Qu. XXCVI. Nam Man, Tây Nam Di truyện /.
'Sách Lễ Kí nói là: 'các dân tộc ở phương Nam được gọi [chung] là Man, [phương này] có dân
Giao Chỉ xâm, vẽ hình trên trán'. Phong tục xứ này nam, nữ tắm chung dưới suối, vì lẽ này mà gọi là Giao Chỉ.'.
Trong phần 'Hiệu Bố’ cho Bộ 'Hậu Hán Thư Tập Giảí của Vương Tiên Khiêm (1842 - 1917) Hoàng Sơn (? - ?), học trò của Vương Tiên Khiêm, thời Dân Quốc (1911 - 1949), đã giải thích câu 'Kì tục nam, nữ đồng xuyên nhi dục, cố viết Giao Chí như sau:
'Kim án: Vương Chế, 'Chí bản tác Chỉ, tòng Túc....
'Văn Tuyển' Tây Kinh Phú 'Hắc thủy nguyên chí, Tiết chú vị 'tiểu chử viết Chí, nghi Phạm nghĩa trực dĩ 'Giaó vi 'đồng', dĩ 'chí vi 'xuyên' nhĩ! Thử dữ Trịnh chú các vi nhất nghĩa, nhi dữ 'Lễ Ki tác 'Chí chi bản
nghĩa bất phù hĩ! 'Tiền Thứ Giả Duyên Chi truyện 'Lạc Việt chi nhân phụ, tử đồng xuyên nhi dục', thử tác 'nam, nứ, dịch vi dị.'.
'Nay xét: Thiên Vương Chế, chữ 'Chí [với Bộ Phụ] vốn chép là chữ 'Chí ,với Bộ Túc....
Bài Tây Kinh Phú trong Tập 'Văn Tuyển' có câu 'Hắc thủy nguyên chí, phần chú giải của ho. Tiết nói rằng 'cái cù lao nhỏ gọi là chí, nghi rằng định nghĩa của Phạm (Việp) rồi đã cho rằng chữ 'Giao’ có nghĩa là 'đồng', chữ 'Chí có nghĩa là 'xuyên'! Định nghĩa này và chú thích của họ Trịnh, nghĩa mỗi bên mỗi khác, đồng thời không phù hợp với nguyên nghĩa chữ 'Chí chép trong 'Lễ Ki. [Lại nữa] bộ 'Tiền (Hán) Thứ, phần Truyện (Tiểu sử) Giả Duyên Chi vốn chép là 'Người Lạc Việt cha, con tắm chung dưới suốí, ở đây lại chép 'nam, nữ (tắm chung), cũng khác.'.
Đỗ Hựu (735 -812) đời Đường viết trong bộ 'Thông Điển' như sau:
'An Nam Đô Hộ Phủ. Tần thuộc Tượng quận, Hán Giao Chỉ, Nhật Nam nhị quận giới.'.
/ Thông Điển. Qu.CXXCIV. Châu quận 14 /.
'An Nam Đô Hộ Phủ. Vào thời Tần thuộc Tượng quận, dưới thời Hán thuộc cương giới 2 quận Giao Chỉ và Nhật Nam.'.
Tự chú thích 2 chữ Giao Chỉ trong câu trên, Đỗ Hựu viết:
'Di nhân kì túc đại, chỉ khai quảng, nhược tịnh túc nhi lập kì chỉ tắc giao, cố viết Giao Chỉ.'.
'Người rợ [phương Nam] bàn chân lớn, ngón chân [Cái] bẹt rộng ra, nếu như đứng, 2 bàn chân để ngang bằng nhau 2 ngón chân [Cái] sẽ giao nhau, vì vậy mà gọi là Giao Chỉ.'
Cho tới đây đã có 2 thuyết về í nghĩa danh xưng 'Giao Chỉ’, lược lại như sau:
(1). Thuyết căn cứ 1 nét phong tục nào đó: - phong tục nằm ngủ đầu hướng ra ngoài, bàn chân hướng vào trong, đâu lại với nhau ở 1 tâm điểm; hoặc 'nam, nữ tắm chung dưới suốí....
(2). Thuyết căn cứ 1 đặc điểm cấu tạo của chi thể: - 2 ngón chân Cái dang ra, 2 đầu ngón chân đâu lại, giao nhau.
Ngoài ra, còn 1 thuyết thứ 3 nữa. Thuyết này xuất hiện trễ, sau 2 thuyết dẫn trên xa - cách đây chỉ vài trăm năm, tương đối mới - và chừng như cũng chưa thấy học giả Đông, Tây nghiên cứu Cổ sử Việt Nam trước đây và gần đây đề cập.
Trước đây trên 300 năm, Khuất Đại Quân viết:
'Nam Giao giả, Việt dã, Đào Đường chi Nam duệ dã. Cố cử Nam Giao nhi khả dĩ khái Việt hĩ. Nhiên sử xưng Chu Vũ vương tuần thú, trần thi Nam hải; hựu 'Thí viết: - 'Vu cương vu lí, chí vu Nam hải.', tắc cử Nam hải hựu khả dĩ khái Việt hĩ! Hán xưng Việt vi 'Giao Châu’, cái bản ư Đường, Tần phân Việt địa vi Nam hải quận, cái bản ư Chu. Nhiên Dương Hùng 'Giao Châu châm' hữu viết: - 'Nam hải chi vũ, Thánh vũ thị khôí; hựu viết: - 'Giao Châu hoang duệ, thủy dữ thiên tê, tắc cử Giao Châu nhi Nam hải tại kì trung hĩ, cử Giao Châu dịch khả dĩ khái Việt hĩ.
Kì xưng viết 'Giao Chí, Giao Châu chi chỉ dã. Việt chỉ ư Trung Nguyên, nhi Giao Chỉ chỉ ư Việt dã. Giao Chỉ tư. Cao Dương thời dĩ để thuộc nhi Nghiêu danh vi Nam Giao. Cố luận địa danh dĩ Nam Giao vi cổ, luận sự dĩ 'Trạch Nam Giaó vi cổ.'.
/ Quảng Đông Tân Ngữ. Qu. II. Địa Ngữ. Nam Giao /.
'Đất Nam Giao tức đất Việt, là biên địa phía Nam thời Đào Đường. Do đó, có thể dùng tiếng Nam Giao để phiếm chỉ đất Việt. Nhưng rồi sử sách cũng nói Chu Vũ vương khi đi kinh lí các nước chư hầu đã cho sưu tập ca dao, tục ngữ vùng Nam hải; ngoài ra 'Thi Kinh' cũng có câu: - 'Về cương về giới, tới miền Nam hải.', và như vậy thì có thể dùng tiếng Nam hải để phiếm chỉ một dải đất Việt. Hán triều gọi đất Việt là Giao Châu, đây là căn cứ ho. Đào Đường; Tần triều phân chia đất Việt thành quận trong đó có quận Nam hải, đây là căn cứ Chu triều. Nhưng trong bài 'Giao Châu châm' Dương Hùng có câu: - 'Nam hải biên địa, vũ Thánh lớn thay!', và còn nói: - 'Giao Châu hoang cực, mấp mé trời nước', như vậy đề cập Giao Châu, đất Nam hải đã hàm tại nội, [và] đề cập Giao Châu thì rồi cũng có thể bao quát cả một dải đất Việt.
Còn vùng đất gọi là 'Giao Chí, danh xưng này có nghĩa 'ngón chân của Giao Châú. Đất Việt như là ngón chân của Trung Nguyên, và đất Giao Chỉ như là ngón chân của đất Việt. Giao Chỉ từ thời Cao Dương đã thuộc Trung Quốc và vua Nghiêu gọi là Nam Giao. Do đó luận địa danh thì từ ngữ Nam Giao là cổ [hơn hết], còn nếu luận sự việc thì việc 'Ra trấn đất Nam Giao' rồi cổ [hơn hết].'.
Minh Di án:
'Giao Chỉ là ngón chân của Giao Châu’ - giải thuyết này của Khuất Đại Quân có thể nói là đã căn cứ Văn tự học mà luận.
Chỉ là ngón chân. Ngón chân là 1 bộ phận tận cùng dưới của cơ thể con người. Và từ vị trí này của Ngón Chân mà suy rộng ra tất cả những sự vật có 1 vị trí tận cùng dưới của 1 vật khác đều có thể được gọi là 'Chi’. Nói khác đi, trong ngôn ngữ, chữ 'Chi’ cuối cùng đã được quan niệm như 1 Biểu tượng chỉ định 1 'Vị trí không gian' nhất định. Khuất Đại Quân, như đã thấy, cũng đã sử dụng lí luận trên đây để giải thích í nghĩa của danh xưng 'Việt Thường'. Dùng ngôn ngữ để chứng ngôn ngữ thì không gì thích đáng hơn.
Ở đây có thể lấy Dịch Kinh để chứng minh vấn đề.
Trong 'Dịch Kinh' có một số Hào từ đề cập một vài bộ phận... trong chi thể, hay trong cấu tạo của con người, của động vật, hay của sự vật, như:
(1). Thủ (Đầu).
(2). Giác (Sừng).
(3). Đỉnh (Phần cao nhất của Đầu).
(4). Chỉ (Ngón chân).
(5). Túc (Bàn chân. Bộ phận giữ cho vật đứng).
(6). Vĩ (Đuôi).
Những từ ngữ trên đây trong các Hào từ của 1 số Quẻ Dịch đều hàm í về Vị trí Không gian.
Và, trước khi đề cập các Hào từ với những từ ngữ đặc biệt vừa kể trên đây thì cũng cần sơ lược về Cơ cấu của 1 Quẻ Dịch.
1 Quẻ Dịch gồm 6 Nét thẳng, hoặc Đứt, hoặc Liền, hoặc Đứt/Liền lẫn lộn. Những Nét vừa nói được gọi là 1 Hào, Nét Đứt là Hào Dương, Nét Liền là Hào Âm.
Về thứ tự, các Hào được tính từ dưới lên, với các danh xưng như sau:
(6). Thượng (Hào 6).
(5). Ngũ (Hào 5).
(4). Tứ (Hào 4).
(3). Tam (Hào 3).
(2). Nhị (Hào 2).
(1). Sơ (Hào 1).
Về mặt cơ cấu, Dịch Quái vẫn được coi như là 1 kết hợp của 2 Quẻ trong Bát Quái.
3 Hào dưới (1. 2. 3) là Nội quái (Quẻ trong), hay Hạ quái (Quẻ dưới), và 3 Hào trên (4. 5. 6) là Ngoại quái (Quẻ ngoài), hay Thượng quái (Quẻ trên).
Ngoài ra, Dịch học còn có quan niệm gọi là 'Hỗ Thế, theo đó thì các Hào 2. 3. 4. 5 hợp thành Hỗ Thể. Cũng như Quẻ, Hỗ Thể phân Trong/Ngoài, Trên/Dưới:
Các Hào 2. 3. 4 là Nội Hỗ thể, hay Hạ Hỗ thể ( gọi giản lược là Nội hỗ, hay Hạ hỗ.
Các Hào 3. 4. 5 là Ngoại Hỗ thể, hay Thượng Hỗ thể - gọi giản lược là Ngoại hỗ, Thượng hỗ.
Cơ cấu của 1 Quẻ như phân tích trên đây bao hàm í niệm về Thời/Không. Có thể nhận ra ngay các từ ngữ Trên/Dưới, Trong/Ngoài chỉ khái niệm Không gian. Chúng ta sống trong 1 thế giới trong đó Không gian không thể tách rời Thời gian, do đó, ở đây, Dưới, Trong còn hàm í Trước và Trên, Ngoài thì hàm í Sau. Nói khác đi, mỗi Hào trong Quẻ là 1 Không vị đồng thời còn là 1 Thời vị.
Phân tích nữa: - Ở Nội quái, Hào 1 là Dưới mà Hào 3 là Trên, ở Ngoại quái Hào 4 là Dưới, và Hào 6 là Trên. Cơ cấu Hỗ thể cũng vậy. Tóm lại, 'Trong/Ngoài, Dưới/Trên' trong Cơ cấu Quẻ có tính cách tương đối - tất cả rồi tùy tương quan giữa các sự vật trong 1 Không gian xác định nào đó, nói khác đi là tùy hệ thống qui chiếu.
Í niệm Không gian trong Cơ cấu Quẻ đã được diễn tả qua 1 số từ ngữ tượng trưng đã nói qua ở một đoạn trước đây như: Thủ. Giác. Đỉnh. Chỉ. Túc. Vĩ.
++ Các Từ 'Thủ. Giác. Đỉnh'.
Dịch Kinh đề cập 'Thú tất cả 6 lần, 'Giác' 3 lần, và 'Đỉnh' chỉ 1 lần.
++ Các từ 'Chỉ. Túc. Ví.
Dịch Kinh đề cập 'Chí tất cả 6 lần, 'Túc' 2 lần, và 'Ví tất cả 5 lần.
Tổng cộng 23 lần trong 22 Quẻ, liệt kê như sau:
+ Thủ (Đầu).
(1). Càn (Càn/Càn). Thượng Cửu.
(2). Tỉ (Khảm/Khôn). Thượng Lục.
(3). Li (Li/Li). Thượng Cửu.
(4). Minh Di (Khôn/Li). Cửu Tam.
(5). Kí Tế (Khảm/Li). Thượng Lục.
(6). Vị Tế (Li/Khảm). Thượng Cửu.
+ Giác (Sừng).
(1). Đại Tráng (Chấn/Càn). Cửu Tam.
(2). Tấn (Li/Khôn). Thượng Cửu.
(3). Cấu (Càn/Tốn). Thượng Cửu.
+ Đỉnh (Phần cao nhất của Đầu).
(1). Đại Quá (Đoài/Tốn). Thượng Lục.
++ Các Từ 'Chỉ. Túc. Ví.
+ Chỉ (Ngón chân).
(1). Thệ Hạp (Li/Chấn). Sơ Cửu.
(2). Bí (Cấn/Li). Sơ Cửu.
(3). Đại Tráng (Chấn/Càn). Sơ Cửu.
(4). Quái (Đoài/Càn). Sơ Cửu.
(5). Đỉnh (Li/Tốn). Sơ Lục.
(6). Cấn (Cấn/Cấn). Sơ Lục.
+ Túc (Bàn chân).
(1). Bác (Cấn/Khôn). Sơ Lục.
(2). Đỉnh (Li/Tốn). Cửu Tứ.
+ Vĩ (Đuôi).
(1). Lí (Càn/Đoài). Lục Tam.
(2). Cửu Tứ.
(3). Độn (Càn/Cấn). Sơ Lục.
(4). Kí Tế (Khảm/Li). Sơ Cửu.
(5). Vị Tế (Li/Khảm). Sơ Lục.
Qua những Hào Từ dẫn trên đây thì có thể thấy Dịch Kinh khi nói Thủ, Giác, Đỉnh - tóm lại là các bộ phận thuộc nửa phần trên của người, động vật, sự vật, là nói:
(1). Các Hào của Ngoại quái, nhất là Hào Thượng (Hào 6).
(2). Hào trên cùng của Nội quái, tức Hào 3, chẳng hạn trường hợp Hào Cửu Tam Quẻ Minh Di ở thí dụ trên.
(3). Các Hào 4 và Hào 5 của Hỗ Thể: Hào 4 là Hào Thượng của Nội hỗ, Hào 5 là Hào Thượng của Ngoại hỗ, do đó đều thuộc phần trên.
Và ở đây, chúng ta có thể thấy rằng khi nói Chỉ, Túc, Vĩ, tức các bộ phận thuộc nửa phần dưới của người, của động vật, hay của sự vật là nói:
(1). Các Hào của Nội quái, nhất là Hào Sơ (Hào 1).
(2). Hào dưới cùng của Ngoại quái, tức Hào 4, chẳng hạn trường hợp các Hào Cửu Tứ Quẻ Lí và Cửu Tứ Quẻ Đỉnh ở thí dụ trên.
(3). Các Hào 2 và Hào 3 trong hệ thống Hỗ Thể: Hào 2 là Hào Sơ của Nội hỗ, trong khi Hào 3 là Hào Sơ của Ngoại hỗ, do đó đều thuộc phần dưới - chẳng hạn, ở thí dụ dẫn trên, trường hợp Hào Lục Tam Quẻ Lí.
Từ những chứng cứ độc đáo kể trên trong Dịch Kinh chúng ta có thể xác nhận thuyết cho rằng chữ 'Chi’ trong danh xưng 'Giao Chỉ’ có í nghĩa tượng trưng chỉ 1 'vị trí không gian', và vị trí đây là vị trí tận cùng dưới, nói khác đi, thuyết của Khuất Đại Quân chính xác.
Có điều, 'Giao Chỉ là ngón chân của Giao Châu’, câu này của Khuất Đại Quân cũng cần được xác định lại.
Năm thứ 6 Niên hiệu Nguyên Đỉnh (116 - 111 tr. Cn.), Hán Vũ đế chiếm Nam Việt, và sau đó phân đất này thành 9 Quận như đã nói ở 1 đoạn trước đây.
5 năm sau đó, vào khoảng cuối năm thứ 5 Niên hiệu Nguyên Phong (110 - 103 tr. Cn.) - tức là năm 106 trước Tây lịch, Hán Vũ đế cải tổ hành chánh, phân Trung Quốc thành 13 Bộ, mỗi Bộ được gọi là 1 Châu trong đó có Giao Châu. (Tư Trị Thông Giám. Qu. XXI. Hán kỉ 13. Vũ đế).
Danh xưng 'Giao Chí, như vậy, có trước 'Giao Châú, Khuất Đại Quân, do đó, không thể nào nói 'Giao Chỉ là ngón chân của Giao Châú, hiển nhiên!
Và như vậy, Giao Chỉ là 'Ngón chân' của 1 vùng đất nào đó, vùng đất mà chúng ta sẽ truy lần tới sau đây.
Cứ như í tôi, chữ 'Giao’ trong danh xưng 'Giao Chỉ’ chính là chữ 'Giao’ (có Bộ Ấp bên phải). Thời cổ, 2 chữ này nghĩa tương thông.
Sách 'Thượng Thư’ viết:
'Lỗ nhân tam giao, tam toại.'.
/ Thượng Thự Chu Thự Bí thệ /.
'Dân nước Lỗ ở 3 giới vực cận quốc đô và 3 giới vực ngoài nữa [ở 3 mặt Tây, Nam, Bắc].'.
Chú giải chữ 'giaó trên đây, Thái Trầm (1167 - 1230) triều Nam Tống (1127 - 1279) viết:
'Quốc ngoại viết Giao.', nghĩa là 'Ngoài phân giới quốc [đô] gọi là Giao.'.
'Chiến Quốc Sách' viết:
'Quân ư Hàn Đơn chi Giao.'.
/ Chiến Quốc Sách. Tề Sách 1. Hàn Đơn chi nạn /.
'[Đóng] quân ở ngoài cương giới của Hàn Đơn.'.
Chú giải chữ 'Giaó, Diêu Hoằng (? - ?) cũng thời Nam Tống viết:
'Giao, cảnh dã.', nghĩa là 'Giao có nghĩa là cương giới.'.
Hứa Thận (30 - 124), Văn Tự học gia trứ danh thời Đông Hán đã 'giải tứ chữ 'Giaó như sau:
'Giao. Cự quốc bách lí vi Giao.'.
/ Thuyết Văn Giải Tự. Qu. VỊ Hạ /.
'Giao. Cách quốc đô 1 trăm dặm gọi là Giao.'.
Sách 'Nhĩ Nhã’ viết:
'Ấp ngoại viết Giao.'.
/ Nhĩ Nhã. Thích Địa đê. Cửu /.
'Ngoài cương vực quốc đô gọi là Giao.'.
Chú thích chữ Giao trong câu trên, Hách Í Hạnh (1755 - 1823) viết:
'Giao giả, 'Thuyết Văn' vân: - 'Cự quốc bách lí vi Giao.', thử cứ 'Vương kì thiên li nhi ngôn. Thiết bách lí chi quốc tắc thập lí vi Giao hĩ. Giao hữu viễn, cận, dĩ quốc vi sai.'.
/ Nhĩ Nhã Nghĩa Sớ. Qu. Trung. 5. Thích Địa /.
'Chữ Giao, Sách 'Thuyết Văn' nói: 'Cách quốc đô một trăm dặm gọi là Giao.', định nghĩa này căn cứ định chế cổ 'lãnh địa của Thiên tử rộng một ngàn dặm.' mà nói; như quốc gia rộng một trăm dặm thì Giao địa cách quốc [Đô] có 10 dặm. Giao địa thì có Viễn Giao, có Cận Giao, tùy quốc gia lớn nhỏ mà có sai biệt.'.
[Minh Di chú.
+ 'Thuyết Văn Giải Tứ: bộ Tự điển đầu tiên của Trung Hoa. Khởi soạn năm thứ 12 Niên hiệu Vĩnh Nguyên (89 - 104), tức năm 100 thời Hán Hòa đế (79 - 105; tại vị: 89 - 105) tới năm đầu Niên hiệu Kiến Quang (121 - 122), đời Hán An đế (94 - 125; tại vị: 116 - 125) mới hoàn tất.
+ 'Nhĩ Nhá: 1 tập giải thích ngữ từ, danh vật, gồm 19 thiên, tương truyền là Chu Công (? - ? ) triều Chu (1121 - 256 tr. Cn.) soạn, có thuyết nói môn đê. Khổng Tử (551 - 479 tr. Cn.) soạn.... Gần sự thực, có lẽ đây là những ghi chép của thầy, trò trong khi giảng học, hay nói khác đi, do nhiều người viết, giữa 2 triều Tần (221 - 206 tr. Cn.) - Hán (206 tr. Cn. - 220), và sau đó được tập thành Sách].
Qua những định nghĩa trong thư tịch cổ, cũng như của học giả chú giải Kinh điển dẫn trên đây có thể nói chữ 'Giaó phiếm chỉ những vùng đất xa xôi, kể cả vùng biên địa, của 1 quốc giạ
Và, như đã nói ở trên, Giao địa thì có 'Cận Giaó, có 'Viễn Giaó. Nhưng, đến như 'Giao Chí rồi chẳng còn Giao địa nào xa hơn nữa. Giao Chỉ là 1 'Viễn Giaó tận cùng, 1 Giao địa xa hơn tất cả các Giao địa.
Kết lại, từ Giao Chỉ có nghĩa: - 'Ngón Chân tiếp giáp biên địa tận cùng viễn của quốc gia’, và quốc gia ở đây là Trung Quốc.
Và như vậy, hiểu 'Giao Chỉ là Ngón Chân của Giao Châu’, như Khuất Đại Quân đã nhận định thì vẫn còn phần nào thiếu chính xác, tuy rằng ông rất hữu lí khi nhận định chữ 'Chí ở đây có hàm nghĩa là 'tận cùng'.
Sau cùng, sách 'Thượng Thứ chép:
'Thân mệnh Hi Thúc trạch Nam Giao.'.
/ Thượng Thự Ngu Thự Nghiêu Điển /.
'Lệnh cho Hi Thúc ra trấn đất Nam Giao.'.
Chú giải danh xưng 'Nam Giaó, Thái Trầm viết:
'Nam Giao, Nam phương Giao Chỉ chi địa.' ['Nam Giao, đất Giao Chỉ ở phương Nam.'].
Chữ 'Giaó trong các danh xưng 'Nam Giaó và 'Giao Chí là 1 - chữ 'Giaó không có Bộ Ấp. Thư tịch sau đó, vì lí do tồn cổ, đã viết Chữ 'Giaó trong tên gọi 'Giao Chí không có Bộ Ấp. Vùng đất 'Giao Chí, ngoài sách 'Lễ Ki đã dẫn còn thấy trong nhiều thư tịch cổ khác, chỉ dẫn ra đây 1 vài tác phẩm để tham khảo:
(1). Đại Đái Lễ Kí. Qu. VII. Ngũ Đế đức.
Qu. XỊ Thiểu gián.
Đái Đức (? -?) san định từ Kinh Điển cổ về Lễ mà soạn thành vào khoảng dưới triều Tây Hán thời Hán Tuyên đế (90 - 49 tr. Cn.; tại vị: 74 - 49).
(2). Mặc Tử. Qu. VỊ Tiết Dụng. Trung.
Mặc Địch (480 - 390 tr. Cn.) cuối thời Xuân Thu (770 - 403 tr. Cn.) soạn.
(3). Thi Tử. Qu. Hạ.
Thi Giảo (390 - 330 tr. Cn.) thời Chiến Quốc (403 - 221) soạn.
(4). Hàn Phi Tử. Qu.. III. Thập Quá.
Hàn Phi (280 - 233 tr. Cn.) soạn.
(5). Tân Thự Qu. IX. Tu Chính Ngữ. Thượng.
Giả Nghị (200 - 168 tr. Cn.) thời Tây Hán soạn.
(6). Hoài Nam Tử. Qu. XIX. Tu Vụ Huấn.
Lưu An (179 - 122 tr. Cn.) thời Tây Hán soạn.
Tuy nhiên, trong những thư tịch kể trên, Giao Chỉ chỉ được đề cập một cách rất tổng quát, như là 1 quốc gia nào đó cuối trời Nam Trung Quốc. Những vấn đề như cương thổ quốc gia, và rồi tổ chức chính trị, xã hội, ngôn ngữ, văn tự.... thì không thấy nói.
*
Về Cương vực Giao Chỉ.
Như đã biết, vào năm 111 trước công nguyên, Hán Vũ đế chiếm đất Nam Việt, và năm sau đó đã phân đất này thành 9 Quận, trong đó có quận Giao Chỉ.
Cứ Địa dư cổ, Quận Giao Chỉ gồm toàn miền Bắc Việt Nam ngày nay, nghĩa là mạn dưới giáp tỉnh Thanh Hóa. Vấn đề ở đây là: - Cương vực của quận Giao Chỉ đề cập ở đây rồi có phải là Cương vực của vùng đất gọi là 'Giao Chỉ’ ghi trong thư tịch cổ trước đó - trước năm 111 trước công nguyên hay không?
Cứ như suy đoán của tôi, Cương vực của đất Giao Chỉ trước năm 111 kể trên bao quát luôn cả 2 Quận Cửu Chân và Nhật Nam, nghĩa là trải dài cho tới tỉnh Phú Yên ngày nay, tức ở khoảng Vĩ tuyến 12 o 48' đã dẫn trước đây. Thời cổ, có thể 2 Quận Cửu Chân và Nhật Nam chủ yếu là địa bàn sinh hoạt của 1 số chủng tộc khác, nhưng về phương diện chính trị thì thống nhất dưới sự điều hành của Việt tộc - có thể suy đoán vậy. Chính trị thống nhất, đương nhiên danh xưng cương thổ cũng thống nhất.
Cần mở ngoặc ở đây là 'Giao Chỉ’ chỉ là danh xưng người Trung Quốc thời cổ đã tự đặt ra gọi chúng ta. Thời cổ, lãnh thổ của người Việt đương nhiên phải có 1 danh xưng nào đó ( và cũng đương nhiên không phải bất cứ 1 danh xưng Hán tự nào. Sau khi chiếm được đất Việt, Hán tộc đã xóa tên cũ đi, đổi tên khác, để người Việt quên đi nguồn gốc mình. Nhưng, ngày nay thì đã không còn tư, sử liệu nào khả dĩ khảo chứng vấn đề.
Cho tới sau khi chiếm cứ đất Nam Việt thì Hán triều đã phân chia đất 'Giao Chỉ’ thành 3 vùng với 3 tên gọi khác nhau là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam - như đã biết. Và đây cũng chính là điều mà sau này, ngót 2000 năm sau, vào thời Cận đại, thực dân Pháp đã làm sau khi chiếm cứ toàn lãnh thổ Việt Nam, là phân chia lãnh thổ Việt Nam làm 3 Miền, với 3 tên gọi khác nhau - Miền Bắc là Tonkin, Miền Trung là Annam, và Miền Nam là Cochinchine.
Mục đích của những phân chia nói trên cũng không có gì là khó hiểu: Chia để Trị.
*
Việt Thường: - Thường là phần dưới của I phục.
Giao Chỉ: - Chỉ là Ngón chân.
Từ thời rất cổ Trung Quốc vẫn coi Việt Nam như là 1 phần đất của họ, họ coi Việt nam như là phần 'Thường' trong phần 'Í của họ, như là 1 'Ngón Chân' của cơ thể họ. Từ sau năm 111 và sau đó trải suốt hơn ngàn năm (và ngay cho đến bây giờ, lúc nào Phương Bắc cũng muốn đính kết cái phần 'Thường' đó, gắn liền cái 'Ngón Chân' đó về phía họ. Nhưng rồi chưa bao giờ họ được như í muốn, và ngày nào dân tộc Việt còn giữ được truyền thống bất khuất của tiền nhân thì ngày đó Trung Quốc không thể nào thực hiện được giấc mộng mà tiền nhân họ đến hao tổn bao tâm trí, xương máu mà giấc mộng vẫn là giấc mộng.
*
Theo 1 số thư tịch cổ Trung Hoa, cương vực nước Việt Thường cổ trải từ tỉnh Quảng Bình đến tỉnh Phú Yên Việt Nam hiện nay, và đây chính là cương vực quận Nhật Nam thời Tây Hán.
Nhưng bên cạnh đó lại có 1 số sách khác cho rằng cương vực Việt Thường trải lên tới Hà Tĩnh hiện nay.
Dưới thời Tam Quốc (220 - 280), Ngô triều (222 - 280) Tôn Hạo (242 - 283; tại vị: 264 - 280) phân cát quận Cửu Chân để thành lập quận Cửu Đức.
Cương vực quận Cửu Chân bao quát các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh hiện nay. Sau khi bị phân cát thì chỉ còn phần Thanh Hóa.
Cương vực quận Cửu Đức bao quát 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, và số huyện quản hạt cũng đã tùy triều đại mà thay đổi. Như thời Tam Quốc, Ngô triều phân 7 huyện, thời Nam Bắc triều thì Tống triều (420 - 479) phân 11 huyện, Tề triều (479 - 502) lập 7 huyện......
Nhưng, dù là thuộc Châu, hay thuộc Quận thì thời nào cũng lập huyện Việt Thường - có lẽ để kỉ niệm Nước Việt Thường xưa. Chẳng hạn thời Đường Đức tông (742 - 805; tại vị: 779 - 805) Việt Thường là 1 trong 4 huyện thuộc quận Nhật Nam (bao quát Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay) kể như sau: Cửu Đức, Việt Thường, Hoài Hoan, Phố Dương. Và cũng cần nói rõ là thời Đường Châu và Quận kiêm xưng cho nên các địa khu hành chánh đều có 2 tên gọi khác nhau - nhưng cũng có 1, 2 trường hợp hiếm hoi cùng tên - 1 tên gọi Quận, và đồng thời 1 tên gọi Châu. Như ở đây, cùng 1 Địa khu, tên Quận là Nhật Nam, mà tên Châu là Hoan Châu. Cũng vậy, nếu như nói Quận thì Cửu Chân (Thanh Hóa hiện nay) là tên Quận, nói Châu thì gọi Ái Châu.
Tới Tùy triều (581 - 618) thì có thay đổi về Địa lí hành chánh, triều đình bãi quận Cửu Đức để đổi tên gọi là quận Nhật Nam, và, các huyện thuộc quận Cửu Đức trước đó cũng có một vài sự thay đổi, có huyện bị phế, có huyện đổi tên, nhưng huyện Việt Thường thì vẫn tồn tại.
Và, sớm nhất là cho tới năm thứ 17 Niên hiệu Trinh Nguyên (785 - 805) - năm 801, dưới triều Đường Đức tông, năm học giả Đỗ Hựu (735 - 812) soạn xong Bộ 'Thông Điển', thì danh xưng Việt Thường vẫn còn thấy trong danh mục Địa lí hành chánh thời bấy giờ, và có lẽ rồi trải trọn thời gian còn lại của triều đại này - vì sau năm vừa kể trên không thấy 1 ghi chép nào về vùng đất này. Đây là vì Đường triều đã bước qua thời kì suy vi, không còn đủ lực để kiểm soát được vùng đất nước mà họ đã cai trị, đã lập thành quận, thành huyện của họ cũng hơn 1000 năm; và trải hơn 500 năm - từ thời Tam Quốc cho đến Đường triều, Trị sở của huyện Việt Thường vẫn không dời đổi, vẫn i nhiên chỗ cũ.
Trên Bản đồ Lịch sử:
Việt Thường vị trí ở Vĩ tuyến 18 o 25', trị sở huyện cũ cách tỉnh li. Hà Tĩnh ngày nay 20 cây số về phía Tây bắc.
*
(Kỳ 3)
[III]. An Nam.
Danh xưng 'An Nam' có sau các danh xưng 'Việt Thường' và 'Giao Chỉ’ khá lâu.
Cho tới triều Tùy (581 - 618), vùng đất gọi là 'Giao Chỉ’, về cấp độ hành chánh, trước sau vẫn là 1 Quận. Chuyển qua triều Đường (618 - 907) thì có những thay đổi, mà Lưu Hú (888 - 947) đời Hậu Tấn (936 - 947) đã ghi lại trong bộ 'Cựu Đường Thư’ như sau:
+ Năm thứ 5 Niên hiệu Vũ Đức (618 - 626), năm 622.
Đổi Giao Chỉ quận thành 'Giao Châu Tổng Quản Phú.
+ Năm đầu Niên hiệu Điều Lộ (679 - 680), năm 679, tháng 8.
Đổi 'Giao Châu Đô Đốc Phú thành 'An Nam Đô Hộ Phú.
+ Năm thứ 2 Niên hiệu Chí Đức (756 - 758), năm 757, tháng 9.
Đổi 'An Nam Đô Hộ Phú thành 'Trấn Nam Đô Hộ Phú, sau đó lại trở lại tên 'An Nam Phú.
(Tham khảo: 'Cựu Đường Thứ. Qu. XLI. Địa Lí chí. Địa Lí 4).
Về thời điểm thành lập 'An Nam Đô Hộ Phú thì bộ 'Đường Hội Yếú, chi tiết hơn, còn ghi rõ cả ngày: - Ngày 7 tháng 8, năm đầu Niên hiệu Điều Lộ (Qu. LXXIII. An Nam Đô Hộ Phủ).
Ngoài ra, 1 vài Sử liệu sau đó ít lâu như bộ 'Tân Đường Thứ của Âu Dương Tu (1007 - 1072) và Bộ 'Đường Hội Yếú của Vương Phổ (922 - 982) - đều ở thời Bắc Tống (960 - 1127), cũng đã có 1 vài chi tiết bổ túc.
Từ tên gọi 'Trấn Nam Đô Hộ Phú trở lại với danh xưng 'An Nam Đô Hộ Phú trước đó thì bộ 'Cựu Đường Thứ đã không ghi lại thời điểm, nhưng bộ 'Tân Đường Thứ thì cho biết:
'Chí Đức nhị tái viết Trấn Nam Đô Hộ Phủ, Đại Lịch tam niên phục vi An Nam.'.
/ Tân Đường Thự Qu. XLIII. thượng. Địa Lí chí. Địa Lí 3. thượng /.
'Năm thứ 2 Niên hiệu Chí Đức gọi là Trấn Nam Đô Hộ Phủ, năm thứ 3 Niên hiệu Đại Lịch thì trở lại tên An Nam [Đô Hộ Phủ].'.
[Đại Lịch: Niên hiệu của Đường Đại tông (726 - 779; tại vị: 762 - 779), từ 766 đến 779].
Nhưng, từ 'Giao Châu Tổng Quản Phú đổi thành 'Giao Châu Đô Đốc Phú thì rồi 2 bô. Sử thư Tân, Cựu 'Đường Thứ đều không cho biết sự kiện này đã xảy ra vào thời điểm nào? Điều này có thể tìm thấy trong bộ 'Thông Điển' và bộ 'Đường Hội Yếú.
Đỗ Hựu ghi trong 'Thông Điển':
'Đại Đường Vũ Đức sơ, cải Quận vi Châu, Thái thú vi Thích sử. Kì biên trấn cập khâm đái chi địa trí Tổng Quản Phủ dĩ lãnh quân nhung. Chí thất niên cải Tổng Quản Phu vi Đô Đốc Phủ.'.
/ Thông Điển. Qu. CLXXII. Chậu Quận 2. Tự mục. Hạ. Đại Đường /.
'Vào đầu Niên hiệu Vũ Đức, triều Đại Đường, đổi [gọi] Quận là Châu, Thái thú là Thích sử. Ở các vùng biên trấn cũng như các vùng có địa thế hiểm yếu thì thiết lập Tổng Quản Phủ để nắm giữ binh quyền. Tới năm thứ 7 thì đổi Tổng Quản Phủ thành Đô Đốc Phủ.'.
Vương Phổ chép trong 'Đường Hội Yếu’:
'Vũ Đức thất niên nhị nguyệt thập nhị nhật, cải Đại Tổng Quản Phủ vi Đại Đô Đốc Phủ. Quản thập châu dĩ thượng, vi Thượng Đô Đốc Phủ; bất mãn thập châu, chỉ vi Đô Đốc Phủ. Chí Khai Nguyên nguyên niên tứ lệnh hộ mãn nhị vạn dĩ thượng vi Trung Đô Đốc Phủ, bất mãn nhị vạn vi Hạ Đô Đốc Phủ.'.
/ Đường Hội Yếu. Qu. LXVIII. Đô Đốc Phủ /.
'Năm thứ 7 Niên hiệu Vũ Đức, ngày 12 tháng 2 đổi [danh xưng] Đại Tổng Quản Phủ lại thành Đại Đô Đốc Phủ. Quản hạt 10 châu trở lên là Thượng Đô Đốc Phủ; chưa đến 10 châu thì chỉ là Đô Đốc Phủ. Đến năm đầu Niên hiệu Khai Nguyên thì có lệnh [Phủ] nào 2 vạn nóc gia trở lên thì thuộc cấp Trung Đô Đốc Phủ, chưa tới 2 vạn nóc gia là Hạ Đô Đốc Phủ.'.
Tổng kết lại về danh xưng An Nam thì như sau:
+ Năm 622: Thành lập Giao Châu Tổng Quản Phủ.
Đường Cao tổ (566 - 635; tại vị: 618 - 626), năm thứ 5 Niên hiệu Vũ Đức (618 - 626).
+ Năm 624: Đổi Giao Châu Tổng Quản Phủ thành Giao Châu Đô Đốc Phủ.
Năm thứ 7 Niên hiệu Vũ Đức.
+ Năm 679: Đổi Giao Châu Đô Đốc Phủ thành An Nam Đô Hộ Phủ.
Đường Cao tông (628 - 683; tại vị: 649 - 683), năm đầu Niên hiệu Điều Lộ (679 - 680).
+ Năm 757: Đổi An Nam Đô Hộ Phủ thành Trấn Nam Đô Hộ Phủ.
Đường Túc tông (711 - 762; tại vị: 756 - 761), năm thứ 2 Niên hiệu Chí Đức (756 - 758).
+ Năm 768: Trở lại với danh xưng An Nam Đô Hộ Phủ.
Đường Đại tông (726 - 779; tại vị: 762 - 779), năm thứ 3 Niên hiệu Đại Lịch (766 - 779).
Sau cùng, về sự thành lập 'An Nam Đô Hộ Phú thì những ghi chép của các Sử liệu giá trị vừa dẫn trên tuy là những ghi chép xác thực, nhưng cũng cần nêu ở đây là 'Đường Lục Điển',
1 Bộ sách ghi chép về quan chế của Đường triều, do nhóm Lí Lâm Phủ (? - 752) biên soạn, lại chép có khác. Trong 1 đoạn tự chú thích về các chức Quan thuộc Đô Đốc Phủ và Đô Hộ Phủ, nhóm biên soạn có câu viết:
'Hoàng triều Vĩnh Huy trung thủy trí An Nam, An Tây Đại Đô Hộ.'.
/ Đường Lục Điển. Qu. XXX. Tam Phủ, Đốc, Hộ, Châu Huyện quan lại /.
'Trong khoảng Niên hiệu Vĩnh Huy của hoàng triều chúng ta thì bắt đầu thiết lập các [Cơ cấu] An Nam Đại Đô Hộ và An Tây Đại Đô Hộ.'.
[Vĩnh Huy là Niên hiệu của Đường Cao tông. Niên hiệu này trải từ năm 650 đến năm 655].
Cứ như đoạn văn vừa dẫn thì sự thành lập 'An Nam Đô Hộ Phú đã xảy ra trước đó, trước năm như ghi chép của 'Thông Điển', của Tân, Cựu 'Đường Thứ và 'Đường Hội Yếú trên 20 năm.
Thuyết trên đây của 'Đường Lục Điển' về sự thành lập 'An Nam Đô Hộ Phú từ trước đến nay rất ít khi được nhắc tới, dầu rằng đây cũng là 1 tác phẩm có giá trị, biên soạn nghiêm cẩn.
Sau đó, Việt Nam tuy đã độc lập, nhưng trong thư tịch người Trung Quốc thời trước rồi vẫn cứ gọi đất nước chúng ta là An Nam, hoặc đôi lúc là Giao Chỉ, dù rằng trong thời kì này chúng ta có 1 số Quốc hiệu khác nhau, tùy triều đại. Sở dĩ vậy là vì qua 'con mắt' của họ, họ rồi vẫn cứ coi những triều đại Việt Nam của chúng ta thời Cổ là tiếm hiệu, nói cho rõ hơn, không lúc nào người Trung Hoa lại không coi Việt Nam như 1 phần đất của họ.
*
Thời cổ, đối với các dân tộc chung quanh, Trung Quốc luôn có mộng thôn tính để bành trướng lãnh thổ. Các tước phong cho các tướng chỉ huy quân đội viễn chinh Trung Quốc thời cổ rồi là những biểu lộ rõ rệt về giấc mộng đó, chẳng hạn như 'Định Viễn', 'Trấn Viễn', 'Phục Bá, và 'An Viễn', 'An Tâý, 'An Nam'....
Về An Nam thì các sách đều cho rằng danh xưng An Nam bắt đầu từ thời Đường.
Nếu là 1 danh xưng địa lí, nói khác đi là danh xưng chuyên chỉ 1 vùng đất, 1 lãnh thổ, thì điều nói trên chính xác.
Nhưng nếu là 1 danh xưng biểu lộ thái độ bá chủ của Trung Quốc thì phải đi ngược lên đâu đó 500 năm nữa.
Bộ 'Tam Quốc Chi của Trần Thọ (233 - 297) thời Tây Tấn (265 - 317) chép:
'Lữ Đại, tư. Định Công, Quảng Lăng Hải Lăng nhân dã......
Diên Khang nguyên niên, đại Bộ Chất vi Giao Châu Thích Sử. Đáo Châu, Cao Lương tặc súy Tiền Bác khất hàng. Đại thừa chế, dĩ Bác vi Cao Lương Tây bô. Đô úy. Hựu Uất Lâm di tặc công vi quận, huyện, Đại thảo phá chi. Thị thời Quế Dương, Trinh Dương tặc Vương Kim hợp chúng ư Nam Hải giới thượng thủ loạn vi hại, Quyền hựu chiếu Đại thảo chi, sinh phọc Kim, truyền tống nghê. Đô, trảm thủ, hoạch sinh phàm vạn dư nhân. Thiên An Nam Tướng quân.'.
/ Tam Quốc Chí. Qu. LX. Ngô Thư 15. Hạ. Toàn. Lữ. Chu. Chung Li truyện /.
'Lữ Đại, tên Tự là Định Công, người huyện Hải Lăng, quận Quảng Lăng…
Năm đầu Niên hiệu Diên Khang, thay Bộ Chất nhiệm chức Thích Sử ở Giao Châu. Lữ Đại đến Giao Châu tên cầm đầu giặc ở [quận] Cao Lương là Tiền Bác xin hàng. Lữ Đại nhân thừa lệnh [Ngô vương] để Tiền Bác giữ chức Đô úy ở Tây bô. Cao Lương. Và giặc man di quận Uất Lâm tấn công, vây các hãm quận, huyện, Lữ Đại đánh dẹp hết. Bấy giờ tên giặc Vương Kim ở vùng Quế Dương, Trinh Dương tụ đám ở biên giới quận Nam Hải, cầm đầu làm loạn, gây hại, [Tôn] Quyền lại ra chiếu chỉ cho Lữ Đại đi đánh bắt sống được Vương Kim giải về Kinh Đô, còn thì chém đầu và bắt sống tổng cộng hơn 10 ngàn tên. Cải chức An Nam Tướng quân.'.
Ngoài ra 'Tam Quốc Chi còn có vài chỗ đề cập 1 số nhân vật có tước hiệu trong đó có 2 tiếng An Nam, có thể kể:
+ Quách Mã (? - 279), 1 phản tướng thời Tôn Hạo, khi nổi dậy phản chống lại Ngô triều, đã tự xưng là 'An Nam Tướng quân'.
(Qu. XLVIII. Tam Tự Chủ truyện. Tôn Hạo).
+ Lục Dận (? - ? ), em Lục Khải (198 - 269), biên tướng Ngô triều đời Ngô vương Tôn Hạo đã từng có các tước phong 'An Nam Hiệu úý và 'An Nam Tướng quân'.
(Qu. LXI. Phan Tấn, Lục Khải truyện).
Chú thích.
+ Lữ Đại (161 - 256).
+ Diên Khang (220), Niên hiệu của Hán Hiến đế (181 - 234; tại vị: 190 - 220).
+ Tôn Quyền (182 - 252; tại vị: 229 - 252).
#
Thư Mục.
Hán văn.
[1]. Chu Dịch Vương, Hàn Chú.
Tam Quốc - Ngụy. Vương Bật chú (Kinh).
Đông Tấn. Hàn Khang Bá chú (Truyện).
Tân Hưng Thư Cục (ĐL) 1961 / Sợ
[2]. Thư Kinh Độc Bản.
Nam Tống. Thái Trầm chú.
Đại Phương Xuất Bản Xã (ĐL) 1978 / Sợ
[3]. Kim Văn Thượng Thư Khảo Chứng.
Thanh. Bì Tích Thụy.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1989 / Sợ
[4]. Lễ Kí Chú.
Đông Hán. Trịnh Huyền chú.
Thập Tam Kinh Bản.
Thượng Hải cô? Tịch Xuất Bản Xã 1997 / Sợ
[5]. Lễ Kí Chính Nghĩa.
Đường. Khổng Dĩnh Đạt.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã 1990 / Sợ
[6]. Lễ Kí Tập Giải.
Thanh. Tôn Hi Đán tập giải.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1989 / Sợ
[7]. Hiếu Kinh Viện Thần Khế.
Khuyết danh.
Vĩ Thư Tập Thành Bản.
Nhật. An Cư Hương Sơn & Trung Thôn Chương Bát tập.
Hà Bắc Nhân Dân Xuất Bản Xã 1994 / Sợ
[8]. Chiến Quốc Sách.
Tây Hán. Lưu Hướng tập.
Triệu Tống. Diêu Hoằng tục chú.
Bảo Bưu tân chú.
Nguyên. Ngô Sư Đạo bổ chính.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã 1995 / 4.
[9]. Hán Thự
Đông Hán. Ban Cố.
Đường. Nhan Sư Cổ chú.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1983 / 4.
[10]. Hậu Hán Thư Tập Giải.
Lưu Tống. Phạm Việp.
Nam Bắc Triều - Lương. Lưu Chiêu chú bổ.
Thanh. Vương Tiên Khiêm tập giải.
Dân Quốc. Hoàng Sơn hiệu bổ.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1984 / Sợ
[11]. Tam Quốc Chí.
Tây Tấn. Trần Thọ.
Nam Bắc Triều - Tống. Bùi Tùng Chi chú.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1985 / 8.
[12]. Tấn Thự
Đường. Đường Thái tông.
[13]. Tống Thự
Nam Bắc Triều - Lương. Thẩm Ước.
[14]. Tề Thự
Nam Bắc Triều - Lương. Tiêu Tử Hiển.
[15]. Lương Thự
Đường. Diêu Tư Liêm.
[16]. Tùy Thự
Đường. Trưởng Tôn Vô Ki..
[17]. Cựu Đường Thự
Ngũ Đại - Hậu Tấn. Lưu Hủ.
[18]. Tân Đường Thự
Bắc Tống. Âu Dương Tụ
Nhị Thập Ngũ Sử Bản. (7 bô. Sử thư ghi số hạng từ [12] đến [18])
Thượng Hải Cổ tịch Xuất Bản Xã 1991 / 8.
[19]. Tư Trị Thông Giám.
Bắc Tống. Tư Mã Quang.
Nguyên. Hồ Tam Tỉnh chú.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1987 / 7
[20]. Đường Hội Yếu.
Bắc Tống. Vương Phổ.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã 1991 / Sợ
[21]. Đường Lục Điển.
Đường. Lí Lâm Phủ chủ biên.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1992 / Sợ
[22]. Thông Điển.
Đường. Đỗ Hựu.
Chiết Giang Cổ Tịch Xuất Bản Xã 2000 / Sợ
[23]. Thủy Kinh Chú Sớ.
Tây Hán. Tang Khâm.
Nam Bắc Triều - Bắc Ngụy. Lịch Đạo Nguyên chú.
Dân Quốc. Dương Thủ Kính & Hùng Hội Trinh sớ.
Giang Tô Cổ Tịch Xuất Bản Xã 1999 / 2.
[24]. Quát Địa Chí Tập Hiệu.
Đường. Lí Thái.
Hạ Thứ Quân tập hiệu.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1980 / Sợ
[25]. Quảng Đông Tân Ngữ.
Thanh. Khuất Đại Quân.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1985 / Sợ
[26]. Trung Quốc Lịch Sử Địa Đồ Tập.
Nhị Sách. Tần. Tây Hán. Đông Hán thời kì.
Tam Sách. Tam Quốc. Tây Tấn thời kì.
Tứ Sách. Đông Tấn Thập Lục Quốc. Nam Bắc Triều thời kì.
Ngũ Sách. Tùy. Đường. Ngũ Đại Thập Quốc thời kì.
Đàm Kì Tương chủ biên.
Địa Đồ Xuất Bản Xã (TQ) 1982 / Sợ
[27]. Trung Quốc Lịch Sử Đại Từ Điển (Sử học Sử quyển).
Sử Học Sử Quyển Biên Toản Ủy Viên Hội.
Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã 1983 / Sợ
[28]. Trung Quốc Lịch Sử Đại Từ Điển (Tùy. Đường. Ngũ Đại sử).
Chủ biên. Dương Chí Cửu & Ngô Phong.
Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã 1995 / Sợ
[29]. Trung Quốc Lịch Đại Danh Nhân Từ Điển.
Nam Kinh Đại Học Lịch Sử Hệ.
Trung Quốc Lịch Đại Danh Nhân Từ Điển Biên Tả tổ.
Giang Tây Nhân Dân Xuất bản Xã 1982 / Sợ
[30]. Mặc Tử Nhàn Cổ.
Xuân Thụ Mặc Địch.
Thanh. Tôn Di Nhượng chú.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1986 / Sợ
[31]. Hàn Phi Tử Tập Giải.
Chiến Quốc. Hàn Phị
Thanh. Vương tiên Thận tập giải.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1998 / Sợ
[32]. Thi Tử.
Chiến Quốc. Thi Giảo.
Thanh. Uông Kế Bồi tập.
[33]. Tân Thự
Tây Hán. Giả Nghị.
Thanh. Lư Văn Chiêu hiệu.
[34]. Hoài Nam Tử.
Tây Hán. Lưu An.
Đông Hán. Cao Dụ chú.
Thanh. Trang Quì Cát hiệu.
Nhị Thập Nhị Tử Bản. (từ [32] đến [34]).
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã 1996 / 8.
[35]. Hàn Thi Ngoại Truyện.
Tây Hán. Hàn Anh.
[36]. Đại Đái Lễ Kí.
Tây Hán. Đái Đức.
[37]. Thuyết Uyển.
Tây Hán. Lưu Hướng.
Hán Ngụy Tùng Thư Bản. (từ [35] đến [37])
Minh. Trình Vinh toản tập.
Cát Lâm Đại Học Xuất Bản Xã 1992 / Sợ
[38]. Luận Hành Hiệu Thích.
Đông Hán. Vương Xung.
Dân Quốc. Hoàng Huy hiệu thích.
Lưu Phiến Toại tập giải.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1990 / Sợ
[39]. Văn Tuyển.
Nam Bắc Triều - Lương. Tiêu Thống tuyển.
Đường. Lí Thiện chú.
Thương Vụ Ấn Thư Quán (HC) 1978 / Trùng ấn.
[40]. Nghệ Văn Loại Tụ.
Đường. Âu Dương Tuân.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã 1982 / Sợ
[41]. Nhĩ Nhã Nghĩa Sớ.
Khuyết danh.
Thanh. Hách Í Hạnh nghĩa sớ.
Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã 1983 / Sợ
[42]. Thuyết Văn Giải Tự Nghĩa Chứng.
Đông Hán. Hứa Thận.
Thanh. Quế Phức nghĩa chứng.
Tề Lỗ Thư Xã (TQ) 1987/Sợ
[43]. Từ Nguyên (Tu đính Súc ấn Hợp đính Bản).
Quảng Đông. Quảng Tây. Hồ Nam. Hà Nam Tu đính tổ.
Thương Vụ Ấn Thư Quán (HC) 1987/Sợ
[44]. Từ Hải (Hợp đính Bản. 1947 Sơ Bản).
Chủ biên: Thư Tân Thành. Thẩm Dị Từ Nguyên Cáo. Trương Tướng.
Trung Hoa Thư Cục (HC) 1983 / Trùng ấn.
[45]. Từ Vị.
Văn Hóa Đồ Thư Biên Thẩm Ủy Viên Hội.
Chủ biên. Lục Sư Thành.
Văn HóaĐồ Thư Công Ti (ĐL) 1985 / Khuyết.
-----------------------------------------------------
(Kỳ 4)
Mị Châu. Mị Nương.
22 - 28 (30).
&
Tôi thường hỏi người câu hỏi này:
- Con gái An Dương Vương tên gì?
Và dĩ nhiên câu trả lời bao giờ cũng là:
- Mỵ Châu.
Tôi nói không phải thì người hỏi lại:
- Không phải Mỵ Châu, vậy là gì?
Tôi trả lời:
- Tôi cũng không biết.
Người chợt cười khà:
- Ông hỏi người ta, tưởng ông biết, ai dè ông cũng không biết luôn!
Tôi không biết con gái An Dương Vương tên là gì, tôi chỉ biết mỗi điều: - 'Mị Châu’, Châu là Ngọc trai. Và ngọc trai thì không hiếm người biết. Thế nhưng, tôi vẫn nói chuyện Ngọc trai.
Châu (cũng đọc âm Chu) là tiếng Hán Việt, dịch qua Việt ngữ là Ngọc trai.
*
Theo học giả Khuất Đại Quân (1630 - 1696) phẩm loại Ngọc trai rất nhiều, tùy loại tốt xấu mà danh xưng cũng khác đi.
Nói chung, dạng ngọc tròn trịa, ánh lấp loáng, sớ nhỏ mịn, và không có lằn chắp nối thì có tên là 'Tinh Chu’, ánh nửa sáng nửa mờ là 'Thốn Quang Chu’; kém nữa thì có loại 'Nhục Chu’ và kém nữa thì có các loại 'Tháo Chu’, 'Dược Chu’. Còn loại Ngọc trai lớn mà hơi méo được gọi là 'Đang Chu’ - loại mà dân vùng Nam hải gọi là 'Minh Đang'. Ngoài ra, thời cổ người ta còn phân biệt các loại như: ( 'Tẩu Chu’, 'Hoạt Chu’, 'Lỗi Lõa Chu’, 'Quan Vũ Chu’, 'Thuế Chu’, 'Tổng Phù Chu’, 'Bại Chu’ mà ngày nay không ai có thể biện biệt cho hết được.
Nói chung, Ngọc trai có sắc trắng là Ngọc trai quí, sắc vàng không giá trị là mấy. Ngọc trai có sắc trắng đa số thấy ở các vùng biển có độ mặn thấp, ở các vùng biển có độ mặn cao Ngọc trai thường có sắc vàng. Nước biển mặn, trong khi độ mặn tại những vụng nước sinh sản Ngọc trai lại thấp hơn. Nước ít mặn Trai mới kết ngọc, đây là do tinh hoa của Ánh Trăng dồn vào những chỗ này mà nên. Cho nên, Ngọc trai sinh sản ở giữa vụng nước thì có sắc trắng, sinh ở bên các ven vụng thì có sắc vàng. Ở bên ven thì nước biển chao động, khí mặn thẩm thấu, do đó mà có sắc vàng.
Ngoài ra, Trăng cũng có ảnh hưởng tới Ánh Sắc của Ngọc trai. Vào những đêm Thu, trên biển trời quang đãng, trong veo, và đỏ au như ráng trời chiều, chớp chớp, thì người ta gọi đây là lúc Trai rửa ngọc. Vào đêm Trăng sáng ngọc sẽ trắng.
Ngọc trai được gọi là 'Thần Thai’, là kết tinh của ánh Trăng, sự phát triển của Ngọc trai do đó rồi tùy thuộc chu trình vận hành của Trăng - Trăng khuyết Ngọc cũng khuyết hãm, Trăng tròn Ngọc cũng theo đó mà no đầy. Ngọc trai kết tinh từ ánh Trăng, sinh đã khó, cho nên kiếm gặp được cũng không phải dễ dàng. Vào giữa Thu là thời điểm Trai bắt đầu kết ngọc, giữa Thu mà không có Trăng thì Trai cũng không kết Ngọc.
Bên cạnh đó, cũng liên quan việc kết ngọc, mỗi khi trời nổi sấm Trai cũng hao tổn để rồi ngọc không phát triển bình thường được.
Ngoài ra, người ta cũng căn cứ trọng lượng của Ngọc trai mà định mức độ quí. Ngọc trai nặng 7 phân gọi là Trân, nặng 8 phân gọi là Bảo (01 phân = 0. 373 gr.), vì vậy mà tục có thành ngữ là 'Thất Trân Bát Bảo’. Giá của loại 'Thất Trân Bát Bảo’ này thực khó mà nói.
Nhìn ở một khía cạnh khác, người ta lại phân biệt 'Sinh Chu’, 'Tử Chu’ và 'Dưỡng Chu’.
Vào ngày Trai 'rửa ngọc', lấy Ngọc nhằm lúc Trai tự động há vỏ là tốt hơn hết, loại Ngọc này được mệnh danh là 'Sinh Chu’, nước ngọc sáng, bóng. Phải cạy vỏ Trai lấy thì Ngọc này được gọi là 'Tử Chu’ (Ngọc chết), còn 'Dưỡng Chu’ tức Ngọc trai nhân tạo.
Mùa 'Sinh Chu’ khởi đầu vào ngày Rằm tháng 2. Trước khi xuống biển lấy Ngọc trai người ta giết bò, heo, dê, chó, gà (gọi chung là 'Ngũ Sanh'), 5 gia súc dùng trong việc Tế Tự, để làm lễ cầu phúc. Trong việc Tế Tự mà có í bất kính, hoặc lễ vật không được tinh khiết thì biển sẽ nổi sóng dữ, hoặc sẽ có loài cá lớn, dữ lẩn quẩn bên Trai, do đó mà không lấy được ngọc. Và, tế lễ thì người ta hướng về Bạch Long Trì (là 1 vụng biển tiếp cận xứ Giao Chỉ, nơi nổi tiếng là có nhiều Ngọc trai, nhưng vực nước quá sâu để có thể lặn tới đáy để mò Trai) để cầu Thần Ngọc dời Trai qua vùng biển cạn hơn.
Về những nơi có nhiều Ngọc trai thì vùng biển Hợp Phố gồm có 7 vụng, vụng lớn có các vụng Bình Giang, Dương Mai, Thanh Anh, để kế đến là Ô Nê, Bạch Sa, Đoạn Vọng, Hải Trư Sa, và lớn hơn hết là vụng 'Bạch Long Trì’, đáy vụng thông với biển.
Ngọc trai vùng biển Hợp Phố được gọi là 'Nam Chu’. Nam Chu, từ Lôi Châu, Liêm Châu cho tới Giao Chỉ trong 1 khoảng dài cả ngàn dặm thì chỉ có 6 vụng có Ngọc trai quí. Quí hơn cả là Đoạn Vọng (Nhìn Hút Mắt), kế đến Trúc Lâm, kế đến Dương Mai, kế đến Bình Sơn - cho đến vụng Hãn Nê thì Ngọc trai có phẩm kém hơn hết.
Thời cổ, đất Hợp Phố có nhiều Ngọc trai đến đỗi dân trong vùng lấy Ngọc đổi lúa gạo. Sau đó Ngọc trai ngày ít đi, vì khai thác quá độ, người ta mới thấy quí. Cũng vì vậy mà dân vùng này có câu: - 'Kim tử bất như Chu tứ, nghĩa là 'Vàng chẳng bằng Ngọc traí, và những kẻ giàu có nhiều Ngọc trai thì lấy đó làm vinh, người nghèo không có Ngọc trai thì lấy đó làm nhục.
Phía Tây thành Hợp Phố có 1 cây Cầu có tên 'Mại Ngư Kiều’ ('Cầu Chợ Cá’) thời cổ chỗ này là chợ Ngọc trai.
Những gì tự thuật trên đây: Tham khảo 'Quảng Đông Tân Ngứ (Qu. XV. Hóa Ngữ. Chu.) của Khuất Đại Quân. Vì bài viết về Ngọc trai này của ông khá dài, tôi chỉ lược trích 1 vài đoạn mà theo tôi là lí thú. Ngoài ra, tôi cũng đã thay đổi trình tự tự thuật của 1 số đoạn trong bài văn kể trên của Khuất Đại Quân cho phù hợp với tự thuật của riêng tôi.
Vương Sĩ Tính (? - 1597 ?) đời Minh (1368 - 1644) viết:
'Chu trì tại Hợp Phố đông nam bách lí hải trung, hữu Bình Giang, Thanh Anh đẳng tam sổ trì, giai đại bạng sở sinh dã. Hải thủy tuy mang mang vô tế nhi ngư hà, cáp bạng kì sản các hữu sở nghi, ức thủy thổ sử nhiên, cố trân chu xa? Hợp Phố bất sinh tha xứ. Kì sinh do thố chi dục, duy thị trung Thu chi nguyệt, nguyệt minh tắc hạ chủng đa, hôn ám tắc thiểu. Hải trung mỗi ngộ vạn lí vô vân, lão bạng sái Chu chi tịch, hải thiên bán bích thiểm như hách hà, hàm Chu quang sở chiếu dã.'.
/ Quảng Chí Dịch. Qu. IV. Giang Nam chư tỉnh. Quảng Đông /.
'Vụng Ngọc trai nằm ở giữa biển phía đông nam huyện Hợp Phố 100 dặm, có vài ba vụng như Bình Giang, Thanh Anh, là những nơi có thứ Trai lớn sinh sản. Biển tuy mênh mang không bờ nhưng các loài tôm cá, trai sò sinh sản loài nào rồi có môi trường thích nghi của loài ấy, đây là do thủy thổ mà ra, cho nên Ngọc trai mà lìa Hợp Phố thì không sinh sản ở chỗ nào khác được. Trai sinh sản rồi cũng như thỏ đẻ, cứ chờ vào giữa Thu, gặp đêm trăng sáng, xuống biển rồi sẽ mò được nhiều Ngọc, còn trăng mờ tối rồi chẳng thâu được bao nhiêu. Trên biển, mỗi lần thấy vạn dặm khơi trời không một gợn mây thì đây là đêm Trai rửa Ngọc, nửa mảnh trời đỏ au như ráng chiều, chớp chớp, thì đó là ánh Ngọc trai phản chiếu [mà có cảnh tượng như vậy].'.
Về các vụng nước có Ngọc trai mà trong thư tịch gọi là 'Chu tri’ (Ao Ngọc traí) ở vùng biển Hợp Phố thì trước đó không hiếm người tự thuật, và trứ danh nhất vẫn là 'Ao Đoạn Vọng'.
Thái Thao (? - ?) thời Nam Tống (1127 - 1279) viết:
'Hợp Phố Chu đại để tứ, ngũ sở, giai cư hải dương trung gian. Địa danh Cật Bảo, danh Đoạn Vọng giả tối, nhi Đoạn Vọng trì cận Giao Chỉ, hiệu sản Chu vưu mĩ đại.'.
/ Thiết Vi Sơn Tùng Đàm. Qu. V /.
'Ngọc trai vùng Hợp Phố đại để có 4, 5 nơi, tất cả đều ở giữa biển. Những nơi tên Cật Bảo, tên Đoạn Vọng là nổi tiếng hơn hết, và vụng Đoạn Vọng ở gần xứ Giao Chỉ nổi tiếng là nơi có thứ Ngọc trai đẹp hơn hết và lớn hơn hết.'.
Chu Khứ Phi (1135 - 1189), cũng thời Nam Tống viết:
'Hợp Phố sản chu chi địa danh viết Đoạn Vọng trì tại hải trung cô đảo hạ, khứ ngạn sổ thập lí. Trì thâm bất thập trượng.'.
/ Lãnh Ngoại Đại Đáp. Qu. VII. Bảo Hóa. Chu trì /.
'Nơi sản sinh Ngọc trai vùng Hợp Phố có tên gọi là ao Đoạn Vọng ở mé dưới của một hòn đảo nằm chơ vơ giữa biển, cách bờ mấy chục dặm. Ao sâu không đầy 10 trượng.'.
(Minh Di: 1 trượng thời Nam Tống bằng 3.72m. Vậy, 10 trượng bằng 30.72 thước).
Ngày trước, việc mò Trai rất là khổ nhọc. Phải chèo thuyền ra tận chỗ có Trai, năm ba người ở trên thuyền, một hoặc hai người cột giây ngang lưng, dắt theo giỏ tre, lặn xuống lượm Trai. Cứ đầy giỏ thì giật giây cho người trên thuyền kéo lên. Gặp chỗ nước sâu, sức ép quá mạnh thì lên tới thuyền tai, mũi, họng đều trào máu, có khi đến bất tỉnh, nhưng lâu dần rồi cũng quen. Hoặc bất hạnh gặp cá dữ thì đành bỏ mạng.
Về chuyện này, Chu Khứ Phi viết như sau:
'Thủ bạng dĩ trường thằng hệ trúc lam huề chi dĩ một. Kí thập bạng ư lam tắc chấn thằng, lệnh chu nhân cấp thủ chi, một giả cức phù tựu chu. Bất hạnh ngộ ác ngư, nhất lũ chi huyết phù ư thủy diện, chu nhân động khốc, tri kì dĩ táng ngư phúc dã! Dịch hữu vọng ác ngư nhi cấp phù. Chí thương cổ, đoạn tí giả, hải trung ác ngư mạc như thứ sa, vị chi ngư hổ, đán sở thậm ki. dã.'.
/ Lãnh Ngoại Đại Đáp. Qu. VII. Bảo hóa Môn. Chu trì /.
'Mò Trai thì lấy một sợi giây dài cột vào giỏ tre, dắt theo người để lặn xuống nước. Chừng giỏ đã đầy thì giật giây cho người trên thuyền kéo lên, còn người lặn dưới nước gấp trồi lên mà trở lên thuyền. Chẳng may mà gặp loài cá dữ, một lằn máu nổi trên mặt nước, người ở trên thuyền khóc thảm thiết, biết người dưới nước kia đã chôn thây trong bụng cá! Cũng có người vừa thấy cá dữ từ xa đã vội trồi lên. [Dữ dằn] tới độ cắn đứt lìa chân tay người ta thì dưới biển không có loài cá dữ nào như loài thứ sa, gọi là ngư hổ, là giống cá dữ mà dân mò Châu rất sợ.'.
[Minh Di án: Thứ Sa nói đây tức Cá Mập].
Về 'Ao Ngọc trai’, Tô Tụng (1020 - 1101), Thiên văn học gia kiêm Dược học gia, viết:
'Án. 'Lãnh Biểu Lục Dí: - Liêm châu biên hải trung hữu châu đảo, đảo thượng hữu đại trì, vị chi Chu trì. Mỗi tuế Thứ Sử thân giám chu hộ nhập trì thái lão bạng, cát thủ chu dĩ xung cống. Trì tuy tại hải thượng nhi nhân nghi kì để dữ hải thông, trì thủy nãi đạm, thử bất khả trắc dã.'.
/ Đồ Kinh Bản Thảo. Qu. XIV. Trùng Ngư Bộ. Thượng. Chân Chu /.
'Xét. Sách 'Lãnh Biểu Lục Dí: - Ngoài khơi vùng duyên hải Liêm châu có những cù lao, trên cù lao có những cái ao lớn gọi là Ao Ngọc trai. Hàng năm quan Thứ Sử đích thân đốc thúc dân mò trai xuống ao bắt trai cắt ra lấy ngọc để tiến cống. Ao tuy cao hơn mặt biển nhưng người ta nghi là đáy ao thông với biển, [dù] nước ao không mặn, điều này thì không thể đoán được.'.
Danh i Lí Thời Trân (1518 - 1593) viết trong 'Bản Thảo Cương Mục' như sau:
'Thời Trân nói: Theo sách 'Liêm Châu Chi vùng biển huyện Hợp Phố có 3 ao Ngọc trai trong đó có Mai trì, Thanh Anh....
Và rồi, sách 'Kí Việt Tập' của Hùng Thái Cổ nói: - Thiên 'Vũ Cống' nói là 'Dân rợ ở lưu vực sông Hoài (cống) Ngọc trai.' ('Hoài di Biền Chú). Đến [các] thời sau đó thì [sản sinh] ở vùng Lĩnh Nam. Ngọc trai ở vùng biển Nam ngày nay có sắc đỏ, ở vùng biển Tây thì có sắc trắng, ở vùng biển Bắc thì sắc hơi xanh, tùy Phương mà sắc Ngọc có khác. Tôi đã từng thấy qua những người mò châu lấy từ biển lên mấy Cây Ngọc trai. Cây này giống như cây liễu, Trai bám khắp trên dưới thân cây. Những cây này mọc trên đá [dưới biển], những người mò châu đục đá bứng cây gỡ lấy Trai, thực là lạ lùng!
Và rồi, sách 'Nam Việt Chi nói: - Ngọc trai gồm tất cả 9 phẩm hạng. Ngọc với đường kính từ 5 phân đến 1 tấc 8, tấc 9 thuộc hạng đại phẩm, ánh sắc lấp loáng, một bên sáng bóng như được mạ vàng, gọi là Đang Chu. Những phẩm kém hơn có các loại gọi là Tẩu Chu, Hoạt Chu.
Sách 'Cách Cổ Luận' nói: - Ngọc trai ở các vùng biên phương Nam, loại có sắc trắng tròn trịa và có ánh lấp loáng là loại quí nhất. Ngọc trai ở Quảng Tây thì kém một bậc. Ngọc trai ở vùng biển Bắc có sắc hơi xanh là loại quí nhất, loại có sắc phấn bạch hoặc vàng lợ như dầu là những loại kém. Ở vùng biên phương Tây loại Ngọc tên gọi là Mã Giá Chu là loại quí nhất, sắc Ngọc xanh biếc như ngọc Phỉ thúy; còn loại để lâu có sắc vẩn xanh như thạch phấn, hoặc mờ tối như ám khói là loại kém.'.
/ Bản Thảo Cương Mục. Qu. XLVI. Giới Bộ 2. Chân Chu /.
Được chép trong sách Thuốc dĩ nhiên Ngọc trai phải là 1 Vị thuốc.
Theo Lí Thời Trân, về Khí Vị, Ngọc Trai là 1 Vị thuốc: Hàm (mặn), Cam Hàn (ngọt, lạnh), và Vô độc (không độc). Về cách điều chế, trích vài đoạn trong 'Bản Thảo Cương Mục' như sau:
'Lí Tuân nói: - Để làm thuốc nói chung dùng loại [Ngọc trai] mới, còn nguyên vẹn, chưa từng bị mài dũa, đẽo gọt, nghiền thành bột thì mới dùng làm thuốc được. Nếu nghiền không nhuyễn thì sẽ tổn hại tạng phủ.
[Lôi] Học nói: - Để làm thuốc nói chung dùng loại [Ngọc trai] mới. Dùng vải dày mà sợi thưa bọc lại, lấy 4 lượng con hào xếp đều ở đáy nồi, lấy vật chèn 4 bề cho chắc, tiếp đó mới để bọc Ngọc trai lên trên, và cho vào nồi các vi. Địa du, Ngũ hoa bì, Ngũ phương thảo xắt nhỏ, mỗi vị 4 lượng, trải phủ trên mặt, đổ nước vo gạo vào nồi nấu tròn 3 ngày 3 đêm, giữ đừng lúc nào để lửa tắt, xong vớt ra, dùng nước Cam thảo nấu sôi để lắng gạn rồi cho vào cối giã nhỏ và sau đó bỏ vào rá lược rồi đem giã 2 vạn chày chừng đó mới dùng làm thuốc được.
...............
Thời Trân nói: - Nói chung, Nhập Dược thì không dùng thứ đã dùng làm vật trang sức dắt đầu cũng như thứ ám hơi người chết. Ngọc trai ngâm sữa người 3 ngày rồi đem nấu qua một lần và đem giã, nghiền, như đã nói ở trên. Một cách nữa là lấy vải dày mà sợi thưa gói Ngọc trai đem dồn vào đậu hũ rồi nấu trong khoảng đốt tàn một nén nhang. Có người nói là bào chế cách này [dược tính] Ngọc trai không bị tổn hại.'.
/ Sd. Quyển và Mục đã dẫn /.
Phương pháp bào chế Ngọc trai không chỉ chừng đó. Tổng kết phương pháp bào chế Ngọc trai thời trước, bộ 'Lịch Đại Trung Dược Bào Chế Pháp Vị Điển' (Cổ đại bộ phận) đã dẫn tất cả là 6 phương pháp bào chế Ngọc trai. Vấn đề Bào chế Dược liệu không phải là chủ đề của bài này cho nên ở đây tôi không mô tả 6 phương pháp trình bày trong tác phẩm nói trên, chỉ đơn thuần nêu danh mục, liệt kê như sau:
[1]. Dược trấp chế.
[2]. Chế thán.
[3]. Đậu hủ chế.
[4]. Sao chế.
[5]. Nhũ chế.
[6]. Bội chế.
/ Sd. Động vật loại. Nhuyễn thể động vật. Trân Chu /.
Về công năng, Ngọc trai chủ trị (trích dẫn 1 số):
An thần.
Chấm vào mắt, trị chứng mắt kéo mây.
Thoa mặt, làm da mặt mịn màng, tươi nhuận. Trị tàn nhang.
Gói trong 1 miếng vải nhét vào tai, trị điếc.
Di tinh. Tiểu tiện có lẫn tinh dịch.
Sanh khó. Trục bào thai chết trong bụng.
................
/ Bản Thảo Cương Mục. Quyển và Mục đã dẫn /.
*
Thời cổ, Trân chu là 1 trong những cống phẩm quí của Việt Nam triều cống Trung Hoa.
Chu Khứ Phi đã ghi lại danh mục cống phẩm Việt Nam tiến Trung Hoa vào năm 26 Niên hiệu Thiệu Hưng (1131 - 1162), năm 1156, đời Tống Cao tông (1107 - 1187; tại vị: 1126 - 1187). Cống phẩm năm kể trên có nhiều thứ, ở đây chỉ trích khoản cống trân chu:
'Cống trân chu: - đại giả tam khỏa như gia tử, thứ lục khỏa như ba la mật hạch, thứ nhị thập tứ khỏa như đào hạch, thứ thập thất khỏa như lí hạch, thứ ngũ thập khỏa như tảo hạch. Phàm nhất bách khỏa, dĩ kim bình thành chị...'.
/ Lãnh Ngoại Đại Đáp. Qu. II. Ngoại quốc Môn. Thượng. An Nam quốc /.
'Cống trân chu: - [loại] lớn 3 viên lớn như trái cà nâu, nhỏ hơn 6 viên lớn như hột mít, nhỏ nữa có 24 viên lớn như hột đào, nhỏ nữa có 17 viên cỡ như hột mận, nhỏ nữa có 50 viên cỡ hột táo. Cộng chung là 100 viên, đựng trong bình vàng.'.
Như đã thuật ở 1 đoạn trước đây, thời cổ vùng biển Quảng Đông ngọc trai nhiều vô kể. Nhưng càng về sau càng hiếm dần, vì thiên hạ khai thác quá bừa bãi, không để Trai kịp kết ngọc.
.............
/ Bản Thảo Cương Mục. Quyển và Mục đã dẫn /.
*
Thời cổ, Trân chu là 1 trong những cống phẩm quí của Việt Nam triều cống Trung Hoa.
Chu Khứ Phi đã ghi lại danh mục cống phẩm Việt Nam tiến Trung Hoa vào năm 26 Niên hiệu Thiệu Hưng (1131 - 1162), năm 1156, đời Tống Cao tông (1107 - 1187; tại vị: 1126 - 1187). Cống phẩm năm kể trên có nhiều thứ, ở đây chỉ trích khoản cống trân chu:
'Cống trân chu: - đại giả tam khỏa như gia tử, thứ lục khỏa như ba la mật hạch, thứ nhị thập tứ khỏa như đào hạch, thứ thập thất khỏa như lí hạch, thứ ngũ thập khỏa như tảo hạch. Phàm nhất bách khỏa, dĩ kim bình thành chị...'.
/ Lãnh Ngoại Đại Đáp. Qu. II. Ngoại quốc Môn. Thượng. An Nam quốc /.
'Cống trân chu: - [loại] lớn 3 viên lớn như trái cà nâu, nhỏ hơn 6 viên lớn như hột mít, nhỏ nữa có 24 viên lớn như hột đào, nhỏ nữa có 17 viên cỡ như hột mận, nhỏ nữa có 50 viên cỡ hột táo. Cộng chung là 100 viên, đựng trong bình vàng.'.
Như đã thuật ở 1 đoạn trước đây, thời cổ vùng biển Quảng Đông ngọc trai nhiều vô kể. Nhưng càng về sau càng hiếm dần, vì thiên hạ khai thác quá bừa bãi, không để Trai kịp kết ngọc.
Khuất Đại Quân viết:
'Thổ nhân thưởng ngã chu nhục, lạp dĩ vi trân, trì dĩ hạ tửu, vị chu tỉ niên giai tha tỉ - tức Lôi châu chi Đối Lạc trì. Cao châu Thạch Thành chi Ma Thủy trì cựu đa sản chu, kim dịch vô chi. Hựu Nguyên thời Đông Quan chi Đại Bộ hải Mị Chu trì sản Nha Loa trân chu; hựu huyện chi hậu hải Long Kì, Thanh Loa Giác, Lệ Chi Trang nhất thập tam xứ dịch sản Chu Mẫu Loa cập Loa Chu Trụ kim giai vô chi...'.
/ Quảng Đông Tân Ngữ. Qu. XV. Hóa Ngữ. Chu /.
'Dân bản xứ biếu tôi thịt trai làm thứ khô quí nhắm rượu, nói là những năm gần đây trai đã dời chỗ khác - tức qua Ao Đối Lạc ở Lôi châu. Ao Ma Thủy ở huyện Thạch Thành, Cao châu, xưa sản sinh nhiều Ngọc trai, bây giờ cũng không còn. Và Ao Mị Châu ở vùng biển Đại Bộ, huyện Đông Quan, vào thời Nguyên triều, sản sinh thứ Ngọc trai tên gọi Nha Loa; rồi những chỗ như Long Kì, Thanh Loa Giác, Lệ Chi Trang.... tất cả 13 chỗ ở vùng biển ở mé sau huyện, chỗ nào cũng có các thứ Ngọc tên là Chu Mẫu Loa và Loa Chu Trụ, ngày nay rồi không chỗ nào có...'.
Thực ra, từ thời Bắc Tống (960 - 1127) Ngọc trai ở các vùng biển Quảng Đông, Quảng Tây đã chẳng còn bao nhiêu.
Xét phần thổ cống (thổ sản nộp triều đình) của cả 1 lộ (như 1 tỉnh) Quảng Nam - gồm Đông lộ và Tây lộ (tức Quảng Đông và Quảng Tây), quản hạt gồm tất cả 38 châu, 104 huyện (trong đó Quảng Đông gồm có 15 châu - 40 huyện, Quảng Tây gồm 23 châu - 64 huyện) thì không thấy 1 huyện nào tiến nạp Ngọc trai cả! Ngay như quận Hợp Phố ngày xưa Ngọc trai nhiều đến đỗi dân trong vùng lấy Ngọc đổi gạo mà hàng năm cũng chỉ nộp có 10 lượng bạc!
Trên đây là điều chép trong bộ 'Nguyên Phong Cửu Vực Chi, khởi soạn khoảng năm 1075 và hoàn tất năm 1080, do Vương Tồn (1023 - 1101), Tăng Triệu (1047 - 1107), Lí Đức Sô (? - ?) đồng biên soạn - Vương Tồn chủ biên.
*
Cổ sử Việt Nam chép: - Con trai vua Hùng vương được gọi là Quan Lang, con gái được gọi là Mị Nương. Và An Dương vương (? - 207 tr. Cn.; tại vị: 257 - 207) có con gái tên là Mị Châu.
Trước đây hầu như người ta đều hiểu các tiếng 'Mị Nương', 'Mị Châu’ là những tên Riêng. Và
có thể nói đây là 1 sự hiểu không chính xác.
'Mị Châu’, 'Mị Nương' chỉ là một, cả 2 đều là những tiếng chỉ thân phận, địa vị, con gái vua - không phải là Tên Riêng, hay nói khác đi, đây là những danh từ chung, cho nên, viết cho đúng phải viết thường: ' mị châu’, ‘mị nương', nói cho rõ hơn nữa, 'mị châu’, 'mị nương' đồng nghĩa với tiếng 'công chúa’.
*
Khuất Đại Quân đã giải thích nguồn gốc danh xưng 'Mị Châu’ như sau:
'Ngô Việt sở bảo giả Chu. Tại cổ thời phàm sinh nam tử đa mệnh viết chu nhi, sinh nữ đa viết chu nương. Chu nương chi khả tri giả, Giao Chỉ vương chi nữ viết mị chu.'.
/ Quảng Đông Tân Ngữ. Qu. XV. Hóa Ngữ. Chu /.
'Vật mà người đất Việt (Quảng Đông) chúng ta quí là Ngọc trai. Vào thời cổ, nếu sinh con trai thì đa số người ta gọi yêu đứa trẻ là chu nhi, sinh con gái thì đa số gọi [yêu] là chu nương. Tục gọi con gái là chu nương này có thể thấy qua sự kiện con gái vua Giao Chỉ gọi là mị chu.'.
*
Đã nói 'Mị Châu’ và 'Mị Nương' chỉ là một, 1 nghĩa mà 2 cách gọi khác nhau.
Chữ 'Mị’ trong các tiếng 'Mị Châu’, 'Mị Nương' kể trên tức tiếng 'Mị’ tức gọi tắt. Chữ 'Mị’có tất cả 3 nghĩa:
[1]. Người mình yêu quí:
'Công chi mị tử,
Tòng công vu thú.'.
/ Thi Kinh. Tần phong. Tứ thiết /.
'Người vua yêu quí,
Theo vua săn bắn.'.
[2]. Đứa con cưng:
'Phụ mẫu thường thất, tại bất năng dĩ ư mị tử.'.
/ Tiềm Phu Luận. III. Trung Quí /.
'Cái thường sai sót của cha mẹ là không răn dạy nổi đứa con cưng.'.
[3]. Vật trang sức dắt đầu:
'Huyền mị tử ư tao đầu.'.
/ Dũ Tử Sơn Tập. Qu. I. Phú. Kính Phú /.
'Đong đưa vật trang sức dắt đầu trên cây trâm cài tóc.'.
Các tiếng 'Mị Nương', 'Mị Châu’ suy theo 3 nghĩa vừa dẫn trên:
+ Mị Nương: Nương là tiếng phiếm chỉ thiếu nữ nói chung.
[1].Người con gái yêu quí.
[2]. Con gái cưng.
Yêu quí như gì? cưng như gì? Nếu không là Ngọc trai?
[3]. Người thiếu nữ dắt vật trang sức trên đầu.
Và rồi, thiếu nữ con vua 1 nước có nhiều Ngọc trai quí và đẹp dắt trên đầu vật trang sức gì nếu không là Ngọc trai?
+ Mị Châu có nghĩa:
[1]. Người được nâng niu yêu quí như Ngọc trai.
[2]. Con cưng như Ngọc trai.
[3]. Lấy Ngọc trai làm trang sức dắt đầu.
Trước Khuất Đại Quân hơn 1.000 năm, Nhâm Phương (460 - 508), học giả triều Lương - thời Nam Bắc triều, đã viết như sau:
'Việt tục dĩ chu vi thượng bảo, sinh nữ vị chi 'chu nương', sinh nam vị chi 'chu nhí. Ngô Việt gian tục thuyết: - Minh chu nhất hộc quí như vương giả. Hợp Phố hữu Chu thị.'.
/ Thuật Dị Kí. Qu. Thượng /.
'Phong tục đất Việt (Quảng Đông) coi Ngọc trai là thứ quí hơn cả, dân đất này sinh con gái thì gọi [yêu] là chu nương, sinh con trai thì gọi [yêu] là chu nhi. Tục ngữ ở các vùng Ngô, Việt có câu: - Minh chu 1 hộc, sang như vua chúa. Ở Hợp Phố có chơ. Ngọc trai.'.
Chú thích.
+ Hộc: 1 đơn vị dung lượng. Thời cổ, 1 Hộc bằng 10 Đấu, và 1 Đấu bằng 5 Thăng.
Hệ thống Cân, Đong, Đo (Hành, Lượng, Độ) của Trung Quốc không cố định mà đã biến thiên tùy triều đại. Như tiêu chuẩn về dung lượng đề cập ở đây chẳng hạn:
+ Tần triều (221 - 206 tr. Cn.) và Tây Hán (206 tr. Cn. - 08 Cn.): 1 Thăng = 0.3425 lít.
+ Đông Hán (25 - 220): 1 Thăng = 0.1961 lít.
+ Ngụy (220 - 265) và Tấn (265 - 420): 1 Thăng = 0.2023 lít.
Nam Tề (479 -502): 1 Thăng = 0.2972 lít.
+ Lương (502 - 557): 1 Thăng = 0.198 lít. ].
*
Kết lại:
Các tiếng 'Mị Nương và Mị Châu’ rồi đồng nghĩa với tiếng 'công chúa’, cả 2 là danh từ chung chứ không phải danh từ riêng như chúng ta vẫn nghĩ, cho tới đây.
#
Minh Di.
Đinh Mão (1987).
Huyền nguyệt. Nguyệt tại Chấn. Sương Giáng hậu nhất nhật.
Hiệu định lại từ:
Giáp Thân (2004).
Như nguyệt. Hối nhật. Xuân phân.
Như nguyệt (nhuận). Nguyệt tại Chấn.
Thư Mục.
[1]. Lãnh Ngoại Đại Đáp Hiệu Chú.
Nam Tống. Chu Khứ Phị
Dương Vũ Tuyền hiệu chú.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1999 / Sợ
(Trung Ngoại Giao Thông Sử Tịch Tùng San).
[2]. Nguyên Phong Cửu Vực Chí.
Bắc Tống. Vương Tồn (chủ biên). Tăng Triệu. Lí Đức Sộ
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1984 / Sợ
[3]. Thiết Vi Sơn Tùng Đàm.
Nam Tống. Thái Thao.
Trung Hoa Thư Cục(TQ) 1997 / 2.
[4]. Quảng Chí Dịch.
Minh. Vương Sĩ Tính.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1981 / Sợ
[5]. Quảng Đông Tân Ngữ.
Thanh. Khuất Đại Quân.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1985 / Sợ
[6]. Tiềm Phu Luận.
Đông Hán. Vương Phù.
Thanh. Uông Kế Bồi tiên (chú).
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1979 / Sợ
[7]. Thuật Dị Kí.
Nam Bắc Triều - Lương. Nhiệm Phương.
Hán Ngụy Tùng Thư Bản.
Minh. Trần Vinh toản tập.
Cát Lâm Đại Học Xuất Bản Xã 1992 / Sợ
[8]. Đồ Kinh Bản Thảo (Tập phục Bản).
Bắc Tống. Tô Tụng.
Hồ Nãi Trường. Vương Trí Phổ tập chú.
Long Nguyên Xuất Bản Công Ti (TQ) 1988 / Sợ
[9]. Bản Thảo Cương Mục.
Minh. Lí Thời Trân.
Thương Vụ Ấn Thư Quán (HC) 1982 / Trùng ấn.
[10]. Lịch Đại Trung Dược Bào Chế Pháp Vị Điển (Cổ đại Bộ phận).
Vương Hiếu Đào chủ biên.
Giang Tây Khoa Học Kĩ Thuật Xuất Bản Xã 1986 / Sợ
[11]. Trung I Nhân Vật Từ Điển.
Chủ biên: Trung Quốc Trung I Nghiên Cứu Viện.
Trung Quốc I Sử Văn Hiến Nghiên Cứu Sử.
Biên tập Chủ biên. Lí Kinh Vĩ.
Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã 1988 / Sợ
[12]. Trung Quốc Độ Lượng Hành Sử.
Dân Quốc. Ngô Thừa Lạc.
Thượng Hải Thư Điếm 1984 / Sợ
[13]. Thi Tập Truyện.
Nam Tống. Chu Hi.
Trung Hoa Thư Cục (HC) 1983 / Trùng ấn.
[14]. Trung Quốc Mĩ Thuật Gia Nhân Danh Từ Điển.
Du Kiếm Hoa.
Thượng Hải Nhân Dân Mĩ Thuật Xuất bản Xã 1996 / 7.
[15]. Từ Nguyên (Tu đính Súc ấn Hợp đính Bản).
Quảng Đông. Quảng Tây. Hồ Nam. Hà Nam Tu đính tổ.
Thương Vụ Ấn Thư Quán (HC) 1987 / Sơ.
(Kỳ 5)
Đặng Thi Sách ? Đặng Thi ?
31 - 32 (33).
&
Gần bến Bạch Đằng Saigòn trước đây - trước 75, ngang hông hãng la-ve, nước ngọt B.G.I. của Pháp, trên đường Hai Bà Trưng, có 1 con đường nhỏ, vắng vẻ, xiên xiên trổ ra. Đường này nằm ở bên trái đường Hai Bà Trưng, nếu đi từ miệt Tân Định lên, đây là đường 'Thi Sách', tên của chồng 1 nhân vật lịch sử, chồng bà Trưng Trắc, theo như ghi chép của Sử Việt Nam.
*
Bộ sử 'Hậu Hán Thư’ chép:
'Chí thập lục niên, Giao Chỉ nữ tử Trưng Trắc cập kì muội Trưng Nhị phản, công quận.
Trưng Trắc giả, Mê Linh huyện Lạc tướng chi nữ dã, giá vi Chu Diên nhân Thi Sách thê, thậm hùng dũng. Giao Chỉ Thái thú Tô Định dĩ pháp thằng chi, Trắc phẫn cố phản. Ư thị Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố man lí giai ứng chi, phàm lược lục thập ngũ thành, tự lập vi vương. Giao Chỉ Thứ sử cập chư Thái thú cận đắc tự thủ......
Thập bát niên. Khiển Phục Ba Tướng quân Mã Viện, Lâu Thuyền Tướng quân Đoàn Chí phát Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô binh vạn dư nhân thảo chi. Minh niên, Hạ, tứ nguyệt, Viện phá Giao Chỉ, trảm Trưng Trắc, Trưng Nhị đẳng, dư giai hàng.'.
/ Hậu Hán Thự Qu. LXXXVI. Nam Man Tây Nam Di liệt truyện /.
'Đến năm thứ 16, thiếu nữ ở đất Giao Chỉ là Trưng Trắc và em gái Trưng Nhị phản, [đưa binh] tấn công quận [Giao Chỉ].
Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, gả cho Thi Sách người huyện Châu Diên, là người cực hùng dũng. Thái thú Tô Định quận Giao Chỉ dùng pháp lệnh ràng buộc, Trưng Trắc phẫn nộ cho nên làm phản. Theo đó dân man di ở các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đã đồng loạt nổi lên hưởng ứng, Trưng Trắc chiếm được tất cả 65 thành, tự lập làm vua. Các quan Thứ sử cũng như Thái thú chỉ còn biết tự thủ mà thôi...
Năm thứ 18. Sai Phục Ba Tướng quân Mã Viện, Lâu Thuyền Tướng quân Đoàn Chí điều động quân binh các đất Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô, [tất cả] hơn một vạn quân để đi đánh dẹp. Qua năm sau, tháng Tư, mùa Hạ, [Mã] Viện thắng trận ở Giao Chỉ, chém được Trưng Trắc, Trưng Nhị, còn lại đều đầu hàng.'.
Cổ sử Việt Nam cũng đã căn cứ 'Hậu Hán Thư’ khi chép về sự kiện lịch sử trên đây, nhưng về Trưng Trắc, Trưng Nhị thì lại nói 2 Bà nhảy xuống sông Hát giang tự tận. Và thêm việc nữa là Thi Sách bị Thái thú Tô Định giết cho nên chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị mới nổi dậy chống. Sự kiện sau này cũng đã được Lê Ngô Cát (1827 - 1875) và Phạm Đình Toái (? - ?) ghi lại qua những vần trong 'Đại Nam Quốc Sử Diễn Cá như sau:
Bà Trưng quê ở châu Phong,
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã kéo gần Long Biên.
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành.
Tuy nhiên, theo 1 Sử liệu khác thì chồng Trưng Trắc tên 'Đặng Thi’, không phải Thi Sách như bộ 'Hậu Hán Thư’ viết mà các Sử thư sau đó đã chép theo.
Bộ 'Thủy Kinh Chú’ của Lịch Đạo Nguyên (469 - 527) triều Bắc Ngụy (386 - 534), chép:
'.... Hậu Chu Diên Lạc tướng tử danh Thi, sách Mê Linh Lạc tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê. Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tương Thi khởi tặc công phá châu, quận, phục chư Lạc tướng, giai thuộc Trưng Trắc vi vương, tri. Mê Linh huyện... Hậu Hán khiển Phục Ba tướng quân Mã Viện tương binh thảo, Trắc, Thi tẩu nhập Kim Khê cứu, tam tuế nãi đắc.'.
/ Thủy Kinh Chú. Qu. XXXVII. Diệp Du thủy Chú /.
'.... Về sau, con Lạc tướng [huyện] Chu Diên, tên Thi, hỏi con gái Lạc tướng [huyện] Mê Linh tên Trưng Trắc làm vợ. Trưng Trắc là người can đảm, lúc Thi nổi dậy làm giặc phản, công phá các châu quận, thu phục được các Lạc tướng, thì tất cả đều tôn Trưng Trắc làm vua, đóng đô ở huyện Mê Linh... Sau đó Hán triều sai Phục Ba tướng quân Mã Viện đem quân đi đánh, [đuổi] Trắc, Thi chạy vào vùng rừng núi sâu Kim Khê, 3 năm mới bắt được.'.
Cứ như đoạn dẫn trên thì rõ ràng chồng Trưng Trắc tên Thi.
Nỗi khó khăn đáng kể khi đọc thư, sử cổ Trung hoa là trong 1 tác phẩm - đôi khi dài cũng đến 5, 3 trăm trang, người đọc không hề bắt gặp 1 dấu phẩy, hay 1 dấu chấm nào, khả dĩ phân biện câu này với câu kia, đoạn văn này với đoạn văn kia... Lại nữa, các tên riêng như nhân danh và địa danh... rồi cũng chẳng có 1 dấu hiệu nào để mà phân biệt với các chữ khác, do đó, tuy rằng cùng 1 đoạn văn nhưng tùy mức độ hiểu, tùy cách hiểu, tóm lại là lí luận, của từng cá nhân mà người đọc rồi đã ngắt câu mỗi người mỗi khác, đôi khi hiểu sai í người viết.
Chẳng hạn, trong đoạn văn dẫn trên, câu đầu 'Chu Diên Lạc tướng tử danh Thi’, phải ngắt câu sau chữ 'Thi’, vì 2 câu sau đó: 'tương Thi khởi tặc', và 'Trắc, Thi tẩu nhập Kim Khê cứu...' đã minh thị nhân vật ở đây tên là 'Thi’.
Vấn đề chồng Bà Trưng Trắc tên là 'Thi’ hay 'Thi Sách' đề cập trên đây đã từng được học giả Triệu Nhất Thanh (1710 - 1764) nêu lên trong tác phẩm 'Thủy Kinh Chú Thích' của ông.
Ngoài ra, đoạn văn dẫn trên còn cho biết thêm 1 sự kiện quan trọng là: 'Đặng Thi’ bị Mã Viện bắt trong vùng rừng sâu Kim Khê và giết, không phải bị Tô Định giết như Sử Việt Nam chép.
#
Minh Di
1986.
Bính Dần.
Thư Mục.
[1]. Hậu Hán Thư Tập Giải.
Lưu Tống. Phạm Việp.
Nam Bắc Triều - Lương. Lưu Chiêu chú bổ.
Thanh. Vương Tiên Khiêm tập giải.
Dân Quốc. Hoàng Sơn hiệu bổ.
Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1984 / Sợ
[2]. Thủy Kinh Chú Sớ.
Tây Hán. Tang Khâm.
Nam Bắc Triều - Bắc Ngụy. Lịch Đạo Nguyên chú.
Dân Quốc. Dương Thủ Kính & Hùng Hội Trinh sớ.
Giang Tô Cổ Tịch Xuất Bản Xã 1999 / 2.
Dương Đình Nghệ - Đinh Đô Lãnh - Quách Đạt.
34 - 37 (38).
&
Có 1 vài nhân vật lịch sử Việt Nam và Trung Hoa liên quan Lịch sử Việt Nam từ trước tới nay hầu hết thư tịch Việt nam, cũng như Trung Hoa, vẫn ghi sai, chép sai. Và, cũng đã đến lúc cần đính chánh những lầm lẫn đó.
*
+ Dương Đình Nghệ (? - 937), chép sai là Dương Diên Nghệ.
+ Đinh Đô Lãnh (924 - 979; tại vị: 968 - 979), chép sai là Đinh Bộ Lãnh.
+ Quách Đạt (1022 - 1088), chép sai là Quách Quì.
Những lầm lẫn trên đây, chữ Đình thành chữ Diên, chữ Đô ra chữ Bộ, chữ Đạt ra chữ Quì, nếu thoáng qua thì tưởng đây là những lầm lẫn về hình thức văn tự - điều mà hầu hết sử gia và các tác giả chú giải Kinh, Sử thời cổ đã suy đoán. Vì, nếu xét về phương diện Hán tự thì thấy ngay chữ Đình và chữ Diên na ná, chữ Đô và chữ
Tuy nhiên, đây chỉ là mặt ngoài. Phân tích sâu, xa hơn, những lầm lẫn nói trên đã bắt nguồn từ chỗ không hiểu rõ, hoặc chưa tìm hiểu tường tận về nguyên tắc đặt Tên - cũng như nguyên tắc lấy tên Tự và tên Hiệu của cổ nhân.
Biện luận về những lầm lẫn về Tên Gọi của những nhân vật lịch sử dẫn trên tôi đã trình bày rõ trong Chương 'Tự Dư Viết Linh Quân' (phần Phụ Lục I. Nhân Danh quyết nghi), một Chương của tập 'Hương
Quan Tập', độc giả xin tham khảo Chương vừa kể ở đây tôi không viết lại cho thêm rườm, chỉ lập lại nhận định của tôi về vấn đề như sau:
'Trong Lịch sử Việt Nam cũng như Trung Hoa, có những Nhân danh, Địa danh người thời sau đã viết sai, đọc sai. Có những lầm lẫn này là vì đây là những 'Đồng Tự dị Âm' mà Thư tịch cổ đã không ghi rõ là phải đọc Âm nào, hoặc đây là những Chữ gọi là 'Tam Thỉ thiệp há’, như đã nói ở trên, do đó mà đọc sai, viết sai.
Vấn đề: - Do đâu mà biết Tên của 1 người rồi phải đọc Âm này chứ không phải Âm kia? phải viết Chữ này chứ không phải Chữ kia?
Luận Danh / Tự, Hiệu trước đây, tôi đã phân tích Danh / Tự, Hiệu của 1 người - nhất là những nhân vật hữu danh, thường có 1 xuất xứ, và giữa Danh / Tự, Danh / Hiệu - nhất là Danh và Tự thường có 1 tương quan nhất định nào đó, hoặc là về nội dung, hoặc là về hình thức. Do đó mà trong trường hợp nghi vấn về Danh, Tự của 1 Nhân vật nào đó thì rồi có thể xét Vấn đề căn cứ 2 phạm vi vừa kể.
Trong nhiều trường hợp, Danh / Tự của cổ nhân là những Chữ lấy từ Kinh điển, đồng thời giữa Danh và Tự của cổ nhân gần như luôn luôn có 1 trong những mối tương quan như đã phân tích trước đây. Cho nên, nếu có nghi vấn về Âm đọc hoặc Chữ viết của 1 Danh hay Tự nào đó, nếu xác định được Danh hay Tự đó là chữ lấy từ Kinh điển, hoặc là, nếu xác định được tương quan giữa Danh và Tự, thì có thể nói đây là 1 kết luận dứt khoát.
Đây cũng chính là phương pháp học giả Vương Dẫn Chi (1766 - 1834) Thanh triều đã sử dụng để giải thích và đính chánh Danh, Tự của 1 số nhân vật đời Xuân Thu (770 - 403 tr. Cn.) trong cuốn 'Kinh Nghĩa Thuật Văn' (Quyển XXII và XXIII), phần 'Xuân Thu Danh Tự Giải Cố.
Với phương pháp chính xác, chắc chắn, trên đây tôi sẽ xác định để rồi đính chính lại Danh của 1 vài Nhân vật trong Cổ Sử Trung Hoa và Việt Nam mà hầu hết các Sách Việt Nam, cũng như Trung Hoa vẫn viết sai.'.
*
Tóm lại, sự ghi chép sai Tên những nhân vật lịch sử nói ở đây chủ yếu là do các Sử gia, và các tác giả chú giải Kinh, Sử đã không nắm vững nguyên tắc đặt Tên (Danh) cũng như nguyên tắc lấy tên Tự, tên Hiệu của cổ nhân. Cũng chính vì không để í tìm hiểu những nguyên tắc này mà trong nhiều trường hợp các tác giả nói trên đã băn khoăn suy nghĩ trước những Tên gọi họ cho là vô lí, để rồi người đi sau chép lại cái Sai của người đi trước, để cuối cùng đúng thành sai mà sai thành đúng. Do đó mà có chuyện sửa lại chính văn của thư tịch cổ. Sau đây là 1 thí dụ.
Chu Khứ Phi (1135 - 1189) thời Nam Tống (1127 - 1279) đã ghi chép lại tường tận những ngả đường đổ từ Trung Quốc vào 'An Nam Quốc' trong đó có 1 ngả như sau:
'Tự Ung châu Tả giang Vĩnh Bình trại, Nam hành nhập kì cảnh Cơ Lang huyện, quá Ô Bì, Đào Hoa nhị tiểu giang, chí Nam Định giang, dịch danh Phú Lương giang, phàm tứ nhật chí kì Quốc đô, nãi Quách [Đạt] Quì sư sở xuất dã.'.
/ Lãnh Ngoại Đại Đáp. Qu. II. Ngoại quốc Môn. Thượng. An Nam quốc /.
'Từ Vĩnh Bình trại ở Tả giang, Ung châu, đi theo hướng Nam nhập địa hạt huyện Cơ Lang của nước ấy, đi qua 2 con sông nhỏ Ô Bì, Đào Hoa, [từ đây] đến sông Nam Định, cũng gọi là sông Phú Lương, đi mất là 4 ngày thì đến Quốc đô của họ, đây chính là con đường mà đạo quân của Quách [Đạt] Quì đã theo [để tiến đánh An Nam].'.
Dương Vũ Tuyền, khi hiệu chú đoạn văn trên, đã sửa 2 chữ 'Quách Đạt' thành 'Quách Qui’ và viết ở câu hiệu chú ghi số hạng (10) như sau:
'(10). Quách Quì, các Bản giai tác 'Quách Đạt', dữ sử tịch sở tái bất đồng, Đạt vi Quì chi hình cận ngoa tự, nhân kính cải.'.
'(10). Quách Quì, các Bản đều chép là 'Quách Đạt', khác với sử thư ghi chép, chữ Đạt tự dạng từa tựa chữ Quì, do đó mà (tôi) sửa thẳng trong chính văn.'.
Về Đinh Đô Lãnh, bộ 'Lãnh Ngoại Đại Đáp' chép như sau:
'Quốc sơ, kì bộ nội loạn, hữu Đinh [Đô] Bộ Lãnh giả, dữ kì tư? Liễn suất chúng thảo bình chí.
/ Qu. thứ và Môn mục như đã dẫn /.
'Vào buổi đầu triều (chúng ta) nước ấy có nội loạn, [bấy giờ] có người tên Đinh [Đô] Bộ Lãnh và con là Liễn cầm quân đánh dẹp được hết.'.
Ở câu hiệu chú về Đinh Đô Lãnh, ghi số hạng (16), Dương Vũ Tuyền viết:
'(16). Đinh Bộ Lãnh, các Bản quân tác 'Đinh Đô Lãnh', dữ Trung, Việt Sử tịch sở tái quân bất hợp. 'Tứ Khô Quán thần chú dịch vân: 'Án, 'Tống Sứ tác 'Bộ Lãnh.', nhân kính cải.'.
'(16). Đinh Bộ Lãnh, các Bản đều chép là 'Đinh Đô Lãnh', [tất cả] đều không phù hợp với ghi chép trong Sử tịch của Trung Hoa cũng như Việt Nam. Các (đình) thần phụ trách việc biên tập tại 'Tứ Khô Quán cũng nói: 'Xét, 'Tống Sứ ghi là 'Bộ Lãnh.', do đó mà (tôi) sửa thẳng trong chính văn.'.
Minh Di án:
Trong 2 đoạn văn dẫn từ 'Lãnh Ngoại Đại Đáp' trên đây, các chữ [Đạt], [Đô] để trong [ngoặc] là chính văn của Chu Khứ Phị Trong Bản 'Hiệu Chu tác phẩm 'Lãnh Ngoại Đại Đáp', tựa đề là 'Lãnh Ngoại Đại Đáp Hiệu Chu, Dương Vũ Tuyền đã căn cứ 'sự sai lầm' của các tác giả đi trước mà 'vọng cảí ('sửa bậy’) 'Đạt' thành 'Quí, và 'Đô thành 'Bộ’.
Về các nhân vật Dương Đình Nghệ, Đinh Đô Lãnh, và Quách Đạt người đọc có thể tham khảo 1 số những Sử liệu chủ yếu sau đây:
+ Dương Đình Nghệ.
(1). Tư Trị Thông Giám.
Qu. CCXXCVI. Hậu Tấn Kỉ 2.
Tư Mã Quang (1011 - 1086) thời Bắc Tống (960 - 1127) soạn.
Trong phần chép các sự việc xảy ra vào năm thứ 2 Niên hiệu Thiên Phúc (936 - 942), tức năm 937, đời Cao tổ (892 - 942; tại vị: 936 - 942) triều Hậu Tấn (936 - 947), Tư Mã Quang viết:
'Giao châu tướng Kiểu Công Tiễn sát An Nam Tiết Độ Sứ Dương Đình Nghệ nhi đại chí.
'Kiểu Công Tiễn, tướng ở Giao châu, giết An Nam Tiết Độ Sứ Dương Đình Nghệ, rồi lên thay ông tá.
Và rồi, cũng Quyển đã dẫn, năm thứ 3 Niên hiệu trên, Tư Mã Quang lại chép:
'Đông, thập nguyệt................ Dương Diên Nghệ cố tướng Ngô Quyền tư. Ái châu cử binh công Kiểu Công Tiễn ư Giao châu.'.
'Mùa Đông, tháng 10............. tướng trước kia của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền từ Ái châu đưa quân ra Giao châu đánh Kiểu Công Tiễn.'.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét