Từ những năm 1954, sau Hiệp Định Geneve, cứ mỗi độ Xuân về, những người từ miền Bắc vào miền Nam lại nhắc đến bài thơ Ông Đồ Già của Cụ Vũ Đình Liên, viết từ năm 1936. Bài thơ không nhắc một chữ nào đến Tết, nhưng độc giả biết ngay là Nhà Thơ đã diễn tả về những ngày Xuân với “hoa đào nở”. Bài thơ khá ngắn nhưng ngụ ý nói về cả môt kiếp người. Những câu mở đầu bài thơ được viết rất nhẹ nhàng: “Mỗi năm hoa đào nở. Lại nhớ ông đồ già. Bầy mực tầu giấy đỏ. Bên phố đông người qua. Bao nhiêu người thuê viết. Tấm tắc ngợi khen tài. Hoa tay thảo những nét. Như phượng múa, rồng bay”
<!>
Rồi thời gian qua đi, đời sống văn minh hơn, những người dân thành thị với nếp sống xô bồ, đã không còn chuộng những nét bút “phượng múa, rồng bay” nữa, để ông Đồ, người của thế hệ cổ, cô đơn bên phố: “Nhưng mỗi năm mỗi vắng. Người thuê viết nay đâu? Giấy đỏ buồn không thắm. Mực đọng trong nghiên sầu...” Bốn giòng thơ tiếp theo, mỗi giòng chỉ có 5 chữ, nhưng độc giả có thể hình dung thấy cả một triết lý cao siêu về cuộc đời của một con người, không khác gì những chiếc lá rơi trong cơn mưa bụi: “Ông đồ vẫn ngồi đấy. Qua đường không ai hay. Lá vàng rơi trên giấy. Ngoài trời mưa bụi bay”. Và bốn câu kết thúc nói lên sự lạnh lùng của thời gian và lòng người: “Năm nay đào lại nở. Không thấy ông đồ xưa. Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ?”
Điều khá buồn là ngay cả bài thơ Xuân tuyệt tác này, rồi cũng bị bụi phủ theo thời gian. Bây giờ, còn mấy ai nhớ đến Ông Đồ Già? Thế hệ biết và hiểu về Ông Đồ Già cũng đã đi xa gần hết, còn thế hệ sau, chắc chắn khi được hỏi: “Ông Đồ là ai?” cũng không trả lời được.
Nói về Thơ Xuân mà không nhắc đến Nhạc Xuân thì thật sự thiếu sót. Trong số các bản nhạc Xuân, có một tác phẩm, phải nói là hiếm có vì đã được tất cả các cộng đồng Việt ở khắp nơi trên thế giới cùng hát mỗi khi Tết đến. Bất cứ bữa tiệc Tân Niên nào, do bất cứ hội đoàn nào, ở Mỹ hay ở Châu Âu, Châu Úc, Việt Nam, đều thấy vang lên lời ca của bài “Ly Rượu Mừng” , sáng tác của Nhạc Sĩ Phạm Đình Chương, tức Ca Sĩ Hoài Bắc. Nhạc Sĩ Phạm Đình Chương gốc người Hà Nội, trong một dòng họ mà đa số là những tài danh về Văn Hóa và Văn Nghệ. Thân phụ ông, Cụ Phạm Đình Phụng có hai người vợ. Người vợ đầu có hai người con trai: Phạm Đình Sỹ là chồng của Nghệ Sĩ Kiều Hạnh, và hạ sinh được ái nữ là Danh Ca Mai Hương; Phạm Đình Viêm tức Ca Sĩ Hoài Trung trong ban Thăng Long. Thân Mẫu của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là người vợ thứ hai của Cụ Phạm Đình Phụng, sinh được 3 người con: Phạm Thị Quang Thái tức Ca Sĩ Thái Hằng, vợ của Nhạc Sĩ Phạm Duy, tiếp đến là Phạm Đình Chương và cô út là Phạm Thị Băng Thanh tức Danh Ca Thái Thanh.
Về dòng họ, Phạm Đình Chương có ông chú là nhà báo nổi danh Trúc Khê, người từng làm Cách Mạng và bị tù. Bà cô là Nghệ sĩ Song Kim, lấy nhà thơ Thế Lữ, tác giả bài thơ nổi tiếng: “Nhớ Rừng.” Được thừa hưởng máu nghệ sĩ như vậy, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã cho ra đời nhiều bài nhạc nổi tiếng, nhưng trong đó, bài được truyền tụng nhiều nhất là “Ly Rượu Mừng”: “Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi. Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi. Người thương gia lợi tức. Người công nhân ấm no. Thoát ly đời gian lao nghèo khó.” Những câu hát trên đã làm sống động tinh thần của Mùa Xuân, nhưng chưa thấm bằng phần điệp khúc thật là vui, nếu được nguyên một nhóm hợp ca cùng khoác tay nhau mà nghiêng vai qua lại hợp với toàn thể cử tọa cùng cất tiếng hát vang lừng: “Ah-ah-ah-ah. Nhấp chén đầy vơi, chúc người người vui. Ah-ah-ah-ah. Muôn lòng xao xuyến duyên đời…” Điểm đặc biệt của bài ca này là lời chúc đến tất cả mọi thành phần trong xã hội. Sau khi chúc người nông dân, người thương gia, tác giả không quên những ai hy sinh tuổi Xuân cho đất nước: “Rót thêm tràn đầy chén quan san. Chúc người binh sĩ lên đàng. Chiến đấu công thành. Sáng cuộc đời lành. Mừng người vì Nước quên thân mình.” Để cuối cùng là đoạn thấm thía nhất, chan hòa tinh thần của người Việt: “Kìa nơi xa xa có bà mẹ già. Từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa. Chúc bà một sớm quê hương. Bước con về hòa nỗi yêu thương!”
Bên cạnh bản Ly Rượu Mừng, một bản nhạc được thịnh hành trong thời chiến và được trình diễn trong hầu hết mọi mùa Xuân, không những trên các sân khấu lớn mà còn tại các đồn lính xa nhà: Bài “Phiên Gác Đêm Xuân” sáng tác bởi Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông, biệt hiệu là Vì Dân, Phượng Linh, và cũng là Soạn giả Đông Phương Tử, người đã viết nhạc cho hơn 50 vở kịch vọng cổ nổi tiếng. Nhạc Sĩ cũng là tác giả của các vở Thoại Kịch lấy rất nhiều nước mắt của khán giả: “Dưới Hai Mầu Áo, Sắc hoa Mầu Nhớ..” Với Bài “Phiên Gác Đêm Xuân”, nhạc sĩ đã cho mở đầu bằng những câu hát nhẹ nhàng nhưng thấm thía: “Đón giao thừa một phiên gác đêm. Chào Xuân đến súng xa vang rền. Xác hoa tàn rơi trên báng súпɡ, ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi…Bấy nhiêu tình là bao nước sông. Trời thương nhớ cũng vương mây hồng. Trách chi người đem thân giúp nước. Đôi lần nhớ bâng khuâng, gượng cười hái hoa xuân…”
Theo lời tâm sự của ông được phổ biến trên mạng, Nhạc Sĩ cho biết: “Vào năm 1956, đơn vị tôi đóng quân ở Chiến khu Đồng Tháp Mười (Gò Bắc Chiêng, Mộc Hoá, nằm sát biên giới Việt Nam-Campuchia, sau này là Tỉnh lỵ Kiến Tường.) Trước ba ngày Tết, tôi được lệnh lên chốt tiền tiêu, tăng cường cho cứ điểm, mang theo chiếc ba-lô với chút hành trang lương khô, cùng tấm ảnh của người em gái hậu phương. Tiền đồn cuối năm, đêm 30 Tết, trời tối đen như mực, phút giao thừa lạnh lẽo hắt hiu, không bánh chưng xanh, không hương khói gia đình. Tôi ngồi trên tháp canh quan sát qua đêm tối, chỉ thấy những bóng tháp canh mờ nhạt bao quanh khu yếu điểm như những mái nhà tranh, chập chờn dưới đóm sáng hỏa châu mà mơ màng về mái ấm gia đình đoàn tụ lúc xuân sang. Thay cho lời chúc Tết là tiếng kẻng đánh cầm canh và tiếng hô mật khẩu lên phiên gác.. Vào đúng thời điểm giao thừa, ngọn đèn bão dưới chiến hào thắp sáng lên như đón chào năm mới thì cũng là lúc những tràng súng liên thanh nổ rền từ chốt tiền tiêu. Khi ấy vào buổi tinh mơ của trời đất giao hòa, vạn vật như hòa quyện vào trong tôi, có hồn thiêng của sông núi, có khí phách của tiền nhân. Tôi nghe tâm hồn nghệ sĩ của mình rộn lên những xúc cảm lạ thường, làm nảy lên những cung bậc đầu tiên của bài Phiên Gác Đêm Xuân.”
Bài thứ hai của Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông được giới yêu nhạc mê thích là bản: “Nhớ Một Chiều Xuân”. Bài này là tâm sự lãng mạn của một chàng lãng tử xa quê, một chuyện tình không đoạn kết: “Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người. Chạnh lòng tôi khơi bao niềm nhớ. Người nơi xa xăm phương trời ấy. Người còn buồn, còn thương, còn nhớ? Nắng phai rồi em ơi”… để rồi: “Người về còn nhớ khúc hát. Người yêu dấu bên bờ thành Viên. Lòng này còn quyến luyến mãi. Đêm xuân dài mà đâu có hay”.
Đó là hai bản nhạc buồn mênh mang. Khi nói về những bản nhạc vui, có hai bản nhạc của Nhạc Sĩ Phạm Duy, tác giả của cả ngàn bài hát nổi tiếng về đủ mọi thể loại: Từ Classic đến Modern, từ những bài ngắn như đồng dao như “Giọt mưa trên lá” đến những Trường Ca vĩ đại như “Con Đường Cái Quan”, từ tình tự quê hương, “Tình Ca”, đến tình yêu nam nữ như “Ngày đó chúng Mình, Kiếp nào có Yêu Nhau”, từ “Đố Ai” đến “Quê Nghèo”…” Có thể nói tất cả các bài Phạm Duy sáng tác cũng là những tuyệt tác phẩm. Hai bài về Xuân của ông viết những năm 1952, 1953, ngay sau khi ông bỏ miền Bắc vào Saigon, là bằng chứng về tâm hồn nghệ sĩ của ông đã đến tuyệt đỉnh. Bài “Hoa Xuân” thật ngọt ngào, đằm thắm: “Xuân vừa về trên bãi cỏ non. Gió Xuân đưa lá vàng xuôi nguồn. Hoa cười cùng tia nắng vàng son. Lũ ong lên đường cánh tung tròn. Hoa chẳng yêu lũ bướm lả lơi. Muốn yêu anh vác cầy trên đồi. Hay là yêu chiến sĩ ngàn nơi. Thấy hoa tươi cuời bỗng thương đời”. Trong khi đó, bài “Xuân Ca” lại nồng nhiệt: “Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui. Một đêm, một đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về. Xuân âm u lắt leo trong nguồn suối mơ. Bừng reo rồi theo nắng lên từ cha chói chan lòng mẹ. Xuân Xuân ơi, Xuân ới, Xuân ơi.”
Nói đến nhạc Xuân, không thể không nhắc đến bài “Xuân và Tuổi Trẻ”, nguyên bản viết bằng tiếng Pháp: “Le printemps et la jeunesse", Nhạc sĩ La Hối viết cho ban nhạc hòa tấu của Hội Hiếu Nhạc Faifo năm 1944. Đến năm 1946, Nhà Thơ Thế Lữ vào miền Nam, khi nghe bản này, đã rất thích, ông đã chuyển sang Lời Việt thành “Xuân và Tuổi Trẻ.”nhưng mãi đến năm 1954, mới được một nhà xuất bản cho phổ biến, và các ca sĩ nổi tiếng của miền Nam như Mai Hương, Thái Thanh, và sau đó là Bùi Thiện và Sơn Ca trong ban nhạc Hoàng Thi Thơ, đã mang những câu nhạc Valse này lên sân khấu, được khán giả yêu thích, vỗ tay nồng nhiệt. Từ đó, bản “Xuân và Tuổi Trẻ” được coi như là bản Quốc Hồn, Quốc Túy cho mọi chương trình Xuân vui tươi.
Trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt tại miền Nam, tiếng tăm của nhạc sĩ “Trịnh Lâm Ngân” -Trần Trịnh, Nhật Ngân, đã nổi cộm với nhiều bản nhạc bất hủ, trong đó có bài “Xuân Này, con không về” nói lên nỗi day dứt của người lính chiến xa nhà. Bản nhạc này được phát thường lệ trên các đài truyền thanh và truyền hình của miền Nam, như để chia sẻ tâm sự của người lính chiến, gửi về bà Mẹ Viêt Nam, ngày đêm mong con trở về: “Con biết bây giờ mẹ chờ tin con. Khi thấy mai đào nở vàng bên nương. Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về. Nay én bay đầy trước ngõ. Mà tin con vẫn xa ngàn xa. Ôi nhớ xuân nào thuở trời yên vui. Nghe pháo giao thừa rộn ràng nơi nơi. Bên mái tranh nghèo ngồi quanh bếp hồng. Trông bánh chưng chờ trời sáng. Đỏ hây hây những đôi má đào”
Đoạn giữa của bản nhạc, cũng là lời trần tình đau khổ của một số người tha hương ở hải ngoại, khi không thể về thăm quê vì còn nhiều cản trở: “Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm. Mái tranh nghèo không người sửa sang. Khu vườn thiếu hoa vàng mừng xuân. Đàn trẻ thơ ngây chờ mong anh trai. Sẽ đem về cho tà áo mới. Ba ngày xuân đi khoe xóm giềng”
Thôi, đành thế, xin gửi lời kết này thay cho người xa nhà, chưa có dịp về thăm quê, mong ngày về thăm lại sông Hương, núi Ngự, ngồi xuồng ba lá chèo trên giòng Cửu Long, và đón giao thừa ở Hà Nội yêu dấu.
Người Xa Quê,
Chu Tất Tiến.
Xuân 2026.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét