Kính thưa quí bạn
Sắp tới Tết con Ngựa, kính mời các bạn đọc một bài viết xưa của Học Giả Vương Hồng Sển
1. Một vài thú chơi Xuân đặc biệt trong miền Nam (Vương Hồng Sển, Vân-Đường-phủ, 30 tháng 12 năm 1968)
2. Tin bùng phát virus Nipah tại Tây Bengal
3. Góc dố vui và lời giải
HCD 30-Jan-2026
Chữ nhỏ khó đọc các bạn giữ key Ctrl cùng lúc lăn bánh xe trên mouse để zoom cho chữ và hình to ra.
<!>
Đây là bản chuyển tự (OCR) toàn văn bài viết của học giả Vương Hồng Sển từ các trang báo 1969 Tan Van - so dac biet Xuan Ky Dau (so 9-10), Nguyen dinh Vuong (Sai Gon). Tôi đã cố gắng giữ đúng trình bày, các dấu câu đặc thù (như gạch nối giữa các từ ghép) và cả những cách viết cũ theo nguyên bản.
-----------
VƯƠNG HỒNG SỂN
Một vài thú chơi Xuân đặc biệt trong miền Nam
Năm nay tôi bị tổ trác ! Tôi vừa viết được vài ba bài cho vài báo Xuân Kỷ Dậu, mặt vừa có chút máu, kế xảy ra chút việc nhà, chân chạy không bén đất, rồi tai nạn vừa qua khỏi, định thở cho khỏe, kế một ông bạn nhỏ — lựa là cầu mới thân, — ông bạn gởi thơ lại yêu cầu tôi giúp một bài vào số báo xuân anh đảm nhiệm.
Hỏi : Nhơn dịp chuẩn bị một số Tân Văn có chủ đề đặc biệt « Những thú chơi đầu Xuân », vậy xin bác thuật lại « vài thú chơi xuân đặc biệt trong miền Nam » cho chúng tôi nghe với.
Câu hỏi mới nghe dường dễ, nên tôi đã nhận lời. Đến nay ngồi hằng giờ, cắn viết rặn không ra câu nào, mới nhớ lại giựt mình : năm xưa trong tập nguyệt san « Văn Hóa Á Châu » (tập số 2, tháng 2 năm 1961), mình đã viết rồi một bài nhan là « Lễ tiết Nguyên-đán trong Nam dưới mắt tôi », hay là « những cái tết của tôi đã ăn, nó như thế nào ? », nay viết nữa làm sao để khỏi nhơi đi nhơi lại, khỏi trùng, gẫm ra khó quá.
Tôi định chất vấn một ông bạn hàng xóm, cũng sanh trưởng trong Nam, cũng đồng trang lứa với tôi, tôi vừa hỏi, anh gạt ngang câu chuyện : « Ai già hàm như mày ? Mày có mê tiền nhuận bút thì rán viết lấy ! Khéo hỏi bá láp, hòa bình không lo ? Thuở nay ăn là ăn, chơi là chơi, ai đi lại cắt nghĩa làm chi cho mệt ! Và ai biết làm sao mà nói ! »
Tôi đành về nhà làm lấy tôi, và nhìn nhận ông bạn Nam già có chút hữu lý. Cách ăn, cách cầm đũa, cách vui chơi tiêu khiển, cách thưởng xuân, cách ăn tết, thuở nay trong Nam, mạnh ai nấy làm được theo ý muốn, theo tiền túi của mình, được như vậy là đủ vui, làm sao cắt nghĩa ?
Người miền Nam chúng tôi, thuở nay là hết sức dễ dãi, miễn sao mạnh khỏe không đau ốm là đủ vui đủ ham sống, không cần có tiền nhiều mà cũng không cần tìm hiểu « tha cầu biệt xạ ».
Ở miệt đồng quê chúng tôi có người quanh năm không biết cà-phê là gì ! Tôi nói không ai tin, nhưng thử vô ruộng Bưng-xa-mo, Hòa-tú (Sóc-trăng) với tôi thì biết. Ảnh lụt đụt mãn năm trong ruộng, với cặp trâu với vợ con. Được một cục đường thẻ đường hộp, anh cắt để dành : « Đó là món thuốc trừ rét ! ». Năm tôi chạy tản cư vào nhà anh, thấy anh trùm mền rên hỳ hỳ, tôi sẵn có đem theo, pha hai tách cà-phê, một tách tôi uống, một tách tôi cho anh, anh uống rồi một lát chổi dậy xóc xảo vận động, miệng cười tít loét : « Thuốc, không phải đồ uống chơi ! » Một hôm anh ra chợ ôm cho tôi một cặp vịt ruộng béo lườm ; anh thấy nhà dọn dẹp chưng Tết, có một lục bình cắm nhánh mai vàng, anh hỏi, tôi nói giá, anh hít hà, qua bữa sau anh ôm ra cho tôi một bó bông mù-u còn búp, lá trụi lủi, bông trắng xóa, còn quí và hiếm có hơn bạch mai thứ giả, nhớ lại, hèn chi cụ Phan Thanh Giản, sanh tại Gãnh Mù-u, ông lấy biệt hiệu « Mai-Khê tiên-sanh » báo hại mấy ông ban văn sĩ ngoài Bắc bí lù ! Và chính anh bạn nhà quê ấy là thầy văn khoa dạy tôi tiếng Việt. Tôi làm mặt khôn cắt nghĩa phong tục tìm mai (Hàn Dũ tầm mai), mua mai đắt giá, anh nhìn tôi mà tội nghiệp, ý nghĩ mà không dám nói ra : « Mấy thằng già ở chợ ăn sung mặc sướng quá rồi hóa khùng. Đọc sách quá rồi phát điên ! Tại mấy chả nói đớt, rồi lầm lộn « Mai » và « May », « cây mai » và « cây lộc cầu may ». Mà quả thật. Ông cử gần nhà ưa nói « Mai quá chừng ! » « Mai phước cho tôi quá ! » Kỳ thật ý ông muốn nói « May quá chừng ! » và « May phước cho tôi quá ! » vân vân. Nào dè vì một sự nói đớt, một sự phát âm sai, mà làm giàu làm lợi cho các nhà bán mai bán cây cảnh ! Mà không trách nhà tân học nói đớt, vì nói đớt trong Nam đã tràn đồng. Năm tôi dựng nhà trong Gia-định, lễ ăn mừng nhà mới, cũng gần Tết, ông thợ cái thợ mộc gốc ở Phú-xuân-hội (Nhà Bè), ông chưng cho tôi một dĩa quả tử, trong lòng dĩa có đề một trái mảng-cầu xiêm, một trái dừa vừa đúng nạo, một trái đu đủ xanh và tuy cận Tết, xoài trái rất hiếm, vì không phải mùa, ông cũng rán chạy ra một trái xoài sống tròn vìn, ông ra vô có ý hãnh diện lắm, tôi không bằng lòng trách ông sao không chưng dĩa quả-tử cổ-điển, « long-lân-qui-phụng », lấy trái thơm làm thân mình chim phượng, lấy trái ớt làm vòi rồng, lấy trái chuối làm vi làm cánh, ông nhe răng cười nói tỉnh bơ : « Lạ cho ông này làm giám-đốc viện bảo-tàng mà chưa biết ý nghĩa lời cầu chúc của già. Già chúc ông « Cầu Vừa Đủ Xài » mà ông không biết ! » Té ra, ông già nầy chơi chữ, ngụ ý : lấy trái mảng-cầu, dùng chữ « cầu » ; lấy trái dừa, thay chữ « vừa » trong Nam nói một giọng ; lấy trái đu-đủ, dùng chữ « đủ » ; và lấy trái xoài, nói và hiểu ra chữ « xài » ; ông lại dặn tiếp hãy để dĩa quả-tử chưng chơi ba ngày Tết, ra Giêng sẽ dẹp, như vậy trong nhà sẽ thơ thới dư ăn dư xài, vì mấy trái cây ấy đều giỏi chịu đựng, mươi mười ngày vừa chín vừa đỏ càng thêm duyên. Mà quả thật, nhờ ông thợ cái năm ấy tặng cho tôi dĩa quả-tử « tân gia, tân xuân », nhà tôi vừa hết tiền là có Tân Văn hỏi bài, đỡ quá !
Ngày nay nhựt báo phổ biến cùng khắp và tiếng nói từ Bắc chí Nam đã thống nhứt, giọng Bắc trên đài phát thanh đã đánh chết giọng Nam, chứ hai mươi năm về trước, giọng Bắc nghe rất lạ tai, và có nhiều khi nghe một bà nói hai chữ « đu đủ » chúng tôi không khỏi bụm miệng mà không dám cười. Cũng như mới đây đi nuôi vợ nằm nhà thương, người đàn bà bị giải phẫu hôm trước, hôm sau xin cho uống nước, cô y-tá người Nam nói tỉnh phớt ăn-lê : « Bà địt được chưa ? Như bà địt được rồi thì tôi sẽ cho uống nước ! » Nhà dưỡng đường là nhà khoa học, ai dám cười ở đây, nhưng nghe làm vậy tôi xin ghi chép để đời. Vả chăng như đã nói, ở đây là nhà thương, người bịnh là người Nam, cô y-tá cũng người Nam, cho nên dùng tiếng ấy là tự nhiên, muốn tránh, đợi tra tự-điển kiếm tiếng thanh thay thế thì đã mất tự nhiên rồi.
Và cũng nhờ nhựt báo phổ biến rộng rãi, như chuyện nãy giờ tôi thuật, danh từ gọi « sống giản dị ». Như ngày xưa, chúng tôi trong Nam ít quen dùng chữ nho, chúng tôi xưa có danh-từ nôm na là « xính xái », tôi cũng không biết hai chữ đó do chữ nào, điển nào mà có. Tỷ dụ, vào quán mua đồ vật, tiếng « xính xái » người mua người bán đều dùng :
Người mua nói.— Thôi mà, anh bán cho tôi món đó với giá đó đi. Xính xái mà ! « Ý muốn nói hãy thông cảm giùm tôi, hãy bán nới cho tôi nhờ với ».
Người bán, thường là người Tàu cũng nói : — Hãy. Ngộ bán món nầy chưa tới giá của nó. Nhưng ngộ bán xính xái cho nị mà ! Xính xái ở đây hiểu rằng bán để cầu thân để được thêm một mối hàng, và cũng vì món hàng ấy (mía, quả trứng, rau thịt mau hư mau thúi), bán không cần lời nhiều.
Cái câu nguyên văn « Xính xái bò lái bồ khự » nhờ nói đủ câu tôi hiểu lại đó là tiếng Triều-châu : « — vô lai vô khứ », hai chữ đầu, tôi bí, bốn chữ sau nghĩa là « không đến không đi », « có qua có lại », mỗi lần Tết đến, về sóc nhà, tôi nghe đầy lỗ tai, hôm nay cho phép tôi nhắc lại đây tưởng không đến lạc đề.
Ở miệt Sóc-trăng, người nhà quê ưa nói một thế : « Sống xính xái » là « sống xập xệ », « sống lây lất qua ngày », và « ăn Tết xính xái » là « ăn Tết cầm chừng cho có với người ta », không cầu kỳ lập dị, tuy nói làm vậy mà trong mình có tiền bao nhiêu đều đem « xả lán », chơi cho hết để cầu may, ngày mồng một ăn xài thả cửa, cầu may trọn năm sẽ có tiền xài bất tận như bữa đầu năm đã khai trương rồi.
Dịp Tết trong Nam chúng tôi kiêng cữ nhứt là tránh bị rầy la, sợ có huông xúi quẩy luôn năm. Cha mẹ thấy con lỗi lầm cũng nhịn quở mắng ; con cái giận nhau cãi nhau cũng nhịn cho êm ấm trong nhà trong cửa... và vợ chồng dẫu cắn-đắng cũng làm lành với nhau ngày mồng một và nhiều khi làm lành luôn suốt năm, cũng nhờ đầu xuân giả lả hết giận hồi nào cũng không hay.
Bạn tác anh em ngày Tết gặp nhau ngoài đường và thường đi viếng nhau từng nhà với mấy câu liền miệng : « Cúng hỷ bạt xôi » hiểu theo Nam theo chữ viết là « Cung hỷ phát tài », người Nam nhiễm và bị ảnh hưởng Tàu từ trong máu tủy.
Cũng ngày Tết, trong nầy ưa nói hai chữ « lì-xì » và qua ngày Tết cũng còn lì-xì mãn năm, mỗi việc đều lì-xì cho xuôi chèo mát mái, thét lì-xì thành tục, từ số tiền con gói giấy đỏ để cho trẻ nít đầu xuân đã trở nên lì-xì cái fri-gi-đe đến cái xe hơi đi lễ cầu, lo lót, hối lộ. Xét ra cho kỹ, đầu dây mối nhợ của sự hối lộ cũng do lễ Tết, lễ vật đầu năm đi tết mừng quan, ban đầu một chục trứng, một con gà, sau biến lần ra một tấm chèque, một số ngàn số triệu. Có một anh thầu vào quan, quan móc ví thuốc, thuốc quan đã hết, anh thầu lật đật móc ví của mình dâng quan, quan liếc : đó là một chèque cuốn lại giá đề một triệu ; quan lắc đầu như chê điếu thuốc vẫn còn nhỏ, anh thầu đứng dậy lễ phép thưa chiều nay tôi sẽ đem lại quan điếu xi-gà, lớn bằng mười điếu thuốc này. Quan gật đầu. Ôi, lì-xì. Ôi, lễ Tết đầu năm !
Ở miền Nam nầy, nếu hỏi chúng tôi về thú chơi tiêu khiển vào buổi đầu xuân, thú nào đặc sắc nhứt cho dân bản xứ, tôi lấy làm bối rối và chỉ biết trả lời vỏn vẹn rằng Tết đến, trong Nam chỉ biết đánh bài, giởn bạc chớ nào ai biết chơi giống gì ba ngày xuân ?
10 | 11
Mà thật, cận Tết, mùa lúa làm rồi, gặt hái vừa xong, lúa đập rồi, đã dê rồi, đem vô bồ vô vựa đã yên tâm rồi, thêm ngoài ruộng thiếu gì món « ngon và chịu chơi », gà vịt ê hề và mập cụi, con gặt con hái, « bọn cắt đập » từ miệt Vườn xuống tỉnh Sóc, tỉnh Bạc còn kẹt lại đó, cho nên trăm nhà như một, từ chủ điền đến tá điền, từ Sóc-trăng đến Bạc-liêu, mấy năm trúng mùa và chưa có nạn chiến tranh như ngày nay, đều « ăn chơi thả cửa ». Từ lớn đến nhỏ từ chủ đến người làm công, kẻ nào mê gà đá độ thì khởi sự săn sóc mấy con « trống cưng » hy vọng của mùa, kẻ nào thiệt thà sợ bài bạc, thì phất con diều giấy, thả diều gắn lưỡi dứa cho nó có tiếng sáo diều, chiều chiều gió thổi, tiếng kêu « từ tư từ tứ ! » Ở Mỹ-tho trước có một thi sĩ, mỗi năm gần Tết, làm diều lớn bằng cái mền, mua dây nhợ thả hết Tết mới dẹp, ông vui như trẻ nhỏ, mà diều ông còn kém đẹp, thua con diều thuần của anh Chủ Lý (Trần Đắc Lợi) thả trong ruộng Bà Hương Chanh, là bà nội của anh Chủ, con diều thuần rất đẹp, lên cao trải cánh nghiêng nghiêng bay liệng ngó quên thôi, hai đuôi dài tha thướt lê thê, khiến người đứng xem như mơ như mộng. Mà cái sướng còn thua của anh Chủ Lý, anh Chủ tay cầm sợi dây diều mới là khoái tột bực. Kẻ ở ngoài sòng, đánh cóc keng, thằng ăn có ở ngoài cũng như thằng coi thả diều, đâu hiểu và có cái sướng của thằng trong cuộc !
Còn những kẻ nào thích lúc-lắc bông vụ thì sắm bàn sắm đồ nghề, lựa ngà kiếm xương làm ra hột « tào cáo » (đại cầu), vẽ lại bàn bầu cua cá cọp... Kẻ nào ở gần sóc Thổ, thì trò nghề « xây vố » cho đàn thồ đánh. Có kẻ thích chơi bài ngà, món sở thích của người Cao-miên miệt Sóc-trăng, ngoài có cái hộp bằng ngà nắp mở được, trong hộp vuông ấy có đựng một con ngà mặt lật ngửa vẽ nút gì « mặt tam mặt tứ gì », khi chơi, chủ cái lấy hộp và con ngà đề vô một cái túi, ngồi trước mặt tay con, lựa mặt rồi lấy hộp ra để giữa sòng cho tay con đặt tiền, gần như xổ đề xổ số, ấy thế mà vì gian nhiều ngay ít, tay con đàn thồ thua sạch nhà sạch cửa, đặt hoài không trúng, lâu ngày tích lũy, giận sôi gan cũng vì anh cờ bạc Việt ít thật thà. Thật thà sao được, vì sách đã có chữ « cờ gian bạc lận ».
Người ở chợ, công chức, thương gia khá giả thì thích cắt tê trâu, xi-phé, già-dách, bài cào ba lá, bài mã-chược, thín-cầu sáng đêm, hoặc gầy sòng tứ sắc với các bà các thím.
Trong Nam vào ba ngày Tết, dám chắc không người nào gọi là ở không mà không rớ đến cây bài. Đau nằm liệt giường ngồi dậy không nổi, cũng bắt trẻ cháu lại gần « câu tôm câu cá » cho mình xem giải muộn !
Kể về chơi thì tôi đã biết chơi từ nhỏ. Kề ăn thì tôi đã biết ăn từ khi núm vú mẹ bị thoa lọ nghệ đen thui. Cái ăn cái chơi đã trải đủ mùi và có thể nói không lầm « tôi ăn muối còn nhiều hơn vài bạn nhỏ ăn cơm ! », nhưng ăn chơi mấy cũng chưa vừa, và nhớ lại còn thèm một cái Tết bỉ bàn năm tản cư vô Hòa-tú (1946).
Cháo tết Chợ Đồn đêm khuya vài hột cơm thả trong nước luộc gà ngọt xớt, còn thua bữa cơm Chòi-mòi (Bạc-liêu) đầu xuân một con cá rô ruộng nướng, thoa bơ Bretel chánh hiệu và thả vô dĩa nước mắm hòn có xịt ít nhiều cà-cuống. Ăn làm vậy mà cấm dùng đũa, phải « xi đay » ăn tay ăn bóc như người Miên mới thú vị cho. Tết ăn khô nai Bình-dương, khô gộc bụng đói sẵn Rạch-giá, đầu năm Kỷ Dậu tính sổ, không Tết nào vui bằng và nhắc đến còn chảy nước dãi bằng Tết năm 1946 (ất-dậu) ? Tết năm ấy, gươm kề cận cổ mà chưa hay, chạy tản cư vô ruộng nhà, ở đậu nhà Cậu Hai Vĩnh (Trần Đắc Vĩnh) (Hòa-tú) là phải có ba sanh hữu hạnh, đầu thai ba kiếp chưa gặp lại chỗ vui như chỗ nầy. Gần Tết, Cậu hai kêu gánh hát Triều-châu vô diễn cho tá-điền xem thí. Đá gà hốt me còn hơn kẹt-mết. Gái đồng, gái quê mặc sức lựa. Rượu Cậu sắm đủ rượu ngon, Bisquit, rượu chát cả mấy trăm chai trắng đỏ nhóc hãm. Thuở đó đồ gia vị hút mà Cậu có đủ vừa hột cải đến chai Maggy thứ thiệt. Cậu có đến ba người đầu bếp, ở ruộng mà muốn ăn Tây Tàu Ta, có đủ tay ngự-thiện phục dịch hết lòng. Cậu học ít ; chỉ học đến bực trung học trường tư ở Cần-thơ. Thuở ấy chưa có lớp dạy khoa nông-lâm, nhưng Cậu có khiếu, mua sách Tây Cậu trồng từ lá cải Đà-lạt đến cải
12 | 13
xoong (cresson), ớt bị, đủ thứ. Cậu hào hiệp, tá điền nào muốn ăn lại xin Cậu đều cho, nhổ cả liếp Cậu cũng ưng không nói gì, duy đứa nào vô phép lén ăn cắp lén nhổ không xin phép thì sẽ biết tay Cậu. Nhà Cậu giàu, Cậu chơi đá banh (foot-ball), Cậu dọn sân trồng cỏ, sân theo nhiều người thấy, còn đẹp và đúng thước tấc hơn sân Bờ-rô, Sài-gòn. Cậu sắm y phục thể thao đủ bộ cho hai ê-kíp chơi túc-cầu. Hết chơi phải góp y phục giày vớ đem cất vào kho có người chịu trách nhiệm. Tôi vì mê bao nhiêu ấy mà năm có giặc Tây giặc Thổ dậy (1946) tôi chạy vô đó ăn Tết cho phỉ chí ăn ! Ở đó là cảnh tiêu Bồng-lai trên địa thế. Ban ngày cờ bạc, nói tiếu-lâm. Muốn ăn thịt bít-tết, cứ lựa bò tơ ngã xuống, ăn không hết, bán lại cho tá-điền, tính một đồng rưỡi mỗi ký-lô thịt lựa. Còn dư xẻ khô để nhậu. Muốn ăn tôm làm tạp-pín-lù, phải nói trước một ngày ; Cậu sai mò tôm lên rộng trong lu khạp cho nhả bùn và mặc sức lựa con nào vừa ý. Muốn ăn cá nướng cá đúc lò cũng thế. Tôi đã thấy dọc bờ tre, dưới mương đĩa, cá trê cá lóc số ức vạn, cá bóng dừa chiên lăn bột cũng nuôi sẵn trong ao, Cậu có một ao thả sen chứa nước mưa mãn mùa để ăn uống, một ao lớn hơn để dành tắm rửa và giặt gội, cấm không cho xài lộn xộn cầu thả. Chơi bài không cho đánh lớn. Ai bài xâu và thua có Cậu giúp cho ăn cây ngon kéo chến lại. Cá ngoài ruộng, xuýt nữa tôi quên, Cậu không cấm câu và chài, duy mỗi chiều câu lưới được bao nhiêu phải ghé trại trình lên Cậu, cá nào ngon Cậu mua lên trả tiền sòng phẳng không hẹp bụng hai đàng, khi nào Cậu không mua sẽ đem bán đem ăn tùy ý. Cậu ở với khách nhờ nhẹ hết lòng chiều ý khách, và nghe ở đâu có ai biết nấu món nào ngon thì Cậu sai người đi học tốn kém không nệ. Như đã nói, Cậu có đến ba người đầu bếp khéo, thế mà Cậu có tánh thích ăn dạo, thỉnh thoảng Cậu sai bắt vịt đem lại nhà nào đó leo lên võng nằm chờ luộc vịt, Cậu « khoái » nhà đó có khi vì nhà có con gái đẹp, hoặc xin đừng hiểu lầm, vì chẳng qua chủ nhà giỏi nói tiếu lâm đề Cậu cười. Nếu hỏi tôi phong lưu trong Nam là thế nào, tôi xin chỉ tìm sở ruộng cậu Hai Vĩnh trước năm 1946 thì biết. Cậu không tiếc của, lấy lúa phải chăng, ăn ở nhơn đức, ấy vậy mà cách mấy tháng sau Cậu bị tá điền dậy theo giặc lên án Cậu và rược Cậu chạy bỏ điền, nay đi làm thơ ký ăn lương công nhựt. Thú vui Tết không đâu hơn trên điền Cậu Hai Vĩnh, mà nào có giống Tết miền Bắc miền Trung. Tôi chưa biết miền Bắc vì lúc trước có được bao nhiêu tiền tôi đều cúng vô đồ xưa. Đến như miền Huế miền Trung, tôi cũng mới biết khá khá từ năm 1958 đến năm 1967, nhơn đi dạy học ngoài ấy. Duy tôi dám chắc chúng tôi trong Nam đã bình-dân-hóa cái Tết. Không kể những năm gần đây máy bay dễ dàng, một cành đào từ Hương-cảng cũng có thể đem vô Sài-gòn cho các phú gia thưởng thức ba ngày xuân, về giá tiền mấy vạn nào sá kể. Trước năm đảo chánh, chúng tôi chỉ chơi nhánh mai. Chậu thủy tiên cũng mới nhập gia từ ngày các văn sĩ phong lưu ngoài Bắc đem theo vào để đỡ nhớ phong vị chốn cũ thú xưa. Ngoài có bánh chưng, nay trong nầy cũng ăn bánh chưng thịt đông lạnh theo đồng bào Bắc nhưng không bỏ bánh tét gói theo kiểu ông già bà cả năm xưa.
Người Tàu ở xóm Việt ăn Tết theo Việt và ăn Tết dữ hơn Việt, vì nay họ là người Việt gốc Hoa.
Người Miên ở chung xóm với người Việt thấy Tết vui quá cũng nhào vô ăn Tết với Việt cho thêm vui, đá gà chung, đánh bài chung, nay họ là người Việt gốc Miên, có người nói rành rẽ tiếng Việt, chưa chắc ai rành hơn ai khi nói chuyện.
Duy buồn một nỗi, người miền Nam gần như mất gốc. Mượn dịp Tết mà vui say bài bạc, có khi thừa dịp Tết ra Cấp tắm biển, lên Đà-lạt đồi gió, sự cúng kiếng ông bà giao phó cho em cháu chăm nom. Một câu chuyện như sau xin lấy làm câu kết thúc. Cách nay mươi năm có một ông đại thần cựu phụ chánh ngoài Kinh, chạy vào Nam lánh nạn. Ông có quen thân với một nhà vọng tộc ở Chợ-lớn, làm Tòa Áo Đỏ thời Tây. Ông Tòa mời ông quan Huế đến nhà ăn Tết. Ông
14
Quan Huế khăn đen áo lớn đến nhà ông bạn, ông bạn ra rước mặc quần đùi áo cụt tay, ông quan xốn mắt nhưng không nói. Ông quan giữ lễ, xin làm lễ yết kiến từ đường nhà bạn, ông bạn cười lớn nói : « Thôi, tha đi, hãy qua phòng đây đánh phé với tụi tui ». Ông quan cách vài hôm sau lại nhà tôi, thuật lại mà mặt còn tức : « Thằng gì hỗn quá. Ông bà nó mà ngày Tết nó không cho lạy. Hèn gì, nhớ lại rồi, năm xưa, nhà tôi chưa kịp vào khem, nó ra Huế đi xe Delage, dắt theo một con mèo ; nó xin tôi chứa nó và mèo nó trong ba ngày Tết ! »
VƯƠNG HỒNG SỂN
(Vân-Đường-phủ, 30 tháng 12 năm 1968)
-----===<oOo>===-----
HCD: Tóm tắt nội dung bài báo:
Tóm tắt các thông tin chính từ bài báo về tình hình dịch bệnh tại Ấn Độ tính đến cuối tháng 1/2026:
Tiêu điểm: Bùng phát virus Nipah tại Tây Bengal
Ấn Độ vừa ghi nhận 2 ca nhiễm virus Nipah (một loại virus nguy hiểm lây từ dơi sang người) tại bệnh viện tư nhân Narayana ở Barasat, bang Tây Bengal (cách Kolkata khoảng 25km).
1. Chi tiết các ca nhiễmĐối tượng: 2 nữ y tá làm việc tại khoa hồi sức tích cực (ICU).
Tình trạng: Một người đang trong tình trạng nguy kịch (hôn mê).
Nguồn lây: Nghi ngờ lây từ một bệnh nhân có triệu chứng hô hấp nặng đã tử vong trước khi kịp làm xét nghiệm (được coi là "ca bệnh chỉ số" - index case).
Lịch trình: Các y tá tiếp xúc với nguồn bệnh từ cuối tháng 12/2025, phát bệnh vào đầu tháng 1/2026 với triệu chứng sốt cao và suy hô hấp.
2. Phản ứng của chính quyềnCảnh báo toàn quốc: Bộ Y tế Ấn Độ đã phát báo động đỏ trên toàn quốc.
Khoanh vùng: 180 người đã được xét nghiệm, 20 người có nguy cơ cao đang được cách ly 21 ngày. Hiện tại các mẫu xét nghiệm này đều cho kết quả âm tính.
Giám sát chặt chẽ: Các bang (như Tamil Nadu) được yêu cầu theo dõi đặc biệt các ca mắc Hội chứng Viêm não cấp tính (AES) – một biểu hiện thường gặp của Nipah để tránh bỏ sót ca bệnh.
3. Sự nguy hiểm của virus NipahTỷ lệ tử vong: Rất cao, lên tới 75%.
Triệu chứng: Sốt, nôn mửa, mệt mỏi, sau đó tiến triển thành viêm phổi và sưng não (viêm não).
Đặc điểm: Đây là loại virus từng truyền cảm hứng cho bộ phim Contagion. Nó có thể lây từ dơi sang người qua thực phẩm bị nhiễm bẩn hoặc tiếp xúc trực tiếp, sau đó lây từ người sang người qua dịch tiết.
Ghi chú quan trọng: Các chuyên gia cảnh báo rằng việc nhầm lẫn Nipah với các bệnh hô hấp thông thường hoặc viêm não khác có thể khiến nhân viên y tế gặp rủi ro cực lớn nếu không có biện pháp bảo hộ kịp thời.
----===<oOo>===-----
Triết lý vun lượm được trong Internet
( trích ==> ...Nếu bạn luôn cảm thấy sống không vui, thì chín câu nói dưới đây bạn nhất định phải nghe cho thật kỹ. Chúng có thể giúp bạn gỡ bỏ nút thắt trong lòng ngay lập tức, để bạn sống tự tại, sống vui vẻ.
"Đời người thực ra chẳng có độ tuổi nào gọi là tốt nhất, chỉ có tâm thái tốt nhất mà thôi".
Chúng ta không thắng được năm tháng, cũng chẳng chạy đua lại với thời gian, chỉ có cách dùng phương thức mình thích, sống trọn vẹn mỗi ngày từ bình minh đến hoàng hôn, đó mới là đáp án chính xác. Vậy nên, nhất định phải học cách hòa giải với chính mình, hai phần xem nhẹ, ba phần buông bỏ, năm phần yêu thương bản thân. Quãng đời còn lại không tức giận, không cố lấy lòng ai, càng không vì lỗi lầm của người khác mà bắt mình trả giá. Hãy nhớ kỹ: được mất tùy duyên, trân trọng những gì đang có, sống trọn vẹn cho hiện tại, mới không phụ thời gian, không phụ kiếp này. <== hết trích)
Giả Giả Thiền Sư “than” rằng:
“Xưa nay, xuân qua thu tới, hoa nở hoa tàn vốn là lẽ tự nhiên của tạo hóa. Kẻ phàm phu cứ mải miết đi tìm "thanh xuân" nơi vóc dáng, mà chẳng hay rằng: "Tâm hữu sở trú, vật hữu sở kỳ". Tâm còn vướng bận thì dẫu đôi mươi cũng đã già cỗi; tâm được tự tại thì dẫu bạc đầu vẫn tựa trẻ thơ. Sống trọn một ngày, chính là thắng được một ngày. Hòa giải với chính mình, ấy mới là đại trí huệ”.
-----===<oOo>===-----
Góc đố vui và lời giải
HCD: Thưa các bạn đây là câu đố cổ điển và có cái bẩy trong đó, các bạn thấy hình như phải tính toán quá khó nên chịu thua. Thật ra có tính toán chi đâu. Nhìn qua thấy ngay lời giải mà.Cái bẩy là hỏi khơi khơi “khoảng hở giữ sợi dây và mặt đất” mà không xác định điều kiện rõ ràng. Các bạn có thể trả lời theo điều kiện của chính mình đặt ra.
Chắc câu nầy quá dễ các bạn không muốn giải
From: nang huynh <nlehuynh@
Date: 1/29/26 10:05 AM (GMT-08:00)
Subject: Tôi quên gởi
Câu 1: Cả 3 A,B,C đều đúng.
Câu 2: theo hình.
Câm ơn Anh, chúc Anh mạnh khỏe.
Năng
Tôi mới xem lại, cái email này chưa gởi ( saved in draft folder )
Yahoo Mail: Search, Organize, Conquer
HCD: Cám ơn anh Năng
Cái mẹo là gạt người xem rằng trái đất quá lớn, nên tưởng 1 mét dạy nối thêm vô nghĩa. Thật sự thì nếu hai điểm nối nằm sát nhau kéo sợi dây nối lên sẽ cách mặt đất tới 50cm. (Xem hình)
-----===<oOo>===-----
From: Bùi Phạm Thành <bpthanh@
Date: 1/29/26 9:15 AM (GMT-08:00)
Subject: Re: Nhung loi chuc tung (Le Ngoc Tru) goc do vui va loi giai
Anh HCĐ,
Tôi lại thử xem sao với câu đố "Có đến kịp không?"
1. Tàu đến chậm -> Đến trường trễ
2. Tàu KHÔNG đến chậm, bị nhỡ tàu, thì có 2 trường hợp:
- Tàu đến sớm -> Nhỡ tàu
- Tàu đến đúng giờ -> Nhỡ tàu
Nhỡ tàu, thì chờ chuyến sau. Mà chờ chuyến sau thì chẳng khác gì tàu đến chậm (trường hợp 1).
3. Kết luận: Trong tất cả mọi trường hợp, tàu đến ga Chậm, Sớm, Đúng giờ, thì cũng không thể đến trường đúng giờ. Tuy nhiên, đến được trường thì trễ còn hơn không?
Nhưng cũng có thể dùng đây là cái cớ để trốn học, vì đã trễ thì … trốn học luôn :)
HCD: Cám ơn anh Thành, đúng ngay boong
-----===<oOo>===-----
From: Minh Tri Tran <muoitri@
Sent: Thursday, January 29, 2026 1:43 CH
Subject: Trả lời đố vui
Câu đố là họ phải làm thế nào để qua sông? Thưa thầy, theo em họ làm thế nầy thì chỉ cần một chuyến qua luôn bốn người?.!... Nếu sông dài mà người nầy chở người kia qua lại nhiều chuyến hết ngày sao đi tiếp được? Cho nên ông Xuân và ông Hạ người chèo lái, người chèo mũi, hai ông còn lại cởi đồ bỏ lên thuyền đeo hai bên, tới bến mặc đồ vô đi tiếp...Gọn lẹ ít tốn thời giờ, hai ông kia còn có dịp tắm sông... Mến chúc thầy và quý đồng hương có một ngày vui.
Kính mến
HCD: Cám ơn anh Trí, đúng thật tế đời thường nhất-“
----===<oOo>===-----
THẾ MỚI RẦY.
3) - Ba nhà thám-hiểm đi cùng với ba tên Mọi ăn thịt người. Nhưng chúng cũng không dám hạ-thủ khi mà số người hai bên bằng nhau. Chúng chỉ rinh cơ-hội nào bên chúng đông hơn là hạ sát các nhà thám - hiểm đó. Cũng biết thế nên 3 nhà thám hiểm luôn luôn ở gần nhau, không người nào dám dời xa 2 bạn.
Nhưng cả bọn nửa đường gặp một con sông rộng. Thật là khó nghĩ. Cả 6 người có mỗi một thuyền nhỏ chỉ đủ chỗ cho 2 người ngồi. Hơn nữa, chỉ có một nhà thám hiểm và một tên Mọi biết chèo thuyền. Vậy làm thế nào sang sông chót lọt cả đoàn mà vẫn giữ toàn tính-mệnh cho cả ba nhà thám-hiểm? Làm thế nào để bọn thám-hiểm không lúc nào bị thiểu số để bị bọn Mọi ăn thịt?
Một nhà thám hiểm chỉ nghĩ có 2 phút đã tìm ra cách sang sông cả đoàn. Các bạn thử tìm xem họ sang bằng cách nào?
9 attachmentsDownload all
Thu choi Xuan mien Nam, tin dich binh Nipah, goc do vui va loi giai.doc
DOC · 1 MB
image001.jpg
JPG · 94.1 KB
image002.jpg
JPG · 58.7 KB
image003.jpg
JPG · 63.8 KB
image004.jpg
JPG · 18.4 KB
image005.jpg
JPG · 27.9 KB
image006.jpg
JPG · 40.2 KB
image007.jpg
JPG · 60.4 KB
image008.jpg
JPG · 67.4 KB
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét