Kính thưa quí bạn
Hôm nay mời các bạn đọc báo Xuân Tự Do Xuân Kỷ Hợi 1959
1. Những Lối Chúc Tụng Ngọc-Toàn Lê Ngọc Trụ (" De l'expression des voeux dans l'art populaire chinois ")
2. Góc đố vui và lời giải
HCD 29-Jan-2026
Nếu các bạn không thấy hình chỉ thấy cái khung trống không hình, thì nên dọc Microsoft Word attached.
<!>
HCD: Ghi chú: Đây là bản chuyển ngữ (OCR) từ số báo Tự Do Xuân Kỷ Hợi 1959.
Tôi đã giữ nguyên phong cách trình bày, các dấu gạch nối (ví dụ: hạnh-phúc, xã-hội), các từ ngữ cổ (nhơn tiện, nầy, kiều), lỗi sắp chữ (ví dụ: hi-sự thay vì hỉ-sự, biền Đông thay vì biển Đông) và hệ thống chữ Hán đi kèm theo đúng nguyên bản.
Tôi không biết chữ Nho, máy ghi sao để nguyên vậy. Còn chữ quốc ngữ thì dài quá nên chưa dò coi OCR có sai do bản in chữ quá mờ không.
Chữ nhỏ khó đọcm các bạn giữ key Ctrl cùng lúc lăn bánh xe trên mouse để zoom cho chữ và hình to ra.
NHỮNG LỐI
CHÚC TỤNG
NGỌC-TOÀN LÊ NGỌC TRỤ
TRONG xã-hội, có một tâm-lý chung là ai cũng muốn được bình-an phú-quý. Thật vậy, suốt đời người, không gì hạnh-phúc bằng được bình-an mạnh khỏe, được sung-sướng may-mắn luôn, được tiền nhiều của lắm, ruộng cả, nhà to, chức tước, oai-quyền, sống lâu đề tận hưởng, và thấy đông con nhiều cháu, hiền đạt với đời.
Dân-tộc ta trong cuộc xã-giao hằng ngày, gặp thì tay bắt mặt mừng, hàn huyên vồn-vã ; xa thì thơ-từ chúc nhau nồng - nhiệt ; : " bình-an khương kiện ", " vạn sự như ý ", " muôn điều may-mắn "...; những khi tiệc-tùng hi-sự, ngày xuân ngày tết, đám cưới tân gia, thăng quan tấn tước, đáo tuế sinh-nhựt, thậm chí khi từ-giã cõi đời, trong cảnh bi ai, mỗi mỗi thảy có những câu chúc - ước cầu mong, chứng tỏ một tinh-thần vui sống lạc-quan, có vui sống mới phấn-đấu nỗ-lực, tại thế mong tận hưởng với hy-vọng tràn-trề, mà tạ thế thì vẫn ước được vĩnh-cửu trường tồn, thiên-thu bất-diệt.
Những điều dùng chúc ước lẫn nhau ấy, cốt cầu được như ý đề vui sống và nuôi hy-vọng, còn được cùng không, đó là chuyện khác. Vì vậy mà chúng ta không lấy làm lạ thấy có nhiều lời ước muốn quá nhiều, muốn " phước tự biền Đông ", " sống muôn muôn tuổi ".
Chúng tôi lần lượt trình qua các lối biểu-diễn chúc-tụng theo tinh-thần á-đông, phần lớn dựa vào tài-liệu trong quyền " De l'expression des voeux dans l'art populaire chinois " (về lối biểu-diễn những lời chúc ước trong nghệ-thuật bình-dân Trung-Hoa của ông Edouard Chavannes, mong giúp vui bạn đọc vào dịp xuân về.
-----===<oOo>===-----
Có hai lối biểu-diễn lời chúc-ước :
Lối tự-dạng viết trọn chữ trọn câu chúc ước, và lối tượng-trưng, dùng những hình vật tượng-trưng, hoặc những hình vật mà tên nó tương-tự với tiếng dùng cầu chúc, rồi ráp lại thành một câu chúc.
I. — Lối tự-dạng :
Viết, vẽ, chạm, khắc, thêu lộng trên giấy, lụa, cây, đá, vàng bạc, xương ngà, đồ đồng, đồ sứ, những chữ những câu trọn vẹn, như « như ý » 如意, « bình an » 平安, « phú-quý » 富貴, « đại kiết » 大吉, « song hỉ » 囍, « tam đa » 三多, « phú quý trường mạng » 富貴長命, « phúc, lộc, thọ, toàn » 福祿壽全, « như nguyệt chi hằng » 如月之恆, « như nhật chi thăng » 如日之昇, « phước như Đông hải » 福如東海, « thọ tỉ Nam-Sơn » 壽比南山, « liên sanh quý tử » 連生貴子, « trạng-nguyên cập đệ » 狀元及第, « nhất lộ thiên thăng » 一路天升, « khai trương hồng phát » 開張鴻發, « ngũ phúc lâm môn » 五福臨門, « khánh lạc thăng bình » 慶樂昇平, « bình an như ý » 平安如意...
Chữ viết đủ lối ! chân, lệ, triện, thảo, có khi dùng hình con bướm, con rồng.
Ở xứ mình, có một dạo, người Sơn-Đông đi cùng làng khắp xóm, viết những chữ " Phúc ", " Lộc ", " Thọ ", " Phú "... bằng hình bướm bay, rồng lộn... Hai chữ " Phúc ", " Thọ " được họa-sĩ dùng nhiều, chế-biến đủ kiều đề vẽ " hồi văn ", " chạy bìa " các tiền bàn, liễn-chắn bàn ghế, khay kỷ... cho thêm mỹ-thuật và ý-nghĩa. Ở Huế, có hai tấm bình-phong bằng danh-mộc cẩn sứ, sắp một trăm chữ " Phúc ", một trăm chữ " Thọ ", viết đủ lối chân, lệ, triện, thảo, vẽ đủ kiều. hình tròn, chữ nhật, hình thuẫn... đề tượng - trưng cầu chúc « bá phúc 百福, bá thọ 百壽 ».
II.— Lối tượng - trưng
Có hai cách :
— tượng - trưng chánh-thức là dùng những hình-vật có ý-nghĩa tượng-trưng rõ-rệt ;
— tượng - trưng giả-tá, tạm gọi như thế, là mượn những hình-vật gì mà tên nó đọc lên nghe mường-tượng với tiếng muốn cầu chúc mà tượng-trưng.
1.— Tượng-trưng chánh-thức :
Quốc huy của nước Việt-Nam Cộng-Hòa ngày nay là cây trúc 竹 cũng đọc trước, tượng - trưng tinh-thần người quân-tử, ngay thật, công-bình liêm-khiết, khí tiết chẳng đổi dời, « tiết trực tâm hư » như cây trúc, cành lá xanh-tươi (quân-tử trước).
Long 龍 (rồng) chỉ sự thạnh-vượng, oai-quyền, khi xưa thuộc về của vua ; phụng 鳳, thuộc về " âm ", đề dùng cho quý-phái đẹp thời phong-kiến : lân 麟, chỉ sự hiền-lành, hòa-bình và cũng tượng-trưng " con quy ", vịn theo bài thơ « Lân chỉ 麟趾 » trong kinh Thi ; Quy 龜, Hạc 鶴, chỉ sự sống lâu, trường thọ.
Một đĩnh 錠 (thoi) vàng chỉ sự giàu có, nhiều vàng bạc ; cuốn sách 冊, cây bút 筆, sự học-hành, hội-họa.
Cây tùng 松, lá xanh mãi mãi với cảnh đông thiên, biểu-hiện sự trường-sanh vĩnh-tồn, hoặc người trượng-phu không đổi tiết (trượng-phu tùng).
Trái đào 桃, biều-hiệu sự sống lâu, bởi lấy tích bà Tây - vương - Mẫu nói cây bàn - đào 蟠桃 " ba ngàn năm mới nở bông, ba ngàn năm mới đâm trái "; ai ăn được trái thì thọ đời đời.
Trái lựu 榴, tượng-trưng cho sự đông con vì nó có nhiều hột, mà chữ « tử 子 » là " hột " cũng có nghĩa là " con ".
Một quyền sách Tàu chép chuyện tiên có kề một người, sau khi ăn nấm chi 芝 thấy trẻ lại ; người đạo-sĩ bảo anh ta rồi sẽ sống lâu bằng con quy, nên nấm chi thường chạm trên cái « như ý 如意 », tượng-trưng cho sự sống lâu.
Bông thủy-tiên 水仙 chỉ sự thanh-nhàn vô-sự và tuổi thọ như ông « Tiên », ấy là « phước thọ hoàn-toàn ».
Con « nhện » biều-hiệu sự " vui ", bởi có câu : « tri-thù báo hỉ » 蜘蛛報喜 là " con nhện (tri-thù) báo tin mừng ". (1)
Con « cóc ba chân » chỉ sự " thi đậu " lấy ý-nghĩa con « thiềm-thừ » (con cóc) ở tại cung trăng, mà trong cung trăng lại có cây quế, bông quế trổ về mùa thu. Mùa thua thuở xưa, là mùa thi-hội đề đỗ « trạng-nguyên ».
Con chung tư 螽斯 loại sâu có cánh như con châu-chấu, đẻ ra một lần rất nhiều con, nên tượng-trưng sự đông con, vịn theo bài thơ Thiên
(1) Thuyết này của người Trung-Hoa, người Việt trái lại cho « nhện sa » là " điềm không hay ".
Châu-Nam trong Kinh Thi, khen bà Châu-Thái-Tự không có tánh ghen, nên các phi-tần được ở chung nhau từng đoàn từng lũ và sanh con-cái được nhiều như cào-cào :
" cánh con châu-chấu kia, nhiều nhung nhúc; đáng khen thay con cháu nó có dáng khoan-thai !
" cánh con châu-chấu kia, bay rào-rào ; đáng khen thay con cháu nó từng đoàn từng lũ ;
" cánh con châu-chấu kia, dày chi-chít ; đáng khen thay con cháu nó được vui vầy !
Con chim bồ-câu (cưu-cáp 鳩鴿) chạm trên đầu gậy tượng-trưng sự sống lâu, lấy theo điền-tích : " Đời Hậu Hán, người nào tuổi 70, được vua ban cho gậy ngọc, đầu gậy có chạm chim bồ câu ; loài bồ câu ăn-uống không bao giờ nghẹn, sở-dĩ cho gậy có chạm chim bồ-câu là mong cho người ấy ăn-uống không mắc-nghẹn ".
Cây mai 梅 với chim hạc 鶴, tượng - trưng sự thanh-nhàn ẩn-dật :
« Nghêu-ngao vui thú yên-hà
Mai là bạn cũ, hạc là người quen ».
Cái « như ý » 如意, như tên của nó, chỉ sự ước-mong " như ý-nguyện ". Cái như-ý dùng tượng-trưng đây bằng ngọc, bằng ngà... dài cỡ một thước tàu (0m32), chuôi phần nhiều làm hình nấm " chi 芝 " và hình " mây ". Nó không phải cái như-ý, chuôi hình chữ " tâm " 心 của nhà Thiền thường cầm, trên có chép chữ, đề phòng khi quên sót, hoặc đề nhắc-nhớ việc làm...
-----===<oOo>===-----
2.— Tượng - trưng giả - tá :
Theo lối nầy, ai muốn dùng vật chi cũng được miễn tên nó mường-tượng với tên vật tượng-trưng sự tốt lành. Người mình chưng hoa-quả vào dịp Tết thì dùng trái đu đủ đề ước sự " giàu có, đầy đủ luôn "; chùm trái sung, sự " sung-túc thạnh-vượng "; trái thơm, mong được " tiếng tốt danh thơm " (phương-danh 芳名); bông mai, cầu được " nhiều may-mắn luôn "; bông huệ, được " trí-tuệ thông-mình "; cây quýt hoặc cây cách đề được " đại-kiết " (cát) 大吉 ; Chưng cây « phước dũ 福裕 », đề cầu được " phước đầy đủ ", cây vạn thọ 萬壽 (muôn tuổi), cây thiên tuế 千歲 (ngàn tuổi), cây vạn niên tùng 萬年松 (muôn năm, cây đào tiên (sống lâu), chẳng những đã được đẹp mắt vui tươi trong ba ngày xuân mà còn đầy ý-nghĩa chúc-tụng ?
Người Trung-Hoa cũng dùng lối " chơi chữ " như thế đề tượng-trưng sự chúc-ước.
Con voi dùng chỉ điềm lành, bởi voi tên chữ là tượng 象, lối phát-âm hơi giống âm tiếng « tường 祥 » là " tốt lành, phước ".
Cái sanh 笙, loại kèn xưa có 13 hoặc 16 ống, chỉ sự " sanh-sản " vì đồng-âm với tiếng « sanh 生 » là " sanh-sản ", mà cũng chỉ sự " thăng lên " vì tiếng « thăng 升, 昇, 陞 » giọng Tàu phát - âm là " seng ".
đĩnh 錠 lại đồng - âm với tiếng định 定, bởi giọng Trung - Hoa đều phát-âm hai tiếng ấy là « tinh », nên dùng « một đĩnh vàng » đề chỉ ý « nhất định » 定.
Cái « bình 瓶 » thì đồng-âm với tiếng bình 平 là " bằng " cũng như cái « yên » ngựa (cũng đọc an 鞍) là đồng-âm với tiếng « yên » hoặc « an 安 » là " yên-tịnh ", hai vật ấy họp lại ngụ-ý sẽ được " bình-yên 平安 ".
Con mèo tượng-trưng sự sống lâu, bởi con mèo, chữ Hán là miêu 貓, giọng Tàu phát-âm là « máo », hơi giống âm tiếng « mạo 耄 » là " ông già chín mươi tuổi ".
(Xem tiếp trang 44)
TỰ DO XUÂN KỶ HỢI 1959
(Tiếp theo trang 22)
Sự sống lâu cũng tượng-trưng bằng hình con bướm, bướm tiếng Hán là hồ-điệp 蝴蝶 mà chữ « điệp » giọng Tàu phát-âm gần giống với tiếng « điệt 耋 » là « ông già tám mươi tuổi ».
Nhơn tiện, xin nói sơ lối phát-âm của tiếng « quốc-ngữ Tàu » đề hiểu sự « đồng-âm » chơi chữ của họ. Nhưng tiếng nhập thình của Hán-Việt là những tiếng cuối vần có c, ch, p, t thì họ phát-âm bằng một nguyên-âm gần mạnh. Như hai chữ « điệp » và « điệt » nói trên, họ đều phát-âm là tie. Vì vậy mà ta thấy cây kích « kích 戟 » dùng tượng-trưng cho sự « kiết 吉 » và « bậc, nấc, cấp 級 » bởi ba chữ kích, kiết, cấp họ đều phát-âm là « kie ».
Con dơi, chỉ sự « phước » vì con dơi tên là « phúc hoặc bức 蝠 », đồng-âm với tiếng « phúc 福 ». Hai tiếng nầy giọng quốc-ngữ Tàu đều phát-âm là « Fu », vì vậy con dơi cũng tượng-trưng cho sự « giàu có », bởi Fu đồng âm với tiếng « phú 富 » là giàu có. Và cũng vì vậy mà trái « phật thủ 佛手 » cũng tượng-trưng sự « giàu có », bởi tiếng « Phật 佛 », giọng quốc-ngữ Tàu phát-âm Fu, gần giống với tiếng « phú 富 » là « giàu ».
Sự giàu có cũng tượng-trưng bằng con cá, tiếng Hán là ngư 魚, giọng Trung-Hoa phát-âm là yu, đồng âm với tiếng dư 餘 là « dư-dả » ; hữu-dư 有餘 là « có dư », là « giàu có dư ăn dư đề ».
Con Nai, tiếng Hán là « lộc 鹿 » đồng âm với tiếng « lộc 祿 » là « phước, bổng-lộc », nên dùng biểu-hiệu cho sự « phước » và sự « làm quan hưởng bổng-lộc của triều-đình ».
Cái vòng ngọc-thạch, tiếng Hán là « khánh 磬 », đồng âm với tiếng « khánh 慶 » là « chúc thọ, mừng, phúc lành... »
Hai đồng tiền chỉ ý được « song tuyền (toàn) 雙全 », chữ tiền 錢, phát-âm gần giống với chữ tuyền là « toàn vẹn ».
Theo lối tượng-trưng giả-tá nầy, ai muốn dùng vật chi tượng - trưng cũng được, nhưng thông-thường là dùng mấy vật kề trên.
-----===<oOo>===-----
Các vật tượng-trưng ấy, họa-sĩ hữu duyên khéo ráp mấy vật đề thành được một câu chúc, rồi vẽ nên những bức tranh đẹp-đẽ, đầy ý-nghĩa.
a) Chúc phước là cầu chúc được hạnh-phước, bình-an, tốt lành, vui mừng như ý và đông con. Vì vậy. vẽ hình con Rồng với con Phụng đề chỉ điềm lành. bởi câu : « Long Phụng trình tường 龍鳳呈祥 ».
Hình con voi, (tượng 象, tường 祥) trên lưng mang giỏ cắm cây kích (kích 戟 : kiết 吉) và cái như-ý, là ngụ-ý câu « kiết tường như-ý 吉祥如意 ».
Hình một vòng ngọc-thạch (khánh 磬 khánh 慶) trên có chạm một cây kích (= kiết) và cây nấm chi 芝 tương-đối nhau (nấm « chi » thường chạm trên cái như-ý) nên hình ấy ngụ ý câu « kiết khánh như-ý 吉慶如意 ».
Hình vẽ cái « bình » và cái yên ngựa (an) và cái như-ý là chúc được « bình-an như-ý 平安如意 ».
Một tranh vẽ hai đứa trẻ mặt mày tươi vui, đứa cầm bồng sen (hà 荷 đồng âm với hòa 和), đứa ôm cái hộp-ấn (hạp 盒 hộp đồng âm với hạp 合, hòa-hiệp) ngụ ý là « hòa-hợp lưỡng thần tiên 和合兩神仙 ».
Con dơi (phúc) ngậm chữ thọ có tụi cột hai đồng tiền (song tuyền) là chúc « phúc thọ song toàn 福壽雙全 ».
Hình cây « bút lông » xuyên qua giữa cái bánh xe lăn là tượng-trưng sự « thành-công như-ý ». Vì cây bút 筆, tiếng Tàu phát-âm là « bắt » đồng âm với tiếng tất 必, mà họ cũng phát-âm là « bắt ». Chính giữa bánh xe là trung, cũng đọc là « trúng ». Hai vật ấy hiệp lại thành câu « tất trúng 必中 » là lời chúc « chắc-chắn phải trúng.
TRANG 5
phải được, phải thành-công ". Ý " nhất-định phải thành-công " còn được trình bày một lối nữa : « đĩnh vàng (nhất đĩnh = nhất định — 定) vẽ kề bên cái « như-ý », ráp lại thành câu « nhất-định như-ý 一定如意 » là « quả-quyết phải được như ý muốn ».
Phúc 福, theo người Trung-Hoa có năm : sống lâu, giàu có, bình-yên, chuộng đức hạnh, và chết sau khi đã làm tròn phận-sự. Vì vậy, chúc được « ngũ phúc 五福 », người ta vẽ năm con dơi bay. Theo ông Edouard Chavannes, có một dĩa sứ vẽ hai đứa nhỏ đứng kề bên cái lu, một đứa cầm một con dơi, một đứa khác khum xuống bắt một con dơi khác, trên đầu chúng nó, có ba con dơi tủa bay, kề bên, hình ông Chung-Quỳ 鍾馗 râu quai chảo đứng xem oai-nghi, ông là vị thần có tiếng trừ quỷ ma. Tranh ấy ngụ ý « ngũ phúc » đã nắm được hai, và « ngũ phúc » có thần linh bảo-vệ.
Có phước được sự vui mừng, nên ngoài phong bì vẽ cái hộp mở ra có mạng nhện với một con nhện thòng chỉ xuống, bởi câu « khai phong kiến hỉ 開封見喜 (mở thơ thấy sự vui) ý muốn nói khi mở thơ đọc sẽ được tin mừng ».
Được giàu sàng yên lành là có phước ; càng hạnh-phúc khi được có con trai nối dõi, con trai quý được nhiều và được hiền-đạt.
Tranh vẽ đứa nhỏ vui-vẻ cưỡi con lân là chúc được " quý tử ", do bài thơ " Lân chỉ trong Kinh-Thi. Ngón chân kỳ lân " có nghĩa là con cháu vua tức là con quý, hiền-hậu nhân-từ như con kỳ-lân, chun không giẫm cỏ tươi, không giậm trên con vật sống.
Một đứa trẻ cưỡi lân, một tay cầm bông sen một tay cầm cái " sanh " là biều-diễn « liên sanh quý tử 連生貴子 » (sanh được nhiều con quý).
Chúc được trai quý, có nhiều con thảy được hiền-đạt, lấy tích nhà họ Đậu ở Yên-Sơn đời Tống có năm người con trai, biết cách dạy-dỗ nên sau cả thảy đều thi đậu, vinh-vang. Sách Tam-tự-kinh có câu : « Đậu Yên-Sơn, hữu nghĩa phương, giáo ngũ tử, danh câu dương ». Vì vậy mà có bức tranh vẽ năm đứa nhỏ tranh nhau một cái mão có gắn « kim khôi » đề ngụ-ý : « ngũ tử đoạt khôi nguyên 五子奪魁元 » (năm con đều đỗ trạng-nguyên).
Chúc được nhiều con là theo tích « tam đa 三多 » xưa. Vua Nghiêu đi tuần thú trên đất Hoa, quan phong-nhân ở đất Hoa chúc rằng : " Xin chúc thánh-nhân được đa phú, đa thọ, đa nam (giàu to, sống lâu, nhiều con trai). Nhưng vua Nghiêu từ rằng : " đa nam đa ưu, đa thọ đa nhục, đa phú đa oán » (nhiều con nhiều lo, sống lâu nhiều nhục giàu to nhiều oán). Tranh " tam đa đỏ " vẽ ông già trán sói tay chống gậy (thọ), với nhiều trẻ, đứa cầm như-ý, đứa ôm hàm ấn, bốn đứa xúm đọc sách. Có kiều tranh vẽ trái phật thủ (phú), trái đào (thọ), với trái lựu (nhiều con) đề chúc " tam đa " : đa phú, đa thọ, đa nam.
Một lọ sứ phía trước vẽ một người đàn bà đẹp ngồi bên con mèo tam thề (Thọ) có hai con bướm chập-chờn bay (thọ) ; phía sau, một người đàn-bà hai tay bưng trái lựu (đa tử) ; toàn thề ngụ ý chúc được đông con và được sống lâu đến tám chục tuổi (con bướm, điệp 蝶 điệt 耋 ) chín chục tuổi (con mèo, miêu 貓 (máo) : mạo 耄).
b) Chúc « Lộc » : là ước được có lộc, làm quan hưởng « bổng-Lộc ».
Tranh vẽ ông quan mặt đỏ, râu ba chòm đen tốt, mặc áo xanh, tay cầm cái « hốt » là tượng trưng chữ « Lộc 祿 », bởi màu xanh, chữ Hán là « lục 綠 », giọng tương-tự với tiếng lộc, và cầm cái hốt ngụ ý là " làm quan ".
Muốn hưởng lộc triều-đình, phải làm quan, được làm quan phải thi đậu. Chúc thi đậu thì có bức tranh vẽ con cá chép vượt khỏi mặt nước, trước cái cửa thành đề " long môn ", ấy là ngụ ý câu « lý ngư khiêu long môn 鯉魚跳龍門 », cá chép vượt vũ môn tam cấp là ngụ ý qua lọt được ba kỳ thi : thi hương, thi hội, thi đình.
Tranh " nhiều người định bẻ cành cây quế " cũng ngụ ý chúc thi đậu.
TRANG 6
Làm quan, ai cũng muốn được mau " thăng quan, tấn tước ", vì vậy mà vẽ hình một « bông sen » với cái « sanh » đề ngụ ý là được « liên thăng 連升 » là « lên chức liền liền », bởi bông sen tiếng chữ là « liên 蓮 », đồng âm với « liên 連 », là « liền luôn luôn » ; cái « sanh 笙 » thì đồng âm với tiếng « thăng 升 » là « lên » mà giọng Tàu phát-âm là « seng ».
Một tranh khác thì vẽ « một con cò giữa đám sen ». Đám nhiều bông sen ngụ ý sen sanh nhiều là « liên sanh 連生 ». Còn con cò, tiếng Hán là « lộ 鷺 », đồng âm với tiếng « lộ 路 » là « đường đi », « đường làm quan » (hoạn lộ 宦路). Hiệp các ý lại thành câu chúc : nhất lộ liên thăng 一路連升.
Được lên chức hoài, hoặc được « lên ba bực », ấy là sự ước muốn của các quan-lại. Nên bức tranh vẽ hình cái bình có cắm ba cây kích biểu-diễn câu : bình thăng tam cấp 平升三級 (kích với cấp người Tàu đều phát-âm kie)
Làm quan, thuở xưa thì ước lên chức thật cao như thái-sư 太師, thiếu-sư 少師 : thái-sư dạy vua, thiếu-sư dạy thái-tử. Tranh vẽ một con « sư-tử mẹ » (thái-sư) với một con « sư-tử con » (thiếu-sư) đề tượng-trưng ý ấy ; tiếng « sư 師 » là « thầy » đồng âm với tiếng « sư 獅 » con « sư-tử ».
c) Chúc thọ : Những mong được nhiều phước, được giàu, được sang, đông con nhiều cháu hiền đạt với đời, nếu thêm được « thật thọ » nữa thì mới là hoàn toàn như nguyện. Sống lâu, được tám chín mươi tuổi chưa vừa, còn muốn « trường thọ », thọ cho đến chết rồi, tẩm trong cái hòm mà cũng gọi là cái « thọ », thọ như quy hạc « thọ đẳng quy hạc 壽等龜鶴 » hoặc quy hạc tề thọ 龜鶴齊壽 thọ như hạc tùng « tùng hạc trường xuân 松鶴長春 ».
Ngoài những bức tranh vẽ trái đào, con bướm, con mèo, nấm chi, bông thủy-tiên, cây tùng, ông già sói trán, còn có bức vẽ ông già tay chống gậy, tay cầm trái đào, đứng giữa con hạc đậu trên cây tùng đề tượng trưng sự chúc « thọ ».
Bức tranh vẽ ba ông tiên, một ông thật già, trán sói, đứng giữa tượng-trưng chữ « thọ », hai ông trẻ hơn đứng hai bên : một ông mặc áo xanh tay cầm cái hốt (làm quan), tượng-trưng chữ « lộc », và một ông mặc áo đỏ tay cầm cái như-ý tượng-trưng chữ « phúc » vì màu đỏ là màu tốt. Tranh ấy ngụ ý câu « Phúc, Lộc, Thọ, tam-tiên ».
« Phúc, lộc, thọ, toàn 福祿壽全 » còn tượng trưng bằng hình vẽ ông già sói trán tay cầm như-ý, đứng bên con nai với cây tùng, hoặc ông già sói trán tay cầm trái đào, tay cầm cái như-ý có con dơi, cưỡi con « mai lộc ».
« Bát tiên thượng thọ 八仙上壽 » thì vẽ tám ông tiên cưỡi hươu, tay cầm trái đào, đã « bất tử » như tiên mà còn thêm « thượng thọ » (trăm tuổi) thì thật là « trường thọ ».
Những lời cầu chúc đã được như ý, nếu sống trong cảnh thái-bình thạnh-vượng thì thật hoàn-toàn hạnh-phúc. Nên bức tranh vẽ một đứa trẻ, đi rong chơi, tay cầm lồng đèn, trên ấy vẽ cái « bình » cắm ba cây « kích », cột chung với cái « sanh » và « vòng thạch » bằng một sợi dây có kết tụi biểu-diễn câu chúc « khánh lạc thăng bình 慶樂昇平 » (nước được thái-bình, dân an cư lạc nghiệp). Cái vòng thạch, khánh 磬 đồng âm với chữ « khánh 慶 » là « chúc » ; sợi dây cột, tiếng Hán là lạc 絡, đồng âm với tiếng lạc 樂 là « vui mừng », cái sanh 笙 và cái bình 瓶 thì đồng âm với tiếng thăng 昇 và tiếng bình 平 ; thăng bình 昇平 là « thái bình ».
Những lời chúc tụng còn nhiều trong cuộc quan hôn tang tế, câu chúc đều viết đầy đủ trên hoành chấn liễn đối, không như những lối chơi chữ vẽ tranh lược thuật ở trên, thường vẽ vào dịp xuân.
-----===<oOo>===-----
Tóm lại, mấy lời chúc tụng với lối biểu-diễn bằng tranh-ảnh hình vật mỹ-thuật đầy ý-nghĩa chứng tỏ dân-tộc á-đông có một quan niệm thật-tế về nhơn sinh : giàu sang, oai quyền, đông con, sống lâu, được sung-sướng tận hưởng trọn đời mình và còn « lưu danh hậu thế 留名後世 ».
Tuy biết là viển-vông hão-huyền, nhưng ở đời ai cũng mong được sự tốt lành, hạnh phúc, sống vui tươi tràn-trề hy-vọng. Vậy nhơn dịp Tết đến chúng tôi mượn câu « vĩnh khánh thăng bình 永慶昇平 » đề mừng nước nhà được cảnh thái-bình thạnh-trị.
Ngọc-Toàn LÊ NGỌC TRỤ.
TỰ DO XUÂN KỶ HỢI 1959
(có thể download trong Quán Ven Đường < == click để xem hay right click để download )
Góc đố vui và lời giải
From: Khoi Pham <pham.n.khoi@
Sent: Wednesday, January 28, 2026 12:36 CH
Subject: Re: [quanvenduong] Chu Co la gi trong Đai Co Viet, trich bao Xuan xua, trích email bang huu, goc do vui
Thưa anh Đẳng,
Mỗi khi thắc mắc, lúc này tôi thường hỏi AI để tìm câu trả lời. Gemini trả lời như sau:
"Đây là một bài toán đố logic khá thú vị về việc tối ưu hóa tải trọng của thuyền. Với giới hạn 100 cân, chúng ta cần khéo léo sử dụng Xuân và Hạ (mỗi người 50 cân) làm "người lái thuyền".
Để đưa được cả 4 người qua sông, chúng ta cần tổng cộng 9 chuyến (tính cả đi và về).
Chi tiết như sau: (hết trích)"
HCD: Cám ơn anh Khôi, đúng rồi 9 chuyến.
-----------------
From: Bùi Phạm Thành <bpthanh@
Sent: Wednesday, January 28, 2026 12:41 CH
Subject: Re: Chu Co la gi trong Đai Co Viet, trich bao Xuan xua, trích email bang huu, goc do vui
Cảm ơn anh đã chuyển cho đọc, tôi xin giải thử câu đố "Mấy Chuyến" như thế này:
Xuân (50) - Hạ (50) - Thu (100) - Đông (100)
1. Xuân (50) + Hạ (50) cùng chèo thuyền qua sông
2. Hạ (50) chèo thuyền trở về, kết quả:
Bờ bên kia: Xuân (50).
Bờ bên này: Thu (100), Đông (100), Hạ (50).
3. Thu (100) chèo thuyền qua sông
4. Xuân (50) chèo thuyền trở về, kết quả:
Bờ bên kia: Thu (100).
Bờ bên này: Đông (100), Xuân (50), Hạ (50).
5. Xuân (50) + Hạ (50) cùng chèo thuyền qua sông
6. Hạ (50) chèo thuyền trở về, kết quả:
Bờ bên kia: Xuân (50), Thu (100).
Bờ bên này: Đông (100), Hạ (50).
7. Đông (100) chèo thuyền qua sông
8. Xuân (50) chèo thuyền trở về, kết quả:
Bờ bên kia: Thu (100), Đông (100).
Bờ bên này: Xuân (50), Hạ (50).
9. Xuân (50) + Hạ (50) cùng chèo thuyền qua sông, kết quả:
Cả bốn mùa đều đã qua sông.
Có nhiều chuyến quá không anh?
Tôi nhớ, dường như, có câu đố mà trong đó có ông lái đò chở bốn con vật qua sông. Mỗi lần chỉ chở được 2 con. Trong số 4 con vật thì có hai con có thể làm hại con khác nếu ở gần nhau. Đại khái là như vậy, nhưng không nhớ rõ ràng như thế nào?
Chúc anh an lành.
Bùi Phạm Thành (K25)
HCD: Cám ơn anh Thành
----------
From: Tho Nhan <nhandtho@
Sent: Wednesday, January 28, 2026 2:45 CH
Subject: Câu đố vui 1941
1- Xuân Hạ qua sông
2- Hạ trở về
3- Thu qua sông
4- Xuân trở về
5- Xuân Hạ lại qua sông
6- Hạ trở về
7- Đông qua sông
8- Xuân trở về
9- Xuân Hạ cùng qua sông chuyến cuối.
Cần tất cả 9 chuyến đò để đưa hết 4 người qua sông
Sent from my iPhone
HCD: Cám ơn anh Thọ
.........-----===<oOo>===-----
HCD: Thưa các bạn đây là câu đố cổ điển và có cái bẩy trong đó, các bạn thấy hình như phải tính toán quá khó nên chịu thua. Thật ra có tính toán chi đâu. Nhìn qua thấy ngay lời giải mà.
Cái bẩy là hỏi khơi khơi “khoảng hở giữ sợi dây và mặt đất” mà không xác định điều kiện rõ ràng. Các bạn có thể trả lời theo điều kiện của chính mình đặt ra.
Chắc câu nầy quá dễ các bạn không muốn giải
--
Để gửi thư, quý bạn dùng địa chỉ email:
ban-van-tho-chinhtri@googlegroups.com
---
You received this message because you are subscribed to the Google Groups "Ban Van Tho Chinh Tri" group.
To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to ban-van-tho-chinhtri+unsubscribe@googlegroups.com.
To view this discussion visit https://groups.google.com/d/msgid/ban-van-tho-chinhtri/016a01dc913d%241e2f6f50%245a8e4df0%24%40gmail.com.
7 attachmentsDownload all
Nhung loi chuc tung (Le Ngoc Tru) goc do vui va loi giai.doc
DOC · 1.9 MB
image005.png
PNG · 208.3 KB
image007.jpg
JPG · 268.8 KB
image008.jpg
JPG · 293.4 KB
image009.jpg
JPG · 63.8 KB
image010.jpg
JPG · 18.4 KB
image011.jpg
JPG · 60.4 KB
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét