Cuối năm 1981 tôi được chuyển đến phân trại A sau khi trại cải tạo Nam Hà giải tán phân trại C, còn gọi là trại Mễ, cách đó chừng 5 km. Phân trại C ở giữa đồng trống cạnh xóm nhà dân nên trại chỉ có hàng rào dây kẽm gai vây quanh, không có tường, chì có 3 dãy nhà tranh vách tre nứa, nền đất cát, trong mỗi buồng giam có hai dãy sạp tre hai tầng ọp ẹp, giam chừng 300 người hỗn hợp gồm quân đội, cảnh sát và dân chính có cấp bậc từ thiếu tá trở xuống cùng với các viên chức chính quyền từ phó quận đến giám đốc trong chế độ cũ.
<!>
Khác với phân trại C, phân trại A nằm trên đồi cao có tường đá dày bao quanh khu vực trại gồm 10 dãy nhà giam xây bằng gạch vữa, trong mỗi nhà có 2 dãy sạp gỗ hai tầng nằm ở hai bên sát tường có lối đi chính giữa chứa chừng non 80 người, phân thành 2 đội lao động. Dãy nhà đầu tiên gần sát cổng, giam giữ gần 40 viên đại tá quân đội Việt Nam Cộng Hòa và ở phía trong cùng, sát vách núi, giam giữ riêng 10 vị tướng cùng với các linh mục tuyên úy công giáo.
Sau vài ngày ổn định tổ đội, sắp xếp nhà giam theo qui định, cán bộ quản giáo ấn định giờ giấc đi lấy nước ở nhà giam bên cạnh vì cứ hai hoặc ba nhà mới có một giếng nước đào, nước trong veo nhìn thấu đáy đóng cặn vôi sống màu trắng toát, đứng bên thành giếng còn thấy sủi bọt.
Điều cấm kỵ là không được đi lại linh tinh hay quan hệ trao đổi bất cứ việc gì với các nhà giam khác khi không có lệnh của cán bộ, nhất là khu vực có dãy nhà, giam giữ các vị đại tá. Nói chung, cũng gần giống như nội qui của các trại cải tạo khác trên miền Bắc.
Ngày đầu tiên xuất trại đi lao động, chúng tôi choáng ngợp bởi quang cảnh bao la quanh khu canh tác nông nghiệp, bốn bề nước trắng xóa, nổi lên những hòn đảo đá vôi lớn nhỏ phủ cây xanh rì. Đất đai để canh tác là các bãi đất nằm kề bên chân núi, sát mặt nước, lâu ngày do cỏ dại trôi giạt quyện thành những tấm thảm xanh nổi lềnh bềnh bám vào nhau, lan xa trên một vùng nước đục xám mầu đá vôi pha lẫn với bùn. Xa xa về hướng nam là thị trấn Ba Sao lẩn khuất trong chòm cây xanh nằm trên con đường đá quanh co đi Chi Nê hoặc rẽ lên trại cải tạo, thay vì Nam Hà, dân chúng gọi là trại Ba Sao.
Con đường nầy chạy từ Phủ Lý đến trại Nam Hà là con đường mà anh em tù cải tạo tổ đội lò vôi của trại ở ngã ba gọi là “con đường thiếu phụ” đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu lần, có lẽ đến hàng vạn lần vợ của các người tù từ nam ra bắc qua đây, thuê xe trâu chở quà thăm nuôi chồng, gian truân đằng đẵng nhiều năm trời với niềm hy vọng là chồng mình sẽ được thả cho về.
Nhưng rồi đau thương có thể xảy ra cho bất kỳ ai khi có người nào đó báo tin rằng chồng chị đã vĩnh viễn nằm lại ở đồi đá Ba Sao. Không còn ”cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc” mà trái lại là lòng đau xót khôn nguôi khi nhớ đến những ngày mưa gió dập vùi trên con đường thiếu phụ năm xưa ở Nam Hà. Tôi đi thăm nuôi chồng.
Còn sinh hoạt ở trại, sau một ngày lao động vất vả, khi trở về trại sắp hàng chờ qua cổng, tôi hết sức xúc động khi nhìn đoàn tù nhân gồm các viên chức cao cấp của chính quyền Sài Gòn, nhất là tổ đội của các vị đại tá, thân hình gầy còm, mặc quần áo tù rách bươm, đầu đội mũ nan, chân mang dép đủ loại, giắt bên mình các lon bình đựng nước uống đi thất thễu. Thật không còn lời nào để diễn tả sự đau xót tận cùng. Xưa oai phong lẫm liệt như thế, mà giờ sao thảm thương quá như vậy. Anh hùng khi lỡ vận cũng đành.
Cho dù có bị đày đọa, hành hạ đến đâu cũng còn có thể cam chịu được, nhưng đau khổ nhất, có thể chết được khi nghĩ đến là thời gian ở tù, không biết chừng nào mới được thả ra. Những hình ảnh người tù chết trong các trại cải tạo trước đây luôn ám ảnh người tù khi đêm về. Có biết bao nhiêu điều đã đọc được trên sách vỡ báo chí về các trại cải tạo ở các nước cộng sản như Liên Xô hay Trung quốc, giờ mới thấy thấm thía,
Tích xưa Tô Vũ bị lưu đày chăn dê suốt 18 năm trời biệt xứ rồi cũng có ngày về, còn phận mình giờ ra sao đây?
Lúc bấy giờ, sau khi có chính sách thăm nuôi người tù ở miền Bắc, các gia đình thân nhân từ miền Nam đã ồ ạt mang quà ra thăm nuôi các người tù cải tạo thuộc chế độ cũ, từ đó họ mới được hồi sinh sau hơn 5 năm trời đói rét triền miên trong các trại cải tạo. Nhưng đó chỉ là một phần mà chính yếu hơn cả là tù nhân biết được tin nhà qua người thân vì họ đã không biết tin tức gì trong ngần ấy năm bặt tin, nhưng tất cả cũng chỉ là những tin buồn chết lặng người.
Mặc dù là như vậy, nhưng cũng còn hy vọng vì theo tin đồn qua thân nhân thăm nuôi là nhiều tổ chức nhân đạo ở các nước phương tây đang lên tiếng mạnh mẽ và yêu cầu chính quyền cộng sản xét lại chính sách giam giữ tù cải tạo thuộc chế độ cũ, cho nên thật sự họ cũng có cải thiện tình trạng sinh hoạt trong các trại cải tạo, nhất là chế độ thăm nuôi tương đối dễ dàng hơn trước.
Hơn nữa, theo tin tức đáng tin cậy từ thân nhân có cán bộ cao cấp ở Bộ Nội Vụ rò rỉ là cộng sản đang duyệt xét thi hành một chế độ gối đầu, có nghĩa là lần lượt các tù nhân cải tạo ở miền Bắc sẽ được chuyển về lại trong Nam để trám vào số tù nhân sẽ được thả ra từng đợt rất đông, nhất là ở trại Hàm Tân.
Đúng lúc nầy, tôi được chuyển đến phân trại A với hy vọng sẽ được xuôi Nam trong đợt tới. Chỉ nghĩ tới thôi mà lòng tràn ngập niềm vui sẽ được ra tù, có thể chỉ còn một hoặc hai năm nữa thôi.
Về phân trại A đươc chừng hơn tháng là tới đợt thăm nuôi tết do trại tổ chức dồn dập, có nghĩa là không giới hạn thời gian thăm nuôi, trước đây là 3 tháng, giờ chỉ còn hàng tháng, miễn là gia đình có khả năng.
Ngoài số lượng hàng hóa thăm nuôi dồi dào, tù nhân còn được phép sử dụng tiền mặt của mình được gia đình đăng ký khi thăm nuôi để gởi cán bộ ra ngoài Phủ Lý hay Ba Sao mua thêm thức ăn tươi. Thêm vào đó, một số tù nhân tự giác được cán bộ tin cậy cũng dựa theo đó mà lén lút cung cấp các mặt hàng đặc biệt như giò chả, thịt đông, trà bánh,… Cho nên năm ấy, tết ở trại cải tạo Nam Hà có đầy đủ thực phẩm cho tù nhân ăn tết.
Nhưng quan trọng hơn hết là lần đầu tiên, cán bộ thông báo sẽ nghỉ, không lao động trong một tuần lễ và các nhà giam sẽ mở cửa thông thương ban ngày để tù nhân toàn trại có thể đi lại thăm viếng nhau trong 3 ngày tết.
Từ sự cho phép đó, từng tốp các nhóm thân nhau tụ tập ở các góc sân trong trại, đàn hát, kể chuyện, trà lá với nhau, đặc biệt ở nhà giam số 4 còn có tổ chức một buổi nói chuyện về “cổ nhạc Nam phần” do thầy Lai phụ trách để cho anh em trong trại đến nghe vui chơi, có ca vọng cổ và các bài bản ngắn.
Nội dung bài nói chuyện của thầy Lai là nhắc lại sự ra đời của bộ môn nghệ thuật cải lương miền Nam từ buổi ban sơ như đờn ca tài tử đến carabo (ca ra bộ) hay bài ca “Dạ cổ hoài lang” (vọng cổ) của ông Cao Văn Lầu. Điểm đặc biệt là với trí nhớ tuyệt vời cùng với sự theo dõi và mến mộ sân khấu cải lương hết mực, thầy Lai đã làm cho mọi người vô cùng thích thú khi kể về những giai thoại của các nghệ sĩ cải lương như Phùng Há, George Phước, về người đã sáng lập rạp hát cải lương thầy Năm Tú.
Ngoài ra, thầy Lai còn nhắc đến gia đình nhà sách Lê Tạc ở Mỹ Tho có các con là những nghệ sĩ cải lương tiền phong, nổi tiếng trên sân khấu theo thứ tự tên đặt trong gia đình như Phỉ Chí Nam Nhi (các nghệ sĩ Năm Phỉ, Bảy Nam, mẹ của nghệ sĩ Kim Cương và Tám Nhi.)
Trước đó trong đêm Giao Thừa, chúng tôi có bàn với anh Nhà trưởng đã cùng ở chung với nhau hồi ở trại C, thỉnh thoảng cuối tuần anh em cũng có tụ nhau ca hát, thường là các bài ca vọng cổ có nội dung lành mạnh như: sầu vương biên ải, tình anh bán chiếu, gánh nước đêm trăng hay tuyệt tình ca, ông cò quận 9, không có hát tân nhạc nên anh nhà trưởng đồng ý, miễn không ồn ào lắm là được.
Lúc còn ở trại C, chúng tôi có tham gia trà lá với nhóm ca vọng cổ nên quen biết một số anh có giọng ca tài tử rất hay nên chúng tôi đã mời họ tham gia vào buổi nói chuyện của thầy Lai trong ngày mùng Ba tết năm ấy. Các anh em đều đồng ý và rất nhiệt tình tham gia như anh Tịch, anh Sơn cùng hai anh nữa thay phiên nhau ca và anh Chí Tân đệm đàn ghi ta cổ nhạc (phím lõm).
Xen kẽ trong buổi nói chuyện của thầy Lai còn có phần kể lan man về những chuyện vui bếp núc ở Phủ tổng thống do sĩ quan ẩm thực trước đây là anh Quốc kể lại rất hấp dẫn, như tổng thống ăn uống lúc mấy giờ và thực phẩm được kiểm soát ra sao, tổng thống thích ăn món gì vào bữa điểm tâm và thường ăn với ai.
Hôm ắy, có rất đông người đến dự, chật hết cả nhà giam từ trong ra ngoài kín hết sân trước. Mọi người đều rất cảm động, ngày tết trên đất Bắc mà nghe đờn ca cổ nhạc Nam phần thì nhớ quê nhà biết chừng nào! Cho nên ai ai cũng hy vọng là sẽ được chuyển về các trại cải tạo ở miền Nam và mong sẽ được ra tù sớm.
Nhớ năm xưa, khi mới nhập trại Long Thành với niềm tin thật và hy vọng là sau một tháng học tập cải tạo sẽ được trở về, nhưng một số người hiểu biết chuyện tù cải tạo cộng sản mà vì cùng đường phải vào đây, cho nên khi cán bộ cho ghi mã số địa chỉ để gởi thơ về cho gia đình là 15NV, họ đã truyền tai cho mọi người đọc chiết tự thành “mười năm anh về.”
Nhưng dù có một năm hay mười năm, dù có lừa gạt hay cố tình trù dập kẻ thù tàn nhẫn đến đâu, rồi cũng đến lúc mọi người đều nhận ra chánh sách cải tạo đối với các viên chức và quân nhân thuộc chế độ Sài Gòn là một sự trả thù độc ác không theo như truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam.
Nhớ khi xưa thời phong kiến nhà Lê, sau khi đánh thắng quân Nguyên Mông hung bạo, chúng ta còn đối xử tử tế với họ và cấp lương thực cho họ về nước.
Nay giang san đã thu về một mối, sao không thu phục lòng dân cùng là người Việt với nhau ở bên kia chiến tuyến, mà lại thi hành một chính sách cải tạo hà khắc, đem tù hàng binh ra tận ngoài vùng thượng du, rừng thiêng nước độc ở miền Bắc như Sơn La, Yên Bái, Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, bắt họ lao động khổ sai, chịu đói rét cho đến khi toàn thế giới gióng lên tiếng nói lương tâm thì mới chịu buông ra. Đây thật là một vết nhơ trong lịch sử dân tộc.
Thật ra, đến lúc nầy sau hơn năm năm cải tạo trên đất Bắc thì mọi người đều đã rõ, ngay cả cán bộ trại giam cũng biết là không còn có chủ trương khoan hồng hay cải tạo tiến bộ để được tha về sớm, cho nên sinh hoạt trong trại cũng tương đối thoải mái hơn trước mà điểm nổi bật nhất là sinh hoạt Tết Nguyên Đán năm 1982.
Tết năm ấy ngập tràn niềm hy vọng, nhất là khi nhận được tin chính xác đã có chương trình nhân đạo mà một số tù nhân rời trại đã được gia đình thân nhân hay vợ con bảo lãnh ra đi nước ngoài đoàn tụ với gia đình. Thêm vào đó, một tù nhân có thân nhân là cán bộ cao cấp ở Hà Nội đến thăm và đã cho anh biết là tất cả các anh em sẽ được chuyển về Nam sớm và sẽ ra trại trong một thời gian ngắn sắp tới.
Đây là cái tết cuối cùng trên đất Bắc vì sau đó tôi được chuyển về Nam, rồi ra trại, rồi đi Mỹ định cư, trải qua biết bao thăng trầm trong cuộc sống, mặc dù có những đổi thay rất lớn, nhưng tôi vẫn nhớ hoài tết năm ấy với niềm mơ ước thật giản dị là được trở về đời thường làm phó thường dân Nam bộ. Chỉ có vậy thôi.
Nay 44 năm đã trôi qua, những kỷ niệm xưa ngày tết năm ấy của mấy anh em tổ chức buổi nói chuyện về cổ nhạc Nam phần giờ đã xa xôi lắm, anh Quốc đã mất, thầy Lai, anh Tịch, anh Chí Tân cùng với hết thảy khán thính giả, những người tù cải tạo ở Nam Hà, giờ đã tản lạc khắp phương nào, còn sống hay đã mất cũng không biết tin.
Trời đất mênh mông, thiên địa càn khôn chỉ cầu mong sao cho mọi người được bình an. Nhớ lắm thay.
Trần Bạch Thu
(Trọng Đông 2025)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét