Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2026

Hiểu biết thêm với GS Huỳnh Chiếu Đẳng


Kính thưa quí bạn
Hôm nay xin gởi các bạn chuyện ngày Xuân
1. Bài viết tựa “Câu Đối” của Lê Ta, trích bảo xuân năm 1942
2. Bài Đức Tính Cần-Lao Và Sự Tôn Trọng Nghề Nông Qua Ca-Dao Việt-Nam Của Ngọc-Hoài-Phương, trích Thoi Luan Xuan Binh Ngo 1966
3. Góc đố vui và lời giải
HCD 13-Feb-2026
Nếu các bạn không thấy hình chỉ thấy cái khung trống không hình, thì nên dọc Microsoft Word attached.
Chữ nhỏ khó đọc các bạn giữ key Ctrl cùng lúc lăn bánh xe trên mouse để zoom cho chữ và hình to ra.
<!>

Trích báo Ngay Nay 149_149XUAN (1942) có thể download từ Quán Ven Đường Sách Báo Tạp Chí Xưa 1
Dưới đây là bản chuyển ngữ (OCR) từ hai trang báo "Ngày Nay" (số 149) về mục Câu đối Lê Ta. Tôi đã cố gắng giữ đúng nguyên văn, các từ cổ, cách ngắt dòng và cả những lỗi chính tả hoặc cách viết đặc trưng thời bấy giờ (như "giòng", "giấy má", "lẫn thay đổi"...).
CÂU ĐỐI
LÊ TA
Hai câu đối chữ nho ở trang này, là hai câu trứ danh của Yên Đổ làm giúp một nhà hàng thịt lợn. Gần tết, hàng thịt đem biếu nhà văn một bát tiết canh, một đôi bầu dục và xin cụ đôi câu đối về dán tết. Cụ ứng khẩu đọc.
Tứ thời bát tiết canh chung thủy,
Ngạn liễu đôi bồ dục diễm trang.
Nghĩa là :
Bốn mùa tám tiết lần thay đổi,
Liễu dặm cây bờ muốn diễm trang.
Trong chữ nho len được bát tiết canh với đôi bồ dục vào mà vẫn giữ được nghĩa hay : tài tình ở đó.
Nhờ có một lúc túng bấn năm xưa, Lê Ta tìm được một kho tàng sung sướng. Cái khổ cũng có khi được việc, đúng như lời ngạn ngữ tây. Năm xưa, ít tiền tiêu tết, Lê Ta than thở bằng một vế câu đối tuyệt tác toàn tiếng túng tiền. Các bạn hữu xa gần liền gửi về, — không phải là tiền — nhưng rất nhiều lời an ủi. Đó là những vế câu đối tài đình tưởng cũng nên nhắc lại đây : câu chuyện ý vị nói lại một đôi lần cũng chưa đến nỗi nhạt. Lê Ta thở dài buồn bã : Tết tiếc túng tiền tiêu, tính toán loan tìm tay tử tế. Các bạn vội hoặc sì sào, hoặc ờm ờ, hoặc đủng đỉnh, hoặc hóm hỉnh hoặc mỉa mai dỗ dành. Một bạn đã khiến cho cái đầu chán ngán của Lê Ta gật gù vì một câu khéo môi mép : Mới me mừng mợ mạnh, mĩ miều mà mở mắt món mị.
LỢI DỤNG lòng tốt của mọi người, Lê Ta năm nay lại ra câu đối nữa để làm phiền các bạn. Người ta kêu ca vì câu đối khó, nhưng người ta cứ đối, ai nấy đều cau mày chép miệng nhưng rồi ai cũng rộng lượng, và chiều lòng người bạn hay vòi.
Câu ra là một câu đùa cợt bâng quơ, trong đó mấy con vật không yêu gì nhau, đứng nhìn các bạn bằng con mắt ngạo nghễ.
Tết năm mèo, ông lão dê mua hoa mồm chó gói giấy mỡ gà đem tặng cho mèo mà không biết hổ.
Những con vật ngạo nghễ, vì ngoài cái tên chính mà chúng nó đội, phần nhiều chúng còn mang một nghĩa thứ hai. Các bạn đã nhận thấy rồi, hổ còn là thẹn, dê là một tính không đạo đức lắm, và mèo đây còn là một vật biết nói, biết nũng nịu đòi ta sắm cho mấy cái nhẫn kim cương.
Vậy trừ những tiếng tỉ dụ hoa mồm chó, giấy mỡ gà có thể gọi là chỉ có nghĩa đen, còn những tiếng hổ, mèo, dê hẳn đã làm nhiều bạn « cùn râu » để tìm tiếng chọi.
Cùn râu ? Đó là lời của ông Tản Đà cốc tử dùng rất khéo để ví cái khó nhọc của người làm văn Nhưng chỉ đúng với nhà văn đàn ông. Đối với đàn bà thì đề tôi phải tìm lối ví von khác.
Đàn bà — giòng dõi của nữ sĩ Thị-Điềm, tác giả cái vế « da trắng vỗ bì bạch » trứ danh — có lẽ là người ưa đối đáp nhất. Chứng cớ có rất nhiều trong tập giấy má của tôi. Ngay từ lúc đầu cuộc chơi văn này đã có hai cô Ngọc Hồ và Bảo Vân mau mắn gửi bài đến nhà báo trước nhất Cô Ngọc Hồ lấy bát quái để cự với lục súc trong câu đối của Lê Ta :
Xuân giờ tốn, bác nhiêu cấn đi tới phương đoài, xoay vài khay khảm, để cầm tiêu tốn, vẫn tưởng rằng khôn.
Câu đối có ý thông minh, nhưng không được chữ nghĩa lắm. Giá ông Tản-Đà bình phẩm thì ông nói trắng ngay là không được sướng (Tình cờ mà dịch đúng tiếng heureux của Tây).
Bạn cô Ngọc Hồ, cô Bảo Vân, đối lại một cách dễ dàng hơn và cũng quá dễ dãi nữa 
Xuân giờ chuột, thằng cha khỉ, làm bánh đầu rồng, dồi nhân thịt lợn, cốt để rử chuột, đương rống như trâu.
Cái thủ trong câu đối là cái khó. Cô Bảo Vân chả chịu khó tí nào.
(Xem tiếp trang sau)


(Tiếp theo trang 15)
Thực là một sự không ngờ. Đáng lẽ lấy vật để đánh nhau với vật thì dễ thắng mới phải, ở đây lại khác, không mấy bạn có những câu tài tình trội hơn cô Bảo Vân. Trong ngót năm mươi câu về loại này, (dùng tên vật để đố) Lê Ta chỉ chú ý đến hai câu. Câu trên Lê Ta vừa gật đầu vừa thở dài :
Cậu Ba Ếch, rất láu cá, làm bài đít-cua, như tớp như tép, chúc ông Hến, ăn nói nhanh trai.
Câu dưới, của một bạn ký là Tú-Dua, có một vẻ chình chện hơn thế :
Dân làng bảo, nhà văn khi thích mũ cánh chuồn, thèm phần thủ lợn, thế mà viết báo vẫn cứ tàn hươu.
Rằng hay thì thực chưa được hay lắm. Nhưng Lê Ta cũng đành một cái khuyên để ngợi khen.
Lấy can chi để đối là việc dễ làm trong cuộc « giải trí » này. Rất nhiều bạn có ý tình, nhưng phần nhiều chỉ đại khái làm được như câu sau, của một ông Hàn, ông Hàn Vi (tên hiệu đặt khéo đấy)
Xuân kỷ mão, cháu có Hợi, bán mớ rau mùi, mua nảy buộc dậu trốn sang bác Mão, để khỏi bận thân.
Ông Hàn Vi khi dùng màu để đối, xem chừng sung túc hơn :
Giời sáng bạch, bà sư tử, hách tựa bà hoàng, la rằm con Bích, múc thau đồng bạch, tiếng gọi thất thanh.
Ông Hàn lại thử dùng mấy mầu tên của nhân viên Ngày Nay (Thạch Lam, Thế Lữ, Xuân Diệu, Khái Hưng, Hoàng Đạo) coi cũng ngộ nghĩnh :
Lòng cầm thạch, thấy trần thế rộn rã vì xuân, cũng thành cảm khái, cảnh đời ngọc thạch rực rỡ huy hoàng.
Ông René Nhuận lấy thập nhị chi làm khí giới :
Xuân năm tỉ, cô bé tị tẩm nước lá mùi ở bên bờ dậu mới được một tí phải cảm nên thân. (Đổi một hai chữ đi câu đối của ông có nghĩa hơn lên một chút).
Ông Ngô Từ có hai câu, một câu sai luật tuy cũng đáng chú ý :
Xuân bên ý chú lính Tàu (chỗ này tiếng trắc mới phải) bán khóm liễu bồ, trong ngày chủ nhật, không người để ý, còn cứ chán ai.
Một câu nữa của ông, có ý hay, nhưng gượng ép nhiều tiếng :
Xuân độ trước, bà lý nọ, đọc báo Ngày Nay, thấy số pha kia (Fakir) toan về bắt chước, lại sợ mỉa mai.
Dùng các màu, ông Lê tư lành vẽ được cái chuyện ngũ sắc sau này :
Xuân còn xanh, thiếu nữ trắng, thoa phấn màu hồng, tô môi thắm đỏ, đi trong bóng tối, trông thật là đen.
Cùng dùng các màu, ông... Lý-toe-Toét (?) tuy mắt kèm nhèm nhưng trông còn tinh hơn tường ông Lê. Câu của ông Lý-toe-Toét :
Xuân đêm trắng, tay con bạc, vì số ba đào, gặp hồi vận đỏ cũng đành thua trắng, rõ thực là đen.
Hai giọng điệu gần giống nhau, nhưng giọng điệu trên vấp váp dữ quá.
Ông Chu-Loan thích các thứ quả :
Hội đền Quýt, con trai Bưởi đi hát ả đào, gặp ngay mẹ mướp bị phen cuống quýt, song cũng đành cam ?
Giá ông Chu-Loan cho biết đền Quýt ấy ở đâu thì cậu con trai Bưởi dị kỳ kia mới đỡ ân hận. Ông Chu-Loan lại còn hai câu nữa đáng chú ý : câu thứ nhất (vải vóc) gò gẫm hơi khó nhọc :
Đến tuần lĩnh(?) anh sức vóc, mừng được đồng lương, chẳng đợi lần lượt, xông vào dốt lĩnh, liền bị trói gọ.
Câu sau (dùng thập can) vừa tài tình vừa... vong mạng :
Trần văn Giáp, thằng vị kỷ, tuy hạng cùng đinh, tưởng mình là quý nhất trong làng Giáp, không chịu đi canh.
Đọc nhanh, câu ngộ nghĩnh này có vẻ một câu trong đơn kiện của một ông Lý Toét.
Của cô N. T. Bản một câu dùng tiếng chim :
Chợ phiên Khách (chợ phiên giúp dân Tàu), chị hàng sáo ban thúng gạo di, đội khăn mỏ quạ, khéo mời mọc khách, xem chừng có công.
Dùng tiếng ong ve, ông Ba Tiêu cũng có một câu ý vị :
Ngày hội Dễ, thằng cha nhặng, thấy ả lưng ong, thả lời bay bướm, đội khăn tầy dể nhưng chẳng ai ve.
Cả một tập dày của các bạn gửi về mà chỉ chọn được có những câu ít ỏi đó !
Đó là vì cái câu ra khó khăn kia. Khó đến nỗi có nhiều bạn, sau khi đã vò đầu bứt tóc một cách rất cẩn thận, đã phải quăng bút thở dài. Rồi khi cầm bút lên là chỉ cốt để trách Lê Ta : « Ông Lê Ta ơi, ông ra đối oái oăm quá ! »
Có bạn bí quá tức mình gửi về cho Lê Ta những câu đối rất bướng, những câu đối « bĩnh » hết sức, thí dụ câu này :
Tết năm mèo, ông lão chuột, mua đối mồm khỉ, gói vào giấy báo, đem tặng cho mèo, mà không biết sấu.
Ông bạn này ký tên là ông Ba Mươi ở Hà-đông Hùm Hà-đông hẳn gặp sư tử Hà-đông, và hẳn câu đối này làm giữa lúc sư tử rống.
Một bạn khác tông Tân Lang cũng tức mình. Nhưng tức một cách ý vị. Ông gửi khoe Lê Ta một câu đối do ông chế tạo cả hai vế. Ông lấy tên các con vật đề cho chọi nhau rất ngộ nghĩnh và có một giá trị khỏi bài riêng :
Tết nhả con tườu ! nợ chó gì, tối ba mươi đã cáo cùng, còn dê diễu mãi.
Xuân tháp bất mãn ! mề gà đâu trình sư tử, danh hổ người nhưng cóc cần chi.
Ở cái thời văn biền ngẫu kém cỏi này, câu đối của ông Tân Lang có thể coi là một câu tuyệt tác.
lê ta (Chữ ký tay)
-----===<oOo>===-----


Trích báo Thoi Luan Xuan Binh Ngo 1966 có thể download từ Quán Ven Đường Sách Báo Tạp Chí Xưa 1
Dưới đây là bản “chuyển tự” (OCR) toàn bộ nội dung bài báo. Tôi đã giữ nguyên các đặc điểm từ ngữ, cách đặt dấu gạch nối, các lỗi in ấn (như lỗi lặp từ, lỗi sắp chữ) và phong cách trình bày theo cột của báo chí miền Nam giai đoạn 1966.
ĐỨC TÍNH CẦN-LAO VÀ SỰ TÔN TRỌNG NGHỀ NÔNG
QUA CA-DAO VIỆT-NAM
của NGỌC-HOÀI-PHƯƠNG
TRONG thời gian mấy năm gần đây, qua sách báo hàng ngày, chúng ta quanh đi quẩn lại vẫn chỉ được đọc những tin tức về chiến sự chính trị, khoa học v...v... Cũng những truyện đánh chưởng kinh người, những bài phóng sự tếu... Người ta đã vô tình bỏ quên hoặc rất ít khi nhắc đến “Cái kho tàng vô giá trong nền văn chương bình dân” của dân tộc ta. Hôm nay, nhân dịp Xuân về, chúng ta cùng ngồi khơi lại một vài hình ảnh, khía cạnh của cái kho tàng ấy.
Trong nền văn chương bình dân của dân tộc ta, ca dao chiếm một địa vị quan trọng. Ca dao theo định nghĩa của nó là những bài hát ngắn không có chương khúc, được lưu truyền trong nhân gian từ thế hệ này đến thế hệ khác, từ đời nọ sang đời kia bằng sự truyền khẩu. Ca dao cũng còn được gọi là phong giao hay phong dao.
Ca dao là tiếng nói trung thực nhất của dân Việt ta, nhất là trong giới nông dân. Muốn tìm hiểu rõ ràng dân tộc tính của người Việt Nam ta, không gì bằng tìm trong ca dao. Ca dao bao hàm trong rất nhiều khía cạnh, lĩnh vực. Trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ xét tới Đức tính cần lao và sự tôn trọng nghề nông của người Việt Nam qua nền văn chương này.
Con người mỗi ngày một tiến bộ với những sự tìm tòi khám phá liên tục. Nền văn minh của loài người đã tiến những bước dài, hầu hết những cái gì thuộc về xưa cũ đều bị thải hồi... Nhưng có một điều chúng ta phải công nhận là ca dao vẫn giữ được một giá trị đặc biệt trong kho tàng văn chương của dân tộc.
Dân tộc ta, cũng như đa số các dân tộc Á châu khác có đặc tính chung là cần cù, hăng hái làm việc dù là việc khó nhọc để tiến dần đến thành công:
Nước chảy đá mòn
hoặc:
Có công mài sắt có ngày nên kim
Nguồn lợi chính của dân Việt mình là thóc lúa, bởi vậy người Việt Nam rất tôn trọng nghề nông. Thóc gạo là căn bản cho nền kinh tế quốc gia, nên đức tính cần lao của dân ta có thể nói đã dồn hết vào nông nghiệp. Với thân hình nhỏ nhắn mềm mại, nhưng chứa đựng một sức chịu đựng dẻo dai, bền bỉ; dân ta bất chấp những khó khăn, trở ngại của thiên nhiên để tiến tới mục đích:
Trời mưa trời gió long đong,
Cha con ông Súng đi gánh phân trâu.
Gánh về trồng bí trồng bầu
Trồng hoa trồng quả, trồng trầu, trồng cau.
Hay: Trời mưa thì mặc trời mưa
Chồng tôi đi bừa đã có áo tơi.
Hoặc: Cày đồng đang buổi đang trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Hay: Chớ thấy sóng lớn mà lo
Sóng lớn mặc sóng chèo cho có chừng.
Với một lòng kiên nhẫn nhẫn nại thì dù có phải:
Một mình vừa chống vừa chèo
Không ai tát nước, đỡ nghèo một khi.
Họ vẫn:
Dù no, dù đói cho tươi
Khoan ăn bớt ngủ liệu bài lo toan.
Sự vất vả, khó nhọc đã được thể hiện trong đám ruộng cày, quanh năm chân lấm tay bùn mà ca dao đã nói lên bằng những lời thơ mộc mạc, đơn sơ, nhưng ông chẳng kém phần bay bướm.
Tháng chạp là tiết trồng khoai
Tháng Giêng giồng đậu tháng hai giồng cà
Tháng ba cày vỡ ruộng ra...
Rồi đến:
Tháng tư đi tậu trâu bò
Để cho ta lại làm mùa tháng năm.
Sớm ngày đem lúa ra ngâm,
Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra.
Gánh đi ta ném ruộng ta
Đến khi lên mạ thì ta nhổ về
Lấy tiền mượn kẻ cấy thuê
Cấy xong rồi mới trở về nghỉ ngơi
Cỏ lúa dọn đã sạch rồi,
Nước ruộng vơi đầy còn sợ một hai
Cạn thì dùng một gầu giai
Ruộng thấp thì phải dùng hai gầu sòng.
Chờ cho lúa có đòng đòng
Bấy giờ ta sẽ trả công cho người
Bao giờ cho đến tháng 10
Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta
Cắt, hái ta đem về nhà
Phơi khô quạt sạch ấy là xong công.
Đó là những diễn tiến của nghề làm ruộng, từ những ngày sửa soạn, tậu trâu bò, gieo mạ cho đến ngày gặt lúa. Sự vất vả vất vả trong suốt năm, được bù đắp bằng ngày nhìn thóc phơi đầy sân, tượng trưng cho sự bảo đảm một nếp sống no đủ trong gia đình. Cái hình ảnh đẹp đẽ nhất của người nông dân có lẽ là mùa gặt hái, rồi những cột thóc cao vọi được dựng lên. Những cột thóc đó là thành quả sau những ngày tháng làm lụng vất vả. Họ rất xứng đáng được hưởng một địa vị cao đẹp, một sự đền bù hỉ lòng mát dạ:
Nhất sĩ nhì nông
Hết gạo chạy rông
Nhất nông nhì sĩ
Người nông dân Việt Nam luôn luôn chống đối những kẻ “Nhàn cư”, ăn không ngồi rồi, chẳng được tích sự gì. Ca dao đã phả bọn người “nhàn cư” này bằng những câu mỉa mai như:
Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa,
Sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày.
Hoặc:
Ăn thì ăn những miếng ngon
Làm thì chọn việc cỏn con mà làm.
Và:
Ăn no rồi lại nằm khoèo
Thấy giục trống chèo bế bụng đi xem.
Hay bằng giọng Xa xôi hơn nữa:
Ăn sung ngồi gốc cây sung
Ăn rồi lại ném tự tung ngũ hoành.
Những sự bất công trong xã hội, kẻ giàu người nghèo, người làm việc quần quật suốt ngày, kẻ nhàn hạ cũng được thể hiện qua ca dao như:
Anh thì quần áo rong chơi
Để em đi cấy mồ hôi ướt dầm.
Hoặc:
Người thì mỡ bẩy mỡ ba
Người thì áo rách như là áo tơi.
Đức tính cần cù nhẫn nại của dân ta đã có từ ngàn xưa và còn tồn tại mãi trong tâm hồn mỗi người dân Việt với bốn nghìn năm văn hiến rạng rỡ. Nông nghiệp là căn bản cho nền kinh tế quốc gia, nên trong ca dao phần lớn phác họa những hình ảnh về nghề làm ruộng.
Theo sử bọc, công việc cày cấy của dân tộc ta có từ đời Hùng Vương. Để khuyến khích dân chúng hăng hái trong việc cày bừa, phá đất khai hoang, nhiều vị vua chúa ngày xưa đã thảo chính đi cày ruộng để làm gương. Sự kêu gọi, thúc đẩy người dân trở về với đồng ruộng đã thể hiện qua ca dao bằng những câu:
Công lênh chẳng quản lâu lâu
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.
Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu.
Hoặc là:
Rủ nhau đi cấy đi cày,
Bây giờ khó nhọc có ngày nên công.
Theo tài liệu trong cuốn Việt Nam Văn Hóa sử Cương của Đào duy Anh (Quan Hải tùng thư, Huế 1938) có một đoạn nói về phong tục của dân ta như sau: “Ngay cả trong phong tục của dân ta nghề nông cũng được khuyến khích rất nhiều như ở làng Đồng Nghị và Bích đại tỉnh Vĩnh Yên có tục lệ đặt ra lễ tiết xuân. Đại khái thì hàng năm cứ vào đúng ngày 4 và mùng 5 tháng Giêng, lệ làng bắt buộc mỗi người làm ruộng có trâu phải cuộn một con trâu giả bằng rơm, rồi đem đến sân làng dự hội. Trâu giả được cột vào một cái cày lưỡi gỗ rồi hai người đàn ông mặc quần áo giả làm dân bà thực hiện công việc làm ruộng lại có một cô gái dưới 17 mùa xuân giả dạng nam nhi mang thúng trấu đi theo vãi rắc tựa như người đi gieo giống.”
Trong những lúc làm việc, người nông dân vui vẻ hăng hái bao nhiêu, nhưng cũng không quên nổi băn khoăn, thắc mắc, lo xa khi thời tiết thay đổi, mưa nắng bất hòa thì mùa màng sẽ thất bại. Nỗi băn khoăn của người dân đã được ca dao nhắc nhở:
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông gió trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng.
Phương pháp cày cấy cổ truyền vẫn còn được áp dụng cho đến ngày nay, trâu là một con vật lúc nào cũng đi đôi với người nông dân trong công việc cày bừa. Trâu bò và người nông dân có một sự liên quan chặt chẽ, người nông dân luôn săn sóc chúng một cách đặc biệt:
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cày cấy vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Ở trên, ta mới xét qua vài đại điểm của ca dao Việt Nam, ta đã thấy ca dao Việt Nam là cả một sản phẩm quí giá. Nó qui ở chỗ đơn sơ, mộc mạc, và giản dị nói lên những hình ảnh, sự việc thông thường xảy ra hàng ngày trong cuộc sống của người dân. Chúng ta có thể nói ca dao tiêu biểu cho tính tình, tập quán của dân V.N. Trải bao thế hệ, ca dao vẫn phong phú và mỗi ngày một phong phú thêm.
Ca dao bao hàm trên nhiều lĩnh vực rất rộng rãi. Ngày nay nếu có thì giờ đem những tư tưởng sống động trong ca dao V.N. ra mổ bản, khai thác và vun xới thêm thì thiết tưởng người cầm bút không sao viết hết được.
-----===<oOo>===-----


From: Hoai Vu <hoai.hvu@
Date: 2/10/26 10:03 PM (GMT-08:00)
Subject: Lời giải câu đố
Kính thưa anh Đẳng,
Bài toán hình học này hay thật! Đáp số là BC = 6. Không biết có nhầm lẫn gì không đây, nhưng tính ra thì thấy mọi thứ đều ... đẹp
cos(alpha) = 3/4, cos(2 alpha) = 1/8 và cos(180 - 3 alpha) = 9/16
Kính anh,
Hoài
HCD: Cám ơn anh Hoài. Chờ các bạn khác giải tiếp bằng cách khác.
-----=-----
From: Hoai Vu <hoai.hvu@
Sent: Wednesday, February 11, 2026 6:35 CH
Subject: Re: [quanvenduong] Tet con ngua noi chuyen ve ngua, nghi van ve tac gia mot bai tho, goc do vui và loi giai
Kính thưa anh Đẳng,
Xin gửi anh một cách giải khác thuần túy bằng hình học.


Kính anh,
Hoài
HCD: Cám ơn anh Hoài. Hay quá.
-----=-----
From: Doan Nguyen <doan2102@
Sent: Friday, February 13, 2026 2:10 SA
Subject: Lời giải Cầu đồ 3 (10-Feb-2026)
Cách giải rất hay nhưng có nhiều “typos ?” !

HCD: Cám ơn anh Doan và Van Nguyen. Còn một cách giải khác hơn hai cách trên. Đâu hai anh giải thử bằng cách thứ ba cho vui.


From: nang huynh <nlehuynh@
Sent: Friday, February 13, 2026 8:59 SA
Subject: Giải đáp các câu đố
Câu hình học: AC = x = 29
Dùng lượng giác:
tan(A/2) = 6/14 = k
tan(A) = 2k /(1-k^2) = 21/20
AB = 20 do đó BC = 21 và x^2 = 20^2 + 21^2 = 29^2
Cảm ơn Anh, chúc Anh mạnh khỏe
Năng
Yahoo Mail: Search, Organize, Conquer
HCD: Cám ơn anh Năng
Còn cách tính khác hơn mời các bạn tiếp tục. Anh Van Nguyen nói dùng AI giải được xin anh giải thử bài toán hình học bên trên bằng AI xem sao.
-----===<oOo>===-----



Cau Doi (Le Ta) Nghe Nong qua Ca Dao, goc do vui va loi giai.doc

Không có nhận xét nào: