Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

Hiểu biết thêm với GS Huỳnh Chiếu Đẳng

Kính thưa quí bạn
Hôm nay sắp tới Tết con Ngựa, tôi trích một bài về ngựa trong báo Xuân in năm 1942 với nghi vấn về một bài thơ nhờ chư thức giả giải đáp.
1. Bài viết “Năm Ngựa Nói Chuyện Về Ngựa” của Văn Hòe với bài thơ “nghi vấn” về tác giả.
2. Con ngựa thành Troie của Thanh Vân (11/2/2026, ngày 24 Tết Bính Ngọ)
3. Góc đố vui và lời giải
HCD 11-Feb-2026
Chữ nhỏ khó đọcm các bạn giữ key Ctrl cùng lúc lăn bánh xe trên mouse để zoom cho chữ và hình to ra.
<!>


Tất cả báo Xuân ngày xưa mà Quán Ven Đường đang có nằm ở đây
Dưới đây là nội dung văn bản từ trang báo Xuân được chuyển thành text (OCR) theo nguyên bản in năm 1942: Trung Bắc Tân Văn Chủ Nhật - Số Tết Nhâm Ngọ (số 98 Bis, 8-2-1942) Lưu ý tôi chưa dò hết kịp, nếu có chữ nhận diện sai các bạn sửa dùm.
Năm Ngựa Nói Chuyện Về Ngựa
-----=-----
Năm mới này là năm Nhâm , hoặc nổi tất là năm Ngọ. Theo các nhà tỷ số học thời cổ nước Tàu, Ngọ thuộc Ngựa, vậy năm Ngọ tức là năm Ngựa.
Chưa biết năm ngựa có khỏe mạnh mau lẹ như ngựa không, song nhân năm ngựa nói chuyện về ngựa cho hợp thời và đọc trong xuân tưởng cũng không phải là không hứng
Trang tử ví ngựa với người
Ngựa nguyên là một giống vật rừng. Khi loài người đã tiến hóa một chút, hằng xa để kiếm thức ăn hoặc để chiến đấu người ta mới nghĩ cách bắt ngựa ... chân ảnh là nào cũng là ngựa tốt, mỗi ngày cũng chạy được ngàn dặm nào cũng là thiên lý mã. Sau về chung với người, dần dần ngựa mất một phần bản năng quí hóa và hóa hư đi, thành ra thiên lý mới là một vật hiếm có
Điều đáng tiếc đó, Trang tử bảo lỗi ở loài , và riêng ở ông mà Trang tử cho là người đầu tiên ở nước Tàu đã móng ngựa, hớt lông ngựa, đóng móng vào chân ngựa, và ràng buộc ngựa bằng hàm thiếc, dây cương
Cũng như ông bảo cũng đặt ra lễ giáo, luật pháp phiền phức, loài người càng suy đi
Sự tích ngựa Thần Hy-lạp
Thủy cung hoàng tử Phorcus con Đức hải Long vương (Neptune) lấy Hải tinh Công chúa , được 3 cô con gái, người ta gọi chung là chiens Gorgones.
Chị cả tên là Euryale, chị là Stheno còn người em út tên là Méduse. Ba chị em đều ghê tởm như nhau, và tóc là một con rắn độc, răng dài và nhọn như sang nanh lợn, tông bằng thép nguội có hai vành vàng vai, lúc muốn hay bùng lên không trung. Người phàm trần hễ trông thấy chị em nhà ấy, là hóa đá tức thì
Hai chị thì thành tiên và bất. Còn em út thì trước kia từng từ tỉnh nên bị thần chiến tranh (Minerve) căm giận và phạt bắt phải chết như phàm trần. Thần giúp đối và dẫn đường cho kiệt Persée khắp các nước chân sang chân Âu nhanh đến thăm cung hiểm, khôn mưu nhải hiểm giết hàng được nàng Méduse, giữa lúc ấy một đầu của Méduse, dịch bay thông. Nhưng nhanh như chớp.
Con thần mã ấy người Hy lạp gọi là ngựa Pégase. Sau khi Persée thất tỏe, ngựa Pégase thông ang-dang ở trên Hippocrène, bước ở bờ giếng Castalie, gần núi Parnasse.
Người ta nói các thi sĩ Hy lạp thường bắt gặp ngựa đó và thường cưỡi ngựa bay bổng cùng với thi hứng lên tận trời xanh
Vua Mục vương nhà Chu bất tử về ngựa
Vua Mục vương nhà Chu nước Tàu tính rất thích ngựa, lựa trong thiên hạ được 8 con ngựa quí, đặt cho mỗi con một tên khác nhau, như Hoa-lưu, Lục-nhĩ v.v... và dành cho 8 con tuấn mã ấy cả một cánh đồng rộng bát ngát trồng một thứ cỏ riêng cho ngựa ăn.
Tới nay nói đến ngựa hay, người Tàu nào cũng nhớ đến Mục thiên tử. Thành ra chỉ vì tình thích ngựa mà Mục vương được thiên cổ lưu-danh
Đông-phương-Sóc bắt được thần-mã
Sách « Động-minh-ký » chép rằng: Đông-phương-Sóc chơi đất Cát-vân, vui chân vượt sang phía đông đất Phù-tang, bắt được một con thần-mã cao 9 thước, mông có hai khoáy, một khoáy hình giống mặt trời, một khoáy hình tựa mặt trăng. Cái khoáy hình mặt trời thì ban ngày sáng như mặt trời. Cái khoáy hình mặt trăng thì đêm tối sáng như mặt trăng. Lông con ngựa thì theo bốn mùa mà thay đổi màu sắc, coi rất lạ. Vua Hán-vũ-Đế phán hỏi về lai-lịch con thần-mã, Đông-phương-Sóc tâu rằng:
« Ngày xưa, Tây-vương-Mẫu ngồi kiệu linh-quang ngự chơi phía đông, Linh-quang giọi xuống thành một cánh đồng mọc toàn một thứ thụy-thảo tên là cỏ chi. Người nhà Vương-công thả con ngựa này ra cánh đồng cỏ chi, nó ăn mất gần hết chi-thảo. Vương-công giận lắm, bèn đuổi bỏ con ngựa này ra bãi biền. Hạ-thần hồi ấy đến chơi nhà Vương-công lúc về cưỡi luôn con ngựa ấy; nội nhật ngày hôm ấy đi ba thôi đường về Hán-quan, mà cửa quan chưa đóng, (nghĩa là hãy còn sớm).
Nhà vua hỏi tên ngựa, thì Đông-phương-Sóc tâu tên nó là Bộ-cảnh.
Ngựa Mông-cổ mấy lần chinh-phục hoàn-cầu
Vào tay bọn Hung-nô, rồi Thành-cát Tư-hãn, và sau rốt là Thiếp-mộc-Nhi, ngựa đã thành những vật giúp việc rất đắc-lực cho nhà binh. Chính nhờ ở vó ngựa chạy nhanh như bay mà ngày xưa Attila, Thành-cát Tư-hãn và Thiếp-mộc-Nhi, đều phát-tích từ đất Mông-cổ, đã tràn khắp các nước châu Á, sang tới châu Âu nhanh chóng như một trận bão táp, khiến người thời bấy giờ không sao giở tay mà đề-phòng trước được.
Một cái đầu ngựa chết giá 500 lạng vàng
Sách Quốc-sách chép rằng: Quách Ngôi tiên sinh là tôi tướng nước Yên, một hôm tâu với Chiêu vương nước Yên:
Thần nghe chuyện rằng ngày xưa có một ông vua định đem ngàn lạng vàng ra mua lấy một con ngựa tốt. Nhưng trong 3 năm không kén được con nào gọi là thiên lý mã. Một ông quan tán vua xin cho đi khắp thiên hạ tìm ngựa. Vua liền sai sứ giả đem tiền đi trong 3 tháng trời, mới tìm được một con thiên-ly-mã nhưng ngựa đã chết rồi, sứ giả liền bỏ ra 500 lạng ra mua lấy cái đầu ngựa chết đem về dâng vua.
Vua giận lắm quở rằng: làm gì? Thật lại mất 500 lạng vàng. Sứ giả tâu: Bệ hạ, ngựa chết mà còn mua tới 500 lạng vàng, huống chi ngựa sống thì mua đến bao nhiêu. Chắc thiên hạ đều nghĩ thế, mà đua nhau trừ ngựa thiên lý bán cho nhà vua.
Thần mua ngựa chết tức là đem ngựa sống. Quả nhiên chưa đầy một năm, nhà vua đã lựa mua được 3 con thiên lý mã
Ngựa cũng có tình?
Sách Thuật-dị chép rằng: Thời thái đời vua Can tân nước Tàu, có người nước Thục bị hắt các cả người cả ngựa đi đâu mất.
Sau con ngựa bỗng chạy được về nhà. Người vợ thấy ngựa về không, biết nấy có việc dở, bèn thề thốt với mọi người rằng: hễ ai cứu được chồng về, thì xin gả con gái cho. Con ngựa nghe nói xong liền lồng đi, cõng được chủ về.
Trong khi vợ chồng người chủ mừng mừng tủi tủi, thì con ngựa cứ la lên. Không hỏi vợ biết chuyện, liền bảo ngựa rằng: Thế là thề với người, chứ không thề với ngựa ta. Con ngựa vẫn không thôi kêu thương. Bực mình, người chủ bèn giết con ngựa, lột da phơi ở sân.
Thình lình nắm da cử động được chạy lại cuốn lấy con gái chủ nhà đem đi mất tích. Tìm kiếm mãi mấy hôm sau, người ta thấy xác người con gái cùng bộ da ngựa đã mọc hạt, hóa ra sâu tằm
Ngựa nhịn đói chết theo chủ
Đọc chuyện «Tam quốc chí», ai cũng biết con ngựa Xích-thố của Đổng Trác cho Lã Bố, khi Lã Bố bị hại, Tào Tháo lại tặng cho Quan Vân Trường. Sau khi cùng chủ lập nên bao nhiêu chiến công rực rỡ con Xích-thố cuối cùng nhịn ăn chết theo Quan-Công bị hại về tay Lã. Người ta nói khi Quan Công hiển thánh con nghĩa-mã cũng được hiển thánh theo.
Lập chùa kỷ niệm ngựa
Đời vua Minh đế nhà Đông Hán, Ban Siêu đi các nước ở Tây vực (Tây Tạng) biết đạo Phật thịnh hành ở phương Tây, về tâu vua, nên theo đạo Phật. Vua bèn sai đạo sĩ Thái-Am sang Thiên trúc (tức Ấn độ) thỉnh kinh. Bốn mươi hai chương kinh đó, do một con ngựa bạch tải từ Thiên trúc về, vì đi đường xa mệt nhọc, lúc về đến Lạc dương thì ngựa lăn ra chết. Nhà vua liền sai làm tại đó một ngôi chùa, lấy tên là chùa Bạch mã để kỷ công con ngựa bạch. Chùa Bạch mã tới nay hình như vẫn còn.
Một ông vua tự tắm cho ngựa
Vua Đường-minh-Hoàng xưa rất thích ngựa. Trong tàu ngựa nhà vua lúc nào cũng có ít nhất hàng trăm con ngựa đẹp và hay tựu trung hay nhất là hai con Ngọc-hoa-thông và Chiến-dạ-bạch.
Hai con ngựa này thường được nhà vua cho đứng ngay ở sân rồng và thường bắt đem nước ấm, pha nước thơm vào, rồi tự tay nhà vua tắm rửa cho ngựa rất chăm-chút, cẩn-thận.
Có người vẽ tranh vua Minh-Hoàng tắm ngựa; tranh ấy còn truyền đến sau này, và mấy ông sứ-thần nước ta về triều Trần hay Lê sang Tàu còn được xem, có ông vịnh cả thơ đề lại.
Như bài thơ vịnh tranh Đường-minh-Hoàng tắm ngựa của Chu-đường-Anh, hiệu là Liêu-thủy làm quan Chuyển-vận-sứ đời Trần, truyền lại sau đây:
Ngọc-hoa, Dạ-chiếu tuyệt quyền kỳ
玉 花 夜 照 絶 權 奇
Dục bãi khiến lai cận xích trì
浴 罷 牽 來 近 赤 墀
Nhược sử ái nhân như ái mã
若 使 愛 人 如 愛 馬
Thương sinh an đắc hữu sang-di !
蒼 生 安 得 有 瘡 痍
dịch :
Ngựa Ngọc-hoa sao khéo lạ-lùng
Tắm rồi đem tiễn dưới sân rồng
Nếu lòng yêu mến người như ngựa
Lọ phải lo dân nỗi khốn cùng
ĐINH-VĂN-CHẤP
(Nam-phong)
-----=-----
HCD:
Các câu thơ chữ Nho nầy có nghĩa như sau:
Ngựa Ngọc Hoa, Dạ Chiếu (những giống ngựa quý) có vẻ đẹp kỳ lạ, dũng mãnh tột bậc
Tắm táp xong xuôi, ngựa được dắt đến đứng gần thềm cung điện đỏ rực (nơi vua ở).
Nếu như (vua quan) yêu thương nhân dân giống như yêu thương ngựa quý..
Thì dân chúng (thương sinh) đâu đến nỗi phải chịu cảnh đau thương, khốn khổ thế này!
Nghi Vấn
Có nơi nói bài thơ nầy là của Nguyễn Du.
( trích ==>
“Đề họa mã” (題畫馬)
Nằm trong tập “Bắc hành tạp lục” của Nguyễn Du.
Khoảng 1813–1814, khi Nguyễn Du đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Trong chuyến đi này, ông làm nhiều bài thơ chữ Hán, ghi lại cảm xúc trước cảnh vật, con người và thời cuộc.
“Đề họa mã” nghĩa là đề thơ vào bức tranh vẽ ngựa.
Hai câu đầu tả con ngựa quý được chăm sóc kỹ lưỡng, tắm rửa xong dắt đến gần thềm son:
Ngọc hoa dạ chiếu tuyệt quyền kỳ
Dục bãi khiên lai cận xích trì
Hai câu sau là lời cảm thán đầy tính phê phán:
Nhược sử ái nhân như ái mã
Thương sinh an đắc hữu sang di
Nghĩa là:
Nếu như yêu người được như yêu ngựa,
Thì dân đen sao còn chịu cảnh thương tích?
Đây là lời châm biếm sâu sắc tầng lớp thống trị phong kiến:
họ quý trọng ngựa chiến, vật dụng, quyền lực… hơn sinh mạng nhân dân.
Về văn bản học và các bản khắc trong Bắc hành tạp lục, bài này được xác định là của Nguyễn Du.
<== hết trích)
Nhưng cũng có tài liệu ghi sai rằng:
( trích ==>
Bài này được làm vào khoảng giữa thế kỷ XIX, trong thời Tự Đức trị vì (1847–1883), nhiều khả năng vào giai đoạn cuối đời khi đất nước rối ren vì: Nội loạn và kinh tế suy kiệt, triều đình suy yếu
Theo giai thoại được lưu truyền trong sử sách và dã sử:
Tự Đức rất yêu quý một con ngựa quý tên Ngọc Hoa (玉花). Con ngựa này được chăm sóc đặc biệt, được tắm rửa sạch sẽ rồi dắt vào gần điện son (xích trì – bậc thềm đỏ trước điện vua).
Cảm khái trước cảnh mình yêu ngựa đến thế, nhà vua tự trách và làm bài thơ này, với hai câu cuối mang tính tự vấn:
“Nếu như yêu dân được như yêu ngựa,
thì dân chúng sao còn chịu cảnh thương tích, khổ đau?”
Hai câu cuối thể hiện một sự tự trách và day dứt, cho thấy Tự Đức ý thức được nỗi khổ của dân chúng trong thời loạn.
<== hết trích)
----=-----
3. Lại có một tài liệu khác nói thế nầy:
( trích ==> Chu-Đường-Anh, tự Chu Đường Thương, hiệu LiêuThủy (周堂瑛), tên tuổi và năm sinh chưa rõ ràng, quê gốc ở Liêu Thuỷ — từng làm quan chức Chuyển vận sứ cuối đời nhà Trần. Ông còn để lại ít nhất hai bài thơ chữ Hán, trong đó có bài này
nhìn vào tranh vẽ Đường Minh Hoàng tắm ngựa để phê phán nhẹ về thái độ của vua Trời (hoặc vua chúa xa hoa xa rời nỗi khổ dân) — rằng yêu thương vật tới vậy mà không thể thương yêu dân chúng, nên nhân dân mới phải chịu “chuang di” (thương tích, khổ đau).
<== hết trích)
Vậy bài thơ trên của tác giả nào. Xin chờ ý kiến các bạn
-----=-----
Giả giả thiền sư “than” rằng:
Chữ "Ái" đặt sai chỗ thì vật quý cũng hóa thành hư danh,
chữ "Nhân" đặt đúng chỗ thì vạn dân mới được nhờ ơn.
Thực là: Vật báu dễ tìm, lòng nhân khó gặp.
-----=-----
Được ngựa là điềm gở, mất ngựa là điềm hay
Sách « Hoài-nam-tử » chép rằng: Ở miền biên-giới nước Tàu có một ông già (ta thường gọi là Tái-ông, nghĩa là ông già ở biên-giới) mất một con ngựa. Có người phàn-nàn thay cho ông. Ông nói: « Biết đâu đó chẳng là cái phúc cho nhà tôi? »
Mấy tháng sau, con ngựa ấy bỗng trở về, đem cả một con tuấn-mã về theo. Có người tỏ lời mừng cho ông. Ông nói: « Biết đâu đó chẳng là cái họa? ». Con trai ông thấy con ngựa lạ đẹp liền cưỡi đi chơi, chẳng may ngã ngựa gãy một cánh tay. Có người lấy làm buồn cho ông. Ông nói: « Biết đâu đó chẳng là một cái phúc lớn cho con tôi ».
Sau này, nội việc binh-đao, bao nhiêu tráng-đinh đều bị bắt ra lính chết trận rất nhiều. Duy có con trai ông bị gãy một cánh tay được miễn binh-dịch, ở nhà với cha mẹ già. Người ta tưởng ông già gàn, nhưng xét ra, ông già nói đều trúng lẽ cả.
Ngựa có tượng đồng ở cửa cung điện nhà vua
Vua Hán-vũ-Đế được người dâng một con ngựa nước Đại-uyển, rất cao lớn, khỏe-mạnh, đẹp-đẽ. Nhà vua lấy làm quí giá vô cùng, sai lấy đồng trong kho ra đúc một ngựa bằng đồng cao lớn và giống hệt con ngựa đó, đặt ở cửa cung Vệ-ương. Ngày ngày tượng ngựa được lau chùi sáng loáng coi chẳng khác gì con ngựa đúc bằng vàng. Nhà vua liền đặt tên cửa cung ấy là kim-mã-môn, nghĩa là cửa có con ngựa vàng, và từ đó đều bàn việc các quan triều ở cửa đó. Nên sau này và tới ngày nay cũng vậy, trong văn-chương người ta thường dùng những chữ kim-mã hoặc kim-môn để trỏ cung điện nhà vua.
Ngựa giấy thành thần
Dưới đây là một chuyện cổ-tích Nhật-bản. Trong một ngôi đền kia ở nước Nhật có treo một bức trang vẽ một con ngựa ô (đen) của nhà họa-sĩ Kanaoka về thế kỷ thứ 9. Từ ngày treo tranh ấy, các vườn cây lân-cận thường bị phá hoại một cách bí-mật. Người ta để ý rình. Một đêm thấy bóng một con ngựa ô lồng ra, người ta vội đuổi theo. Con ngựa chạy vào đền rồi mất. Người ta đốt đèn đuốc lên tìm. Nhìn đến bức tranh của nhà danh-họa Kanaoka thì thấy con ngựa trong tranh toát mồ-hôi ra và như có dáng nhọc-mệt. Đoán là con ngựa ấy thành thần, hiện hình ra phá hoại vườn-tược, có người lấy bút mực vẽ lên bức tranh một cái thừng buộc con ngựa vào một cái cọc. Từ đó, mùa-màng, hoa-màu không bị ngựa thần ra phá-hoại như trước.
Ngựa đá đánh giặc
Đời Trần, nước ta phải chống đánh giặc Nguyên chật vật lắm mới giữ nguyên-vẹn được giang-sơn. Khi giẹp giặc xong, dựng lại cuộc thái-bình, nhà vua làm lễ yết Tôn-miếu, thấy hai con ngựa đá chầu ngoài sân có dính vết bùn đất ở bốn vó, hình như mới ra trận-mạc về.
Cho là Tiên-tổ linh-thiêng đã cưỡi ngựa đá ra trận âm-phù, nên mới dành được cuộc thắng.
Thượng-hoàng là vua Trần-thánh-Tôn có làm hai câu thơ kỷ-niệm.
Xã-tắc kỷ hồi lao thạch-mã,
Sơn-hà thiên-cổ điện kim-âu.
dịch :
Xã-tắc hai phen hao ngựa đá,
Non sông muôn thuở vững âu vàng.
Lập một thành phố để kỷ-công một... con ngựa
Một hôm có người dắt đến trình vua Philippe nước Macédoine thời xưa, một con ngựa, nói rằng hay lắm và muốn xin nhà vua ban cho một món tiền to.
Vua Philippe cùng mấy vị triều-thần có tiếng là giỏi cưỡi ngựa đem ngựa ra cánh đồng quần thử. Thái-tử Alexandre lúc ấy mới 15 tuổi cũng đi theo xem.
Con ngựa ấy tên là Bucéphale dữ quá động thấy ai lại gần cũng nhe răng và cất vó lên chực cắn, đá, thành ra chẳng ai nhảy được lên lưng, cả vua Philippe cũng vậy.
Nhà vua liền ra lệnh đem trả con ngựa bất kham cho người lái buôn.
Thái-tử thấy thế, liền thở dài:
« Hoài của con ngựa hay thế mà không biết cưỡi » !
Thái-tử nói có vẻ hợm-hĩnh, nhà vua phán:
— « Sao vương-nhi không thử cưỡi xem sao? »
Alexandre liền tiến lại gần con ngựa, Thái-tử tinh ý nhận ra rằng sở dĩ con Bucéphale sợ-hãi và dữ-tợn, là vì nó trông thấy bóng đầu nó cử-động. Thái-tử bèn dắt ngựa cho nó quay mặt lại phía mặt trời. Rồi, vừa khẽ vỗ vào người nó vừa nói mấy câu ngọt-ngào, thái-tử lanh-lẹn nhẹ-nhàng nhảy lên lưng nó.
Trước hết Alexandre ghìm chặt dây cương, nhưng không thúc nó, cốt cho nó qua cơn hung. Đoạn, hạ tay xuống, thái-tử thét lên một tiếng, bắt nó phóng nước đại. Vua Philippe và quân-thần đều lấy làm lo-ngại, e vì quá ngông-cuồng mà thái-tử gặp nguy. Song, Alexandre vẫn đường hoàng, oai-vệ ngồi trên mình ngựa, nét mặt thản-nhiên như không, sau khi bắt Bucéphale quần một vòng cánh đồng cho nó mệt lử đi, bấy giờ thái-tử mới quay về, điềm-nhiên đem ngựa về trả lại Phụ-Hoàng. Vua Philippe thán-phục tài con, chạy lại hôn Alexandre rồi nói bằng một giọng thành-thật và cảm-động hết sức:
— « Vương-nhi nên tìm lấy một giang-sơn khác cho xứng-đáng với tài cao. Nước Macédoine của cha đối với con không bõ ».
Thế rồi từ đó, ngựa Bucéphale là ngựa riêng của Thái-tử. Vì nó chẳng chịu để ai nhảy lên lưng, và hễ thấy mặt Alexandre là nó tự nhiên quì gối xuống tiếp-rước, một cách rất lễ-phép.
Khi lên kế-vị Phụ-Hoàng cầm quyền trị nước, vua Alexandre đem quân đi chinh-phục được bao nhiêu đất nước khắp miền La-hy thời xưa nổi danh là một vị oanh-liệt anh-hùng trong lịch-sử thế-giới, trận nào Đại-Đế cũng cưỡi ngựa Bucéphale.

Chẳng may trong trận huyết-chiến với Porus, ngựa Bucéphale bị thương tử trận. Vua Alexandre thương tiếc lắm ra lệnh cho quân-sĩ làm lễ tống-táng rất trọng-thể, và lập trên mồ ngựa Bucéphale một thành-phố lớn để kỷ-công. Thành ấy lấy tên ngựa mà đặt là thành Bucéphalia.
LỜI KẾT-THÚC
Rút lại ngựa bao giờ cũng là một con vật có giá-trị đặc-biệt hằng được chúa dấu vua yêu.
Không giúp nhà chinh-chiến, thì nó làm việc cho nhà tôn-giáo; không làm việc cho nhà tôn-giáo, thì nó làm đẹp mắt nhà mỹ-thuật ; không làm một vật mỹ-thuật, thì nó làm con vật kiếm tiền.
Sống vào năm ngựa, tức là sống vào một năm có giá-trị đặc-biệt.
Chúng ta phải sống một cách đầy-đủ và xứng-đáng. Đừng để ngày tháng lạnh-lùng trôi đi vô-vị, rồi thở dài than : Thì giờ đi như bóng ngựa qua cửa sổ!
Văn-Hòe
-----===<oOo>===-----
On Tuesday, February 10, 2026 at 08:30:55 PM PST, Marine Thanh Van <marinevan8@ > wrote:
Con ngựa thành Troie
Thanh Vân
11/2/2026, ngày 24 Tết Bính Ngọ
Năm nay Tết VN sắp đến sẽ là năm con ngựa. Xin được kể chuyện một con ngựa lừng danh thiên cổ ở phương Tây, con ngựa thành Troie.


Con ngựa được kéo vào thành Troie để buổi tối ấy đội quân trốn trong thân ngựa chui ra mở cửa thành cho quân Hy Lạp tràn vào.
Trong lịch sử văn học phương Tây, nhiều thế kỷ trước Công Nguyên, người Hy Lạp chuyền miệng một câu chuyện về chiến tranh thành Troie rất ly kỳ được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Thế kỷ thứ VIII trước Công Nguyên, với sự xuất hiện của chữ viết, cho phép một câu chuyện rời rạc chỉ kể cho nhau nghe , được chép lại thành thơ dễ nhớ và dễ ngâm do một thi sĩ Hy Lạp tên Homere viết thành hai tập thơ vĩ đại : l‘ Iliade và l‘ Odyssée, hai tác phẩm này là căn bản của văn chương Hy Lạp thời cổ đại . L‘Iliade có 16 000 câu thơ và l‘ Odyssée có 12 000 câu, đến nay vẫn còn được đem ra học hỏi và bình luận.
Theo Homère, vào thế kỷ thứ XII trước CN, Pâris một hoàng tử khôi ngô tuấn tú của xứ Troie, đến thăm xứ Sparte, Pâris trông thấy hoàng hậu Hélène , một tuyệt sắc giai nhân, đem lòng yêu tha thiết và tìm cách bắt cóc Hélène đem về xứ Troie của mình. (Nhưng cũng có giả thuyết nói rằng cả hai Pâris và Hélène nhìn thấy nhau thì bị "cú sét ái tình" và Hélène bỏ trốn theo Pâris).
Ménélas, vua xứ Sparte, bị mất vợ nên kêu gọi anh là vua xứ Mycène cùng tất cả vua những đảo lân cận thành lập một đội ngũ hùng hậu đến bao vây thành Troie để cứu thoát vợ là tuyệt mỹ nhân Hélène.



Đoàn tàu thuyền hơn 1000 chiếc hùng hậu đến bao vây Troie để đòi hoàng tử Pâris phải trả Helene về cho Menelas
Nhưng xứ Troie là một thành trí kiên cố, được bao bọc bởi những bức tường dầy 2m5 , quân của Menelas không xâm nhập được, chỉ tấn công bên ngoài. Cuộc chiến dằng dưa kéo dài 10 năm, xứ Troie tuy bị bao vây nhưng trong thành có đủ tài nguyên, thực phẩm nên người dân vẫn sinh hoạt bình thường.
Chán nản, đoàn quân của Menelas định rút lui, nhưng Ulysse, vua xứ Ithaque, cùng chiến đấu trong cuộc bao vây xứ Troie, nẩy ra một mưu kế . Ulysse đề nghị làm một con ngựa bằng gỗ thật lớn, có thể chứa hàng chục lính bên trong. Con ngựa gỗ được dựng bên bờ biển như một lễ vật trước là bái tặng thần biển cả Poseidon, sau là để lại cho xứ Troie như một lời tạ lỗi, trước khi đoàn quân rút lui quay thuyền trở về xứ sở.


Con ngựa bằng gỗ được để lại cho dân xứ Troie, và đoàn tàu giả vờ quay trở về xứ.
Người dân Troie vui mừng nghĩ là đạo quân xâm lược vì thua trận đã rời khỏi đảo đất nước mình, nên hì hục kéo con ngựa vào thành và tổ chức ăn mừng, uống rượu đến say sưa.


Dân Troie kéo ngựa về thành
Đêm về , những chiến binh Hy Lạp trốn trong thân ngựa, leo xuống và mở cửa thành cho đồng đội ào vào, đốt cháy thành và đánh giết dân chúng. Đàn ông thì giết sạch, kể cả bé trai ; đàn bà và bé gái đem đi làm nô lệ.


Cảnh tượng tang thương của thành Troie khi đội quân Hy Lạp trốn trong con ngựa thoát ra ngoài và mở cửa thành cho đồng đội vào đánh giết
Cuộc chiến tranh thành Troie để giành lại người đẹp Helene là một câu chuyện không những về xung đột vũ trang giữa các quốc gia cổ đại mà còn là một bi kịch lớn của nhân loại. Vì dục vọng cá nhân, đam mê sắc đẹp, Pâris chiếm đoạt Helene, bất chấp đạo lý và danh dự giữa các quốc gia khiến cuộc chiến kéo dài 10 năm, gây chết chóc tang thương. Và dẫn đến sự sụp đổ của xứ Troie, một đất nước trù phú, văn minh bậc nhất vào thời đó. Hành động chiếm đoạt Helene của Pâris, kết thúc bằng mưu kế Con Ngựa thành Troie nói lên sự suy vong của một quốc gia, không sụp đổ vì kẻ thù bên ngoài mà vì những sai lầm khờ khạo của người lãnh đạo và dân chúng.
Việc hoàng gia Troie che chở Pâris cho thấy một nhà nước đã đặt chuyện tình yêu của vị hoàng tử lên trên công lý và đạo đức. Danh dự của vua Menelas và các liên minh Hy Lạp bị xúc phạm, thì chiến tranh là điều hiển nhiên.
Trong trận chiến, Pâris tử thương vì bị trúng tên. Menelas tìm được Hélène và đem vợ trở về.
Các nhà khảo cổ tìm thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ (Turkiye) thành phố Hisarlik còn những tàn tích được cho là thành Troie của thế kỷ thứ XII trước CN. Như vậy, câu chuyện Pâris, Hélène và Con ngựa thành Troie có thể là chuyện thật được người Hy Lạp truyền miệng với nhau và sau đó Homère ghi lại bằng thơ.


Thành phố Hisarlik ở Thổ Nhĩ Kỳ được cho là tàn tích của Troie.
Nhân những ngày cuối năm để bước sang năm mới Bính Ngọ, kính chúc quý thân hữu một mùa Xuân hạnh phúc, an khang.
Thanh Vân
11/2/2026, ngày 24 Tết Bính Ngọ
-----===<oOo>===-----

From: Nang Huynh <nlehuynh@
Sent: Wednesday, February 11, 2026 7:27 SA
Subject: Mỹ nhân ngư
Anh Đẵng ơi,
Mới nghĩ ra :đó là mỹ nhân ngư hay người cá Cảm ơn anh chúc anh mạnh khỏe Năng
Sent from my iPhone\
HCD: Cám ơn anh Năng. Chờ các bạn khác giải tiếp, còn có câu trả lời khác gần chính xác và gủi hơn.
-----=-----



From: Hoai Vu <hoai.hvu@
Date: 2/10/26 10:03 PM (GMT-08:00)
Subject: Lời giải câu đố
Kính thưa anh Đẳng,
Bài toán hình học này hay thật! Đáp số là BC = 6. Không biết có nhầm lẫn gì không đây, nhưng tính ra thì thấy mọi thứ đều ... đẹp
cos(alpha) = 3/4, cos(2 alpha) = 1/8 và cos(180 - 3 alpha) = 9/16
Kính anh,
Hoài
HCD: Cám ơn anh Hoài. Chờ các bạn khác giải tiếp bằng cách khác.

Tet con ngua noi chuyen ve ngua, nghi van ve tac gia mot bai tho, goc do vui và loi giai.doc

image002.jpg

image003.jpg

image004.jpg

image005.jpg

image006.jpg

image007.jpg

image008.jpg

image001.jpg

image009.jpg

image010.jpg

image011.jpg

Không có nhận xét nào: