Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Nói chuyện với rặng bần - Trần Hoàng Vy


Cây bần, trái bần, hoa bần - Đi dọc miền sông nước, những năm còn ở quê nhà, buổi trưa ghé một rặng bần ven sông, bỗng thèm lên bờ căng võng nằm đong đưa à ơi ví dầu cùng cây, cùng nước và cùng trời xanh mây trắng…Sông đang vào mùa lũ, một mùa “lũ đẹp” như bà con mình vẫn nói. Dòng nước ngầu đục, cuồn cuộn phù sa, ìn ìn đổ về phía hạ lưu, loang loáng cái nắng thu dịu dàng vàng nhẹ, như tấm vải xanh phớt hồng, điểm xuyến bằng những chùm kim tuyến, cứ long lanh, lóng lánh như ánh mắt cô hàng nước bên bến sông hiu quạnh, bỗng thoáng thấy thuyền ghe quay đầu ghé mũi để lên bờ.
<!>
Ô! Một bông hoa bần nở trắng tinh khôi, phơn phớt cái màu hồng pha tím, lẳng lặng âm thầm giữa tầng xanh lá. Nhìn kỹ, đã có rất nhiều hoa đã qua kỳ mãn khai, khoe cái đài hoa với trái bần non, tròn dẹt, nhọn hoắt một cái vòi nhỏ ở chính giữa trái, thì ra cũng đã đến kỳ trái bần chín dần và rụng xuống vì bây giờ đã là tháng tám âm lịch, đang trở lại cái chu kỳ của mùa trái ( từ tháng 4 – tháng 11 âm lịch). Chợt nhớ câu ca dao xưa: “ Muốn ăn mắm sặc bần chua/ Chờ mùa nước nổi ăn cho đã thèm”, mắt bỗng mơ màng một tô… cơm nguội! A, mà thứ mắm sặc bần chua này đâu dễ mà tìm? Nghe in hình chỉ phổ biến ở miệt Gò Công, nơi giáp biển, có nước mặn, nước lợ. Con cá sặc có nhiều, và trái bần được làm chua bởi những bàn tay nội trợ tài hoa của các cô con gái xứ Gò Công mà nổi danh vào tận…ca dao!


 Hoa bần
Bỗng lần theo đầu võng, tay nắm vào cái gốc bần xù xì, u nần theo năm tháng, nhớ láng máng: Hồi nẵm…Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi về miệt sông nước này. Đến bữa, dân quanh vùng dâng lên Nguyễn một món lạ, đó là bột trái bần được chế biến thành một thức ăn rất đặc biệt: Trái bần cà ra thành một chất bột, lóng lấy phần tinh bột, đem trộn cùng với muối, ớt vài thứ gia vị khác, bần trở thành một món ăn…cứu đói của những người dân hạ bạc sông nước.


Nguyễn Ánh ăn và khen ngon. Sau này khi lên ngôi vua, ông đã khen thưởng dân làng, ban tên cho bần là “Thủy liễu”. Một cái tên có vẻ kiêu sa đài các, ấy vậy mà rất ít người gọi. Bần vẫn là bần với nhiều cung bậc của cuộc sống. Trái bần cũng là món ăn, giúp nghĩa quân Trương Công Định một thời bám vào vùng sông nước đánh giặc Pháp, sống được nhờ trái bần dân dã này. Bần cũng để và chỉ gọi những người nghèo khổ, gối rách, áo ôm, và có thời kỳ để chỉ thứ bậc giai cấp: “Bần nông” và “bần cố nông” thật tội nghiệp!

Trưa, cái võng toòng teng, nghiêng nghiêng bên sóng lá. Tiếng gió nhẹ rung cây bần xạt xào. Có tiếng anh chàng bên quán nước vọng ra: “ Chiều chiều xuống bến ba lần/ Trông em không thấy, thấy bần xơ rơ!”. Lạ, đâu đã chiều? Anh chàng đang… tán bằng ca dao! Bần đang mùa xanh rì, khỏe khoắn, lấy đâu mà xơ rơ? Có tiếng khúc khích. Chắc là cô chủ quán, lại đẩy đưa bằng những câu huê tình có từ thời ông… cố nội: “ Lẻ đôi, em chịu lẻ đôi/ Hoa tàn em cũng đợi, bần trôi em cũng chờ!”. Lần này thì tiếng cây bần cười rồi. Cười khùng khục, và anh chàng tình si thì cố dò hỏi: “ Neo ghe vô dựa gốc bần/ Em thương anh nói vậy chớ biết đặng gần hay không?”. Tôi bỗng cảm thương cho anh chàng làm nghề thương hồ, lỡ trồng một gốc bần… trước quán ở ven sông!


Canh chua cá nấu với trái bần.
Ở cái xứ chung quanh tứ bề là kênh mương, sông rạch. Đất bồi phù sa lắng, người dân bám sông, bám rạch mà sống, thì bần cũng giăng thành hàng thành lũy, cùng với tràm đước, ô rô, cóc kèn, dừa nước mà chiếm lĩnh ven bờ. Được tính tình bần cũng dễ chịu. Nước ngọt, nước lợ, nước mặn gì bần cũng chịu được, sống khỏe và lớn khỏe, chỉ có điều cái tên “bần” nghe sao cơ hàn, cùng cực. Chẳng thế mà người ta đố nhau về cây bần là: “ Giống chi toàn là giống đực/ Thiếu tứ bề cam cực chung thân!” ( Đố là cây gì?). Hay xót thương mà than thở: “ Cây bần kia hỡi cây bần/ Lá xanh bông trắng lại gần không thơm”! 

Những năm gần đây, những cây bên bờ sông như lộc vừng, si, sanh, sung… bỗng dưng có giá. Người ta “đào tận gốc, trốc tận rễ” săn lùng ráo riết, đem về cho tạo dáng và bán cho các đại gia ở nhà lầu, biệt thự mua về làm cây kiểng trong vườn, tạo mảng xanh cho những căn nhà vốn nhiều bê tông, sắt thép. Quả là một bước từ… sình lầy, sông nước bước vào sân vườn, công viên và biệt thự. Tội nghiệp, chỉ có anh bần. Cho dù cổ thụ, hình dáng uy nghiêm, cổ quái thiên hạ vẫn tránh xa, chẳng ai dại mà dây với… bần! Gọi tên thôi đã thấy “mạt”, thấy “nghèo”. Có lẽ vì vậy mà bần cứ kéo dài thành hàng, thành dãy làm bạn với sông nước, ghe thuyền và những ngư dân, thương hồ… hay như những người lỡ vận: “ Cảm thương ô dước, bời lời/ Cha sao mẹ sến dựa nơi gốc bần”. Và những cô gái miền sông nước đôi khi tủi duyên tủi phận cũng ví von mình:

“Thân em như trái bần trôi/ Sóng dập gió dồi biết tấp vào đâu?”. Thế nhưng cũng chính nhờ vào cây bần, mà lứa đôi có dịp gần gũi quen biết. Đến nỗi, khi cây bần bị đốn, chàng trai đã “nổi cộc” mà chửi rằng: “ Mồ cha đứa đốn cây bần/ Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm”.

Rồi cũng có những chàng trai gan lì, quyết bảo vệ tình yêu lứa đôi của mình:
“Phụ mẫu đánh anh quặt quà quặt quại/ Đem anh treo tại nhánh bần/ Rủi đứt dây mà rớt xuống/ Anh cũng lần mò kiếm em…”. Quả là một tình yêu thủy chung son sắc nơi miệt sông nước này.

Bần dù sao cũng chỉ là bần! Giống như cái anh quanh năm suốt tháng, trần sì cái quần xà lỏn lặn hụp bên sông bằng nghề chài lưới, đơm đó, kéo đăng… nghèo, và nhiều khi dưới mắt người khác, còn được coi là… vô tích sự! Sinh tiền, Tri huyện Trà Vang (Trà Vinh – Vĩnh Long) là Bùi Hữu Nghĩa, tức Thủ khoa Nghĩa (1807–1872) vốn là vị quan thanh liêm chánh trực, yêu dân nghèo, ghét bọn vô học, cường hào cậy thế ức hiếp dân, đã mượn hình ảnh cây bần để vịnh mỉa mai rằng:

“Cao lớn làm chi bần hởi bần?
Uổng sanh trong thế đứng chần ngần!
Lá xanh tợ liễu, nhành thưa thớt,
Bông bạc dường mai, nhuỵ sượng sần.
Quyến luyến bầy cò theo sập sận,
Chiêu quy đoàn khỉ tới dần lân…” (Vịnh Cây bần)

Thì rõ là…oan và tội nghiệp cho bần. Bởi lẽ bần sinh ra vốn đã… bần! Làm bạn với dân chài hạ bạc, ghe khách thương hồ cùng chim muông và có khi là cả…khỉ? Nhưng tính hiền hòa, chịu thương chịu khó, nên dân yêu dân mến mà chia sẻ nỗi niềm thân phận, kể cả những kỷ niệm riêng tư, vì vậy mà hình ảnh bần mới được đưa nhiều vào ca dao như đã kể sơ sơ ở trên. Nói dại, các cây anh, cây chị ở vùng xôn xao sóng nước này, được người đời ưa chuộng, rước hết về sân vườn làm cây kiểng. Còn lại có mình bần, nếu không xếp hàng mà đứng lên, lấy ai che chắn sóng gió? Cái nguy cơ lũ lụt, nước tràn là khó tránh khỏi. Lúc đó thì thôi đừng có than khóc mà kêu “Bần ơi! Bần hỡi!…” nữa nhé?

Gió đã đổi hướng, nước dần dần rút, những bờ bãi ven sông ánh lên cái màu phù sa mịn màng, loáng nước. Những gốc bần, những rặng bần vẫn bám sâu rễ vào lòng đất, xanh dân dã đến thật thà. Một chiếc ghe đã cập vào bến, mũi gác vào gốc bần. Người ta đang chuyển tôm cá lên bến, vào bờ. Ngước mắt nhìn rặng bần, bắt gặp gió lay động và nụ cười vu vơ, xạt xào như hơi thở…

Trần Hoàng Vy
*****************************
Gò Công là quê nội của tôi. Đất Gò Công thích hợp với cây bần và cây dừa nước; rau đắng mọc như cỏ dưới ruộng nước và hai bên bờ đê, trong sân nhà nào dường như cũng có trồng vài cây so đủa.
Ở Gò Công cây bần mọc khắp nơi chỗ nào có nước là chỗ đó có cây bần mọc lên dầy đặc, vậy mà tôi chưa bao giờ được ăn canh chua cá nấu với trái bần. Hồi còn ở VN, tôi chỉ được ăn canh chua tép nấu với bông so đũa mà thôi.
Gò Công có mắm tôm chà ngon nổi tiếng và lạp xưởng tươi tròn quay, mập ú, rất là thơm ngon! Đã lâu lắm rồi tôi không còn dịp nếm lại hương vị ấy nữa.
Chả Quế

Không có nhận xét nào: