Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Không mua Greenland, nhưng Mỹ lại có được thứ quan trọng hơn - Lion Nguyên



Mỹ cuối cùng vẫn không mua Greenland. Nếu chỉ nhìn dưới góc độ một thương vụ bất động sản, đây dường như là một cuộc mua bán không đi đến đâu: chủ quyền đối với Greenland vẫn thuộc Vương quốc Đan Mạch, Greenland vẫn duy trì quyền tự trị cao và quyền tự quyết định địa vị của mình trong tương lai; quốc kỳ Mỹ vì thế cũng không thể phủ kín hòn đảo lớn nhất thế giới này. Thành phố Nuuk – thủ đô của Greenland. (Ảnh: Shutterstock) Nhưng chiến lược quốc tế chưa bao giờ đơn thuần là một giao dịch bất động sản. Điều thực sự đáng đặt câu hỏi là: Tại sao Mỹ cần Greenland? Nếu mục tiêu chủ yếu không phải là sở hữu thêm hơn 2 triệu km² lãnh thổ, mà là an ninh Bắc Cực, cảnh báo tên lửa, triển khai quân sự và ngăn Nga cùng Trung Quốc giành được chỗ đứng chiến lược, thì thỏa thuận vừa đạt được lại có thể né qua vấn đề khó khăn nhất là quyền sở hữu, đồng thời trực tiếp giải quyết điều Mỹ quan tâm nhất.
<!>
Theo những nội dung được công bố hiện nay, Mỹ có thể mở rộng lâu dài sự hiện diện quân sự tại Greenland, đồng thời có các quyền tiếp cận, xây dựng căn cứ và sử dụng không phận. Các quốc gia không thuộc NATO sẽ không được xây dựng căn cứ quân sự tại đây, trong khi những khoản đầu tư nhạy cảm của các đối thủ của Mỹ cũng có thể bị hạn chế. Thỏa thuận không có thời hạn chấm dứt. Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio cho rằng thỏa thuận này giải quyết các quan ngại về an ninh quốc gia của Washington. Tuy nhiên, Mỹ cuối cùng sẽ bổ sung bao nhiêu căn cứ và triển khai bao nhiêu binh sĩ vẫn chưa được xác định.

Điều này tạo ra một kết quả khá thú vị: Đan Mạch giữ chủ quyền, còn Mỹ có được những bảo đảm về an ninh mà Washington quan tâm.
Chủ quyền và quyền kiểm soát vốn không phải là một. Một vùng đất thuộc về ai là vấn đề pháp lý; ai có thể triển khai lực lượng quân sự tại đó, ai có quyền bay qua, ai có thể xây dựng căn cứ và ai có thể ngăn đối thủ tiềm tàng xâm nhập lại là vấn đề chiến lược.
Nếu Mỹ có thể lâu dài bảo đảm rằng Nga, Trung Quốc và các đối thủ khác không thể thiết lập hiện diện quân sự tại Greenland, trong khi Washington vẫn có thể tăng cường triển khai khi cần thiết, thì xét từ góc độ phòng thủ Bắc Mỹ, việc tên ai được ghi trên “giấy chứng nhận quyền sở hữu” lại trở thành vấn đề thứ yếu.
Quan trọng hơn cả là vị trí địa lý

Nhìn trên bản đồ sẽ thấy Greenland không phải là một vùng đất Bắc Cực bình thường. Hòn đảo nằm giữa Bắc Mỹ và châu Âu, đồng thời nằm gần tuyến đường Bắc Cực từ hướng Nga tiến vào Bắc Mỹ.
Căn cứ Vũ trụ Pituffik của Mỹ hiện là một mắt xích quan trọng trong hệ thống cảnh báo tên lửa, giám sát không gian và phòng thủ Bắc Mỹ. Mỹ đã duy trì các hoạt động an ninh tại Greenland từ Thế chiến II; thỏa thuận quốc phòng Mỹ – Đan Mạch năm 1951 đã đặt nền tảng pháp lý cho sự hiện diện quân sự của Mỹ tại đây. Vì vậy, thỏa thuận mới không phải là lần đầu tiên Mỹ hiện diện tại Greenland, mà là bước mở rộng các cơ chế hiện có theo hướng rộng hơn và lâu dài hơn.

Do đó, điều đáng chú ý thực sự trong thỏa thuận này không phải là “Mỹ cuối cùng đã có được Greenland”, mà là một câu khác:
Mỹ không có được Greenland, nhưng có thể đã có được phần có giá trị chiến lược nhất của Greenland đối với Mỹ.
Điều này thậm chí có thể có lợi hơn việc mua đứt hòn đảo.
Mua lãnh thổ đồng nghĩa với điều gì? Mỹ phải đàm phán về giá cả, xử lý ý nguyện chính trị của người dân Greenland, đối mặt với các vấn đề pháp lý trong nội bộ Đan Mạch, đồng thời phải gánh trách nhiệm quản lý, xây dựng cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công.
Nếu Mỹ thực sự tiếp nhận một vùng lãnh thổ có khoảng 56.000 dân, diện tích khổng lồ và môi trường tự nhiên khắc nghiệt, Washington sẽ có được lợi ích chiến lược nhưng đồng thời cũng phải gánh thêm hàng loạt trách nhiệm không mang tính chiến lược.

Cấu trúc hiện tại lại đơn giản hơn nhiều.
Quyền quản lý hành chính vẫn thuộc về bạn, các vấn đề xã hội vẫn thuộc về bạn, người dân vẫn là người dân của bạn; còn điều Mỹ quan tâm là an ninh Bắc Mỹ. Khi cần căn cứ, Mỹ có thể tăng cường hiện diện; khi cần sử dụng không phận, Mỹ có thể sử dụng; còn nếu các đối thủ muốn đưa lực lượng quân sự hoặc các khoản đầu tư nhạy cảm vào Greenland thì sẽ phải đối mặt với những hạn chế mang tính thể chế.
Điều này giống như không mua cả tòa nhà nhưng có được quyền sử dụng lâu dài tầng mà mình cần, đồng thời hợp đồng còn quy định đối thủ không được phép chuyển vào.

Tất nhiên, hiện vẫn chưa thể khẳng định quá mức về thỏa thuận này. Toàn văn vẫn chưa được công bố. “Quyền kiểm soát vĩnh viễn đối với an ninh và các nhu cầu khác” mà ông Trump đề cập cuối cùng sẽ bao phủ đến mức nào về mặt pháp lý vẫn cần chờ văn bản chính thức. Thỏa thuận cũng còn phải trải qua các thủ tục phê chuẩn tại Đan Mạch và Greenland. Đặc biệt, cách định nghĩa “đầu tư nhạy cảm”, cách thức vận hành quyền phủ quyết của Mỹ và việc thỏa thuận có tiếp tục được duy trì nếu Greenland độc lập trong tương lai hay không đều sẽ ảnh hưởng đến giá trị thực tế của nó.

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa trên khuôn khổ đã được công bố, cấu trúc của thỏa thuận khá rõ ràng.
Điều quan trọng nhất đối với Đan Mạch là: Greenland không bị lấy đi.
Điều quan trọng nhất đối với Greenland là: quyền tự trị và tự quyết không bị hủy bỏ.
Điều quan trọng nhất đối với Mỹ là: nhu cầu an ninh ở hướng Bắc Cực được thể chế hóa trong dài hạn, đồng thời không gian để các đối thủ tiến vào Greenland bị hạn chế.
3 bên không hoàn toàn có cùng nhu cầu, và chính vì vậy mới có khả năng đạt được một thỏa thuận mà mỗi bên đều nhận được điều mình quan tâm.

Đây cũng là một thực tế trong chính trị quốc tế rất dễ bị che khuất bởi câu hỏi “lãnh thổ thuộc về ai?”. Màu sắc trên bản đồ tất nhiên rất quan trọng, nhưng đối với một cường quốc quân sự, đôi khi điều quan trọng hơn màu sắc trên bản đồ là căn cứ nằm ở đâu, radar đặt ở đâu, máy bay có thể bay qua hay không, tàu chiến có thể đi vào hay không và đối thủ có thể tiến vào hay không.
Nếu văn bản chính thức cuối cùng xác nhận những điều khoản chủ yếu đang được công bố, Mỹ không nhất thiết phải tô Greenland thành màu của nước Mỹ trên bản đồ.
Bởi trong vấn đề an ninh quan trọng nhất, Washington có thể đã đạt được điều thực sự mình cần.
Tiểu Nhàn/ Epoch Times

"Thật tồi tệ": Thuế quan, chi phí nhiên liệu tăng vọt và lãi suất cao hơn đang gây áp lực nặng nề lên các công ty Mỹ

Chủ nhật, 20/9/2026 - Hugh Son, Leslie Josephs, Michael Wayland
- Thuế quan đang làm tăng chi phí nguyên vật liệu và hàng hóa; giá nhiên liệu cao hơn làm tăng chi phí sản xuất và vận chuyển; còn lãi suất cao hơn khiến việc huy động vốn cho hàng tồn kho trở nên tốn kém hơn.
- Các nhà cung cấp linh kiện ô tô, công ty hóa chất và các doanh nghiệp công nghiệp khác đang chứng kiến ​​biên lợi nhuận bị thu hẹp khi họ chật vật gánh chịu các chi phí gia tăng.
- Những công ty có thể chuyển phần chi phí tăng thêm sang cho khách hàng sẽ có vị thế tốt hơn, trong khi các doanh nghiệp phục vụ người tiêu dùng nhạy cảm về giá có nguy cơ mất đơn hàng nếu tăng giá quá nhiều.
 Các tập đoàn lớn với nguồn tiền mặt dồi dào và các khoản nợ dài hạn ít chịu tác động tức thì từ lãi suất cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ hơn và có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao.

Hệ quả là các chuyến bay ít hơn và đắt đỏ hơn, các khoản phụ phí vận chuyển hàng hóa, các nhà sản xuất phải tích trữ hàng tồn kho, và thậm chí là nguy cơ phá sản.
Đối với các công ty Mỹ dù lớn hay nhỏ, sự kết hợp giữa thuế quan (áp đặt theo các chính sách thương mại của Tổng thống Donald Trump), giá nhiên liệu tăng vọt (do cuộc chiến tại Iran) và nay là lãi suất tăng cao đang buộc các nhà điều hành phải đưa ra những lựa chọn khó khăn.

Ông Allen Eden đang phải duy trì lượng hàng tồn kho lớn hơn mức bình thường cho doanh nghiệp 25 nhân sự của mình – công ty Original Saw Co. tại Britt, Iowa (chuyên sản xuất máy cưa công nghiệp dùng cho gia công gỗ và kim loại) – trong bối cảnh ông phải đối mặt với giá nhôm, thép và các linh kiện thiết yếu tăng vọt.
Một ví dụ điển hình: Giá của một "chiếc giá đỡ nhỏ" dùng cho động cơ máy cưa đã tăng hơn gấp đôi trong mùa hè này, vọt từ 42 USD lên 87 USD.
"Thật tồi tệ," ông Eden, 56 tuổi, chia sẻ với CNBC. "Tôi chỉ đang cố gắng tích trữ thêm hàng vì không biết liệu sau này chúng tôi có còn mua được chúng nữa hay không."

Đây là áp lực từ ba phía đối với các doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất, vận chuyển và bán lẻ: Thuế quan khiến nguyên liệu thô và hàng hóa trở nên đắt đỏ hơn; giá nhiên liệu cao hơn đẩy chi phí sản xuất và vận chuyển lên; và lãi suất tăng cao làm tăng chi phí tài chính để duy trì hàng tồn kho cũng như trang thiết bị cần thiết cho hoạt động kinh doanh. Mặc dù hiếm có lĩnh vực nào hoàn toàn miễn nhiễm với những áp lực này, các doanh nghiệp sản xuất quy mô vừa đang bị kẹt trong thế "gọng kìm" đặc biệt ngặt nghèo. Chi phí thép và nhiên liệu leo ​​thang buộc họ phải chuyển một phần gánh nặng chi phí này sang khách hàng thông qua việc tăng giá bán, qua đó góp phần duy trì tình trạng lạm phát dai dẳng trong vài năm gần đây.

Tuy nhiên, để kiềm chế lạm phát, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã tăng lãi suất lần đầu tiên sau ba năm và phát tín hiệu về khả năng tiếp tục tăng lãi suất trong năm nay. Động thái này khiến chi phí tài trợ hàng tồn kho và vay vốn để mở rộng kinh doanh của doanh nghiệp trở nên đắt đỏ hơn; đồng thời, biên lợi nhuận của họ cũng bị thu hẹp do chi phí đầu vào tăng cao và giá dầu diesel – loại nhiên liệu thiết yếu cho hoạt động vận tải đường bộ – chạm mức kỷ lục.
Chủ doanh nghiệp Eden cho biết việc tăng giá các sản phẩm cưa của công ty – vốn được bán cho cả các nhà bán lẻ khổng lồ như Home Depot lẫn các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ – dường như là điều khó tránh khỏi.

Tác động tiêu cực này không chia đều cho mọi doanh nghiệp. Theo ông Dubravko Lakos-Bujas, Giám đốc chiến lược toàn cầu tại JPMorgan Chase, trong một báo cáo ngày 14 tháng 9, các công ty quy mô nhỏ thường phụ thuộc vào các khoản vay ngắn hạn; điều này đồng nghĩa với việc các đợt tăng lãi suất của Fed sẽ tác động trực tiếp và mạnh mẽ hơn đến chi phí của họ.
Tuy nhiên, bất kể quy mô lớn hay nhỏ, các lĩnh vực thâm dụng vốn – chẳng hạn như sản xuất và cung ứng thiết bị, logistics (bao gồm các đội xe tải) và bất động sản thương mại – đều chịu ảnh hưởng nặng nề hơn trong môi trường lãi suất tăng, theo nhận định của ông Lakos-Bujas.

Ông Gregory Daco, chuyên gia kinh tế trưởng tại EY-Parthenon (nhánh tư vấn toàn cầu của Ernst & Young), nhận định: "Sự kết hợp giữa lãi suất tăng và giá nhiên liệu leo ​​thang khiến những lĩnh vực chịu tác động mạnh từ cả hai yếu tố này trở thành đối tượng đầu tiên hứng chịu rủi ro".
Ông nói thêm: "Bất kỳ loại hình sản xuất nào cũng sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề và trực tiếp từ việc giá nhiên liệu tăng cao".
Chi phí nhiên liệu và hàng hóa cơ bản tăng cao đã gây áp lực lớn lên cả các nhà sản xuất vật liệu lẫn các nhà bán lẻ mà họ cung ứng.

Vào tháng 5, ông Mark Costa, Giám đốc điều hành (CEO) của tập đoàn công nghiệp khổng lồ Eastman Chemical, cho biết tác động kép từ lãi suất và lạm phát đang dồn ngành công nghiệp của ông vào thế bí. Eastman chuyên sản xuất nhựa, phụ gia và các loại vật liệu khác được sử dụng trong nhiều sản phẩm đa dạng, từ thiết bị y tế, thức ăn chăn nuôi cho đến kính chắn gió ô tô.
Ông Costa chia sẻ: "Mọi doanh nghiệp đều rơi vào thế đường cùng và không còn dư địa nào để tự gánh vác những khoản chi phí gia tăng này. Tất cả đều đang nhanh chóng tăng giá bán với tốc độ chưa từng thấy trong suốt 20 năm qua". Trong lĩnh vực bán lẻ, áp lực bất ngờ từ chi phí năng lượng và nguyên vật liệu sẽ "triệt tiêu hoàn toàn" lợi ích từ khoản hoàn thuế quan trị giá 730 triệu USD, theo lời Giám đốc Tài chính (CFO) của Home Depot, ông Richard McPhail, phát biểu vào tháng trước.
"Hiện tại có quá nhiều yếu tố bất định... Hãy nghĩ đến lạm phát, lãi suất và giá nhiên liệu," ông McPhail chia sẻ tại một hội nghị vào tuần trước.

Những lỗ hổng trong chuỗi cung ứng
Các nhà sản xuất trong chuỗi cung ứng ô tô nội địa là những đơn vị chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.
Lucerne International, một công ty tư nhân sản xuất phụ tùng ô tô có trụ sở tại vùng ngoại ô Detroit, đã ngừng hoạt động sản xuất tại Mỹ và hủy bỏ kế hoạch xây dựng nhà máy rèn nhôm trị giá 50 triệu USD ở Michigan vào năm ngoái.
"Việc áp dụng đợt thuế quan thứ hai dưới thời ông Trump thực sự đã tạo ra những lỗ hổng trong chuỗi cung ứng toàn cầu và làm tăng đáng kể chi phí của chúng tôi," CEO Mary Buchzeiger của Lucerne cho biết. Bà cũng đề cập đến chi phí nguyên liệu thô (bao gồm nhôm) và linh kiện thành phẩm tăng cao.

Bà Buchzeiger – người vẫn duy trì hoạt động sản xuất ở nước ngoài – cho biết bà đã chuyển hướng hoạt động tại Mỹ sang các mảng kho bãi, phân phối và cung cấp giải pháp giảm thiểu thuế quan cho các công ty khác, những lĩnh vực mang lại "biên lợi nhuận tốt hơn nhiều".
"Không còn nghi ngờ gì nữa, các nhà cung cấp đang chịu áp lực về biên lợi nhuận," Paul McCarthy, CEO của MEMA (hiệp hội thương mại đại diện cho các nhà cung cấp ngành ô tô), nhận định. "Một phần chi phí chúng tôi cố gắng tự gánh chịu... nhưng cũng có phần buộc phải chuyển sang cho khách hàng."

Theo công ty tư vấn Berylls by AlixPartners, mức tăng trưởng – được đo bằng lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT) – của 100 nhà cung cấp ô tô hàng đầu đã giảm xuống còn 4,2% vào năm ngoái, so với mức hơn 6% của năm 2021. Đối với 10 nhà sản xuất ô tô hàng đầu, con số này là 5.2%, giảm từ mức gần 8% vào năm 2022.
Không phải công ty ô tô nào cũng xoay xở được với các chi phí phát sinh này. Grupo Antolin – nhà sản xuất phụ tùng ô tô của Tây Ban Nha chuyên cung cấp linh kiện cho các hãng xe như Ford, GM, Volkswagen và Stellantis – đã nộp đơn xin bảo hộ phá sản theo Chương 15 tại Mỹ vào tháng 7. Công ty viện dẫn các lý do như thuế quan, chi phí nguyên liệu và năng lượng tăng cao, cùng tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng là nguyên nhân dẫn đến việc tái cơ cấu.

Sự phân hóa trong giới doanh nghiệp Mỹ
Ở vị thế tốt hơn là các "gã khổng lồ" trong giới doanh nghiệp, chẳng hạn như các công ty công nghệ và tài chính thuộc chỉ số S&P 500. Những công ty này thường có nguồn tiền mặt dồi dào và sử dụng các khoản vay dài hạn, giúp họ phần nào tránh được tác động tiêu cực từ việc lãi suất tăng cao.

Hầu hết các công ty quy mô lớn đều có thể tiếp tục phát triển mạnh mẽ cho đến khi chi phí vay vốn tăng cao hơn nữa. Theo Lakos-Bujas từ JPMorgan – người đã dẫn chứng dữ liệu trong suốt 80 năm qua – những tác động tiêu cực sẽ ập đến khi lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm mốc 6%, tăng từ mức khoảng 5% hiện tại.
Chi phí vay vốn dự kiến ​​sẽ duy trì ở mức cao trong thời gian dài. Tình trạng lạm phát dai dẳng – yếu tố từng buộc ông Warsh phải tăng lãi suất tham chiếu của Fed bất chấp ý muốn của ông Trump – cùng với nhu cầu vay vốn lớn từ chính phủ Mỹ, đang tạo áp lực đẩy lãi suất lên cao.

Các doanh nghiệp Mỹ đang phải vật lộn với những cú sốc này theo nhiều cách khác nhau. Sự khác biệt nằm ở một câu hỏi cốt lõi: Ai là bên nắm quyền định giá?
Một số ngành nhận thấy họ có thể dễ dàng chuyển phần chi phí gia tăng sang người tiêu dùng, trong khi những ngành khác lại rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan: nếu tăng giá quá mạnh, họ có nguy cơ làm triệt tiêu nhu cầu.

Tuần trước, các lãnh đạo hãng hàng không đã tự tin đề cập đến việc tăng giá vé trong bối cảnh khách hàng vẫn liên tục đặt vé – đặc biệt là cho các chuyến bay quốc tế – qua đó cho phép họ chuyển gánh nặng chi phí nhiên liệu tăng cao sang hành khách. Các hãng hàng không đã thu hẹp kế hoạch tăng trưởng và cắt giảm những chuyến bay kém hiệu quả, ngay cả sau sự sụp đổ của Spirit Airlines trong năm nay.
Số lượng chuyến bay giảm có thể đồng nghĩa với giá vé máy bay đắt đỏ hơn; thực tế, giá vé trong tháng 8 đã tăng hơn 23% so với cùng kỳ năm ngoái theo số liệu lạm phát mới nhất. Tuy nhiên, ngay cả nhu cầu mạnh mẽ cũng có giới hạn của nó.
"Người tiêu dùng đã thể hiện sức chống chịu cực kỳ, cực kỳ bền bỉ," ông Mike Leskinen, Giám đốc Tài chính của United Airlines, phát biểu hôm thứ Tư tại hội nghị của Morgan Stanley ở Laguna Beach, California.
"Nhưng có một số đường bay biên (ít sinh lời) không còn hợp lý trong bối cảnh giá nhiên liệu cao. Vì vậy, chúng tôi cắt bỏ chúng," ông Leskinen nói. "Các bạn sẽ thấy chúng tôi tiếp tục... hành động theo cách đó."

Phần lớn các doanh nghiệp Mỹ vẫn duy trì được sự vững vàng bất chấp chi phí nhiên liệu và chi phí tài chính gia tăng. Biên lợi nhuận của các công ty lớn đang dao động gần mức cao kỷ lục, được thúc đẩy bởi sự gia tăng mạnh mẽ về năng suất, chi phí nhân công được kiểm soát tốt và làn sóng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo đà tăng trưởng.
Tuy nhiên, một rủi ro từ các biện pháp của ông Warsh là việc tăng lãi suất không giải quyết trực tiếp các nguyên nhân gốc rễ của lạm phát: cuộc xung đột liên quan đến Iran, các mức thuế quan của chính quyền Trump và sự bùng nổ của AI – yếu tố đã đẩy giá của mọi thứ cần thiết để xây dựng và vận hành các trung tâm dữ liệu lên cao, từ điện năng, chip nhớ, đồng cho đến đất đai. Ông Daco từ EY-Parthenon nhận định rằng việc tăng lãi suất để "hãm đà" nền kinh tế Mỹ có thể khiến nó tăng trưởng chậm lại quá mức hoặc đẩy thị trường chứng khoán vào đà lao dốc.
"Nền kinh tế có sức chống chịu tốt, nhưng lại đang đối mặt với những rủi ro ngày càng gia tăng ở một số lĩnh vực," ông nói. "Một cú sốc có thể ập đến nhanh hơn tất cả chúng ta tưởng."
‘Its awful’: How tariffs, soaring fuel and higher rates are squeezing businesses

Ông Kashkari thuộc Fed cho biết lạm phát vẫn còn quá cao trên toàn bộ nền kinh tế Mỹ

Chủ nhật, 20/09/2026
Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tại Minneapolis, ông Neel Kashkari, phát biểu hôm Chủ nhật rằng lạm phát đang ở mức quá cao trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế Mỹ, chứ không chỉ do giá dầu tăng.
"Ngay cả khi chúng ta loại bỏ yếu tố năng lượng — vốn rất biến động — và thực phẩm (dù chúng đóng vai trò quan trọng), thì xét về xu hướng của nền kinh tế, lạm phát vẫn đang quá cao," ông Kashkari chia sẻ trong chương trình "Sunday Morning Futures" của đài Fox News.

Ông Kashkari ủng hộ quyết định nhất trí vào tuần trước về việc tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, đưa lãi suất lên mức 3,75% - 4,00%. Ông từng là một trong ba quan chức có quan điểm khác biệt tại cuộc họp trước đó của Fed khi ủng hộ việc tăng lãi suất, trong khi đa số thành viên Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) lại chọn giữ nguyên lãi suất.
Giá dầu thô đã tăng vọt sau khi xung đột leo thang, với việc Mỹ và Iran tấn công và đánh chìm một số tàu chở dầu tại eo biển Hormuz, cùng với việc Ả Rập Xê-út đóng cửa đường ống dẫn dầu huyết mạch Đông-Tây do các cuộc tấn công từ trên không trong bối cảnh cuộc chiến tại Trung Đông đang lan rộng.

Ông cho biết nhiệm vụ của Fed là đưa lạm phát trở lại mức mục tiêu 2%, và cơ quan này không thể dùng công cụ lãi suất để mở lại eo biển Hormuz hay kéo giá dầu xuống.
"Tình trạng lạm phát mà người dân Mỹ cảm nhận hàng ngày không chỉ giới hạn ở giá dầu. Nó hiện diện trong mọi khía cạnh của nền kinh tế, chẳng hạn như trên diện rộng ở lĩnh vực dịch vụ. Vì vậy, chúng tôi có các công cụ để kéo giảm mức lạm phát đó," ông Kashkari nói.
"Hy vọng rằng chúng tôi sẽ nhận được sự hỗ trợ từ các bộ phận khác của chính phủ hoặc các thành phần khác của nền kinh tế thực."

Những lo ngại về lạm phát của ông Kashkari phần lớn tương đồng với quan điểm của Chủ tịch Fed Kevin Warsh sau cuộc họp ấn định lãi suất gần đây nhất vào thứ Tư. Ông Warsh ước tính rằng lạm phát — đo bằng chỉ số mà Fed sử dụng để thiết lập mục tiêu 2% — có khả năng ở mức khoảng 3,6% trong tháng 8, mặc dù con số chính thức sẽ chỉ được công bố vào cuối tháng này. “Quá nhiều nhóm mặt hàng vẫn ghi nhận mức tăng trên 3%, xét cả trên cơ sở 6 tháng và 12 tháng,” ông Warsh phát biểu tại cuộc họp báo sau cuộc họp.
Fed's Kashkari reportedly says inflation still too high across the U.S. economy

Không có nhận xét nào: