Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

Trường xưa trong nỗi nhớ. - Tống Văn Thụy


Mùa thu miền Trung ngắn như giấc ngủ trưa, hình như chỉ là chớp mắt giữa cái hè nóng hầm hập và những cơn mưa dầm cách quãng suốt tháng 10 và 11. Thu, trong trí nhớ nhạt nhòa là mùa đi học, ngày tựu trường, thấp thoáng hình ảnh chú bé An Di còn lưu luyến hè muộn, thầy, bạn năm học cũ trong cuốn sách ngày xưa Tâm hồn cao thượng gần gũi với thế hệ chúng tôi qua bản dịch Hà Mai Anh. Thu, nhớ trường xưa. Ngôi trường đầu đời là trường tiểu học Việt Hương nhìn ra sân đá bóng, tòa nhà l’Accueil (nhà Đón tiếp), sau lưng là cánh đồng gạo de An Cựu, Huế. Theo chân anh chị, các bạn lối xóm, tôi đến trường, lòng nhẹ như mây. 
<!>
Cuốn vở mới có hình ông đạp xích lô, cây bút chì, cục tẩy, sách Tập đọc và chiếc cặp chị để lại. Ngày tựu trường không cờ xí, trống kèn, quan chức rình rang. Cô hiệu trưởng là ma soeur dòng Phú Xuân, nhỏ nhẹ chúc các em một năm học vui tươi. Trường do các sœur Công giáo trông nom, chương trình học như các trường tiểu học công lập trên khắp miền Nam. Tôi học trường Việt Hương đến hết lớp Nhì (lớp 4), nay vẫn còn nhớ mấy câu ca dao…

Văn chương phú lục chẳng hay,
Trở về làng cũ, học cày cho xong!
Sớm ngày vác cuốc thăm đồng,
Hết nước thì lấy gàu sòng tát lên.
Hết mạ ta lại quảy thêm,
Hết lúa ta lại mang tiền đi đong.
Nữa mai lúa chín đầy đồng,
Gặt về, đập, sảy, bõ công cấy cày.

Trường Việt Hương ngày ấy có một nghĩa cử đẹp mà lũ nhóc chúng tôi không bao giờ quên. Giờ ra chơi được uống sữa…viện trợ nên bên chiếc cặp của tôi thường treo tòn ten cái ca nhôm.
Lên lớp Nhất (lớp 5 bây giờ), tôi chuyển sang trường Thiên Hựu, vừa mới mở lớp Septième spécial, dạy tiếng Pháp, để chuẩn bị cho các học sinh muốn theo học chương trình Pháp.Tôi chỉ học trường Thiên Hựu đúng một niên khóa thì vào trường Dòng (Đệ tử viện Huế), bên kia đường Nguyễn Huệ. Còn nhớ những người bạn lớp Septième spécial năm xưa: anh em Trần Tiễn Khanh, Trần Tiễn Bửu, La Đức Hồng, Lê Đức Tâm, Lê Quang Thiều, Võ Di Sơn, Nguyễn Văn Việt Sơn…

Với những gia đình Công giáo không mấy khá giả, gửi một đứa con vào nhà dòng là nhẹ đi một gánh nặng kinh tế, trong ước nguyện đứa trẻ nhận được một nền giáo dục tốt. Tôi tu tập ở trường dòng hai năm thì quay lại trường Thiên Hựu, lớp Cinquième, chương trình Pháp (lớp đệ ngũ).

Hai năm nội trú trường dòng khiến tôi lạ lẫm. Đầu tiên là nội quy sinh hoạt. Thời khóa biểu một ngày: thức dậy lúc 5:00, Sau 15’ đánh răng, rửa mặt, tất cả tập trung ở sân bóng, tập thể dục, chạy chân trần đúng 3 vòng đường piste chung quanh sân bóng. Men theo đường piste có đoạn là hàng dương liễu trái khô rụng đầy lối đi. Từ 6:00 đến 7:30, lên phòng học ôn bài. 7:30 đến 8:00, điểm tâm. Giờ học chính thức bắt đầu từ 8:00 đến 11:30. Ăn trưa. Nghỉ trưa. Chiều, vào lớp lúc 14:00, kết thúc lúc 17:00. Từ 17:15 đến 18:15, chơi thể thao hay điền kinh (bắt buộc). Ăn tối lúc 19:00. 20:00, tự ôn bài cũ, chuẩn bị bài mới. 21:00, di ngủ. Một ngày trong tu viện.

Về sau, đưa khách du lịch đi thăm chùa Thiên Mụ hay Từ Hiếu, nhìn thời khóa biểu quý thầy niêm yết bên hông chùa: thức dậy lúc 3:00 sáng, sau đó công phu, kinh kệ, thiền… Dưới mái chùa hay nhà dòng, bài học vỡ lòng vẫn là sự tu dưỡng.

Trường Dòng mà tôi theo học hai năm gồm lớp Sixième A rồi B. Vào Sixième A, học tiếng Pháp, tiếng Anh, lên lớp B, học thêm tiếng La Tinh, môn học mà chúng tôi cày cục vất vả nhất. Dù A hay B, vẫn là lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ) nên khi chuyển sang trường Thiên Hựu, tôi chậm hơn một năm so với bạn bè lớp cũ.

Tôi nhớ trường Thiên Hựu với những cây gạo cổ thụ, thân to, vỏ sù sì, mấy người ôm không xuể. Lá xanh quanh năm, mùa xuân dưới bóng cây, rụng đầy những trái gạo, lớn hơn mấy viên bi thủy tinh kè kè trong túi. Cây gạo trường Thiên Hựu, tuy cùng tên nhưng khác họ những cây gạo miền châu thổ và trung du Bắc bộ thường rụng hoa màu xác pháo tiết đông xuân. Hoa gạo tàn đi cho sắc đỏ/ Nhập vào sắc đỏ của mùa xoan (Nguyễn Bính).
Trường Thiên Hựu năm 1968
Trường Thiên Hựu là tư thục nhưng mấy anh em chúng tôi được giảm học phí, nhờ làm đơn gửi lên cha Hiệu trưởng, điểm son của một nền giáo dục vì con người. Chương trình học nhẹ và thoáng hơn ở nhà dòng. Học tiếng Pháp với linh mục người Pháp giờ luận văn, các cha thường treo một tấm hình nhiều màu sắc trên bảng, chủ đề: thiên nhiên, ngày mùa, phố phường, chợ búa, lâu đài… từng học sinh sẽ được gọi lên bảng, trình bày cảm nghĩ của mình trong vài phút. Mọi ý tưởng mới lạ, dù còn vụng về non nớt, đều được khuyến khích, tránh lối mòn và văn mẫu.

Cuối mỗi tuần, thầy giáo phát cho mỗi học sinh một cuốn bách khoa toàn thư tiếng Pháp, loại phổ thông dành cho giới trẻ, bạn tự chọn một đề tài từ sách, tóm lược nội dung và trình bày trước cả lớp học khi được kêu lên bảng đen. Thú đọc sách, mở ra từ trang sách nhỏ, miên man theo dòng đời, qua bao năm tháng, an hòa hay khổ nạn, đọng lại niềm vui.

Hai năm sau, tôi rời trường Thiên Hựu, vượt Hải Vân, bước vào môi trường giáo dục hoàn toàn xa lạ, trường Blaise Pascal, Đà Nẵng. Trường gồm học sinh nam-nữ học chung. Thầy cô giáo từ Pháp sang. Từ khung cảnh có phần khắc kỷ của trường dòng, trường Thiên Hựu, tôi như cậu bé Le petit chose lơ ngơ trong truyện ngắn của Alphonse Daudet. Cạnh tôi là cô bạn học, váy ngắn, tóc tém demi-garçonne, trong cặp sách lẫn một tạp chí rất thời thượng bấy giờ : Salut les copains (Chào các bồ). Cuối tuần hay những dịp lễ lạt, các cô cậu bàn chuyện đi boum/ họp mặt nhảy đầm.

Khuôn viên trường Blaise Pascal như một khu rừng. Rừng trong phố. Có nhà nguyện, cầu hẹn hò dưới bóng cổ thụ, cầu bắc qua hai bờ thành Điện Hải, chứng tích phòng thủ trong cuộc chiến chống quân Pháp giữa thế kỷ 19. Trường có sân bóng, bãi tập thể dục, điền kinh và hai giờ thực hành thể dục thể thao mỗi tuần trong chương trình học.

Tôi theo học trường Blaise Pascal trong tình trạng… lo âu thấp thỏm. Chương trình Pháp vừa xóa kỳ thi Bac 1/ Tú tài bán phần mà tuổi quân dịch của tôi và hai bạn trong lớp thì cận kề. Ba anh em chúng tôi ghi danh lớp học đêm chương trình Việt, học vượt hai lớp so với chương trình Pháp. Ơn Trời! Hè năm 1968 (Mậu Thân), cả ba đều đỗ Tú tài Bán phần. Muốn làm người yêu, phải đỗ tú tài. Câu bùa chú thân ái và gần gũi ấy như khẩu hiệu Make Love, not War của giới trẻ phương Tây chống chiến tranh thịnh hành lúc bấy giờ.

Hai anh bạn tôi xin vào lớp Đệ Nhất C Phan Chu Trinh, Đà Nẵng. Tôi bơ vơ giữa dòng đời nên thiên di vào Sài Gòn, nơi có nhiều trường tư nổi tiếng như Trường Sơn của nhà văn Nguyễn Sỹ Tế, trường Văn Học mà hiệu trưởng là cô Trịnh Thúy Nga được nhiều người biết đến qua bài thơ Hôm nay Nga buồn như con chó ốm/ Nguyên Sa. Trường Văn Học ở đường Phan Thanh Giản (NTMK bây giờ), gần chợ Vườn Chuối, nơi tôi tá túc. Trường chỉ dạy lớp Đệ Nhất các ban A, B, C, D. Tôi ghi tên lớp Đệ Nhất C. Sĩ số học sinh là 30 bạn, hơn 2/3 là dân miền Trung, miền Tây, rời bỏ vùng chiến sự vào Sài Gòn học.

Thầy Trần Bích Lan/ nhà thơ Nguyên Sa dạy Tâm Lý học, thầy Vĩnh Đễ phụ trách môn Đạo Đức học, linh mục Trần Văn Hiến Minh dạy Siêu hình học, thầy Nguyễn Văn Khánh dạy Sử-Địa. Tôi thích nhất những giờ học của nhà thơ Nguyên Sa. Buổi học đầu tiên, bước vào lớp, đặt cái mũ feutre trên bàn, ông tự giới thiệu: Trong giới văn nghệ sĩ Sài Gòn, có hai tên xí trai nhất, nhà thơ Trần Dạ Từ và tôi, Nguyên Sa! Tôi đã có một năm học thú vị, đáng nhớ nhất đời học trò, trong không khí lãng đãng Sài Gòn sau Tết Mậu Thân.

Nhà thơ Nguyên Sa thường mở đầu bài Tâm lý học với câu Tôi có người bạn… Những người bạn ấy đưa chúng tôi rong chơi qua mọi nẻo đường, từ vườn hoa Luxembourg, bảo tàng Louvre, cà phê Flore, sông Seine, Hà Nội trong trí tưởng… cuối cùng quay về những khái niệm căn bản của bài Tâm lý học, như từng lớp phù sa bồi đắp châu thổ. Thỉnh thoảng, thầy trích dẫn thơ Huy Cận, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền… chưa bao giờ minh họa bài học bằng thơ của mình. Sau Tết, qua những bài giảng, những người bạn của ông bỏ đi đâu mất! Thầy chia tấm bảng đen thành 4 cột, mỗi học sinh chiếm một ô. Thầy ra đề, mỗi bạn ghi vắn tắt những ý chính sẽ triển khai trên bảng. Thầy và các bạn góp ý để bài làm hoàn hảo. Một cách dạy học cởi mở, sinh động và thú vị.

Tôi nhớ có lần một nữ sinh lên bảng, hình như là hoa khôi lớp 12C. Đọc đề xong, bạn đứng như trời trồng, khóc tấm tức. Nhà thơ chạnh lòng và… bối rối. Nhớ câu thơ: Em đừng khóc làm gì/ Cho nước mắt vu vơ. (Nguyên Sa)

Nguyên Sa không chỉ dạy Tâm Lý học, bàng bạc trong bài giảng của ông là thơ, văn, nghệ thuật sống… Nhà thơ viết lên bảng hai chữ tình tự: bày tỏ tình cảm của hai người yêu nhau. Tình tự dân tộc: lòng yêu nước. Nghệ thuật dạy học của ông thi vị như bài thơ. Gần đây, tôi có xem bức chân dung Nguyên Sa, Nguyên Khai vẽ. Bức tranh thể hiện trọn vẹn thần thái người thầy học cũ. Bình an thầy nhé, nghe tin cô vừa nằm xuống cạnh thầy. Hạnh phúc quanh đây.

Mùa hè năm 1969, tôi thi đỗ Tú Tài toàn phần, chia tay trường Văn Học, phố phường Sài Gòn, muốn ghi danh khoa Báo Chí, Đại Học Vạn Hạnh mà không thành nên quay về Huế thi vào ban Sử-Địa, ĐHSP Huế.

Đây đó kỷ niệm 60, 70, 100… năm về lại trường xưa. Thôi thì nhớ về những ngôi trường cũ, đã không còn nữa, trong muôn nẻo phôi pha.

TỐNG VĂN THỤY. 9/2026

***

Nhà L’Accueil năm 1938

Nhà L’Accueil hay Nhà Đón tiếp là một công trình tôn giáo trong tổng thể một cụm công trình được DCCT xây dựng trong thập niên 1930, nhằm mục đích giáo dục và phát triển văn hóa, bao gồm Trường Việt Hương – nay là trường tiểu học Quang Trung, Nhà L’Accueil, thư viện L’Accueil hay Thư viện Chúa Kitô Vua, phòng đọc sách, Cư xá Nguyễn Trường Tộ, phòng phát thuốc miễn phí, sân bóng và một số công trình phụ trợ.   

Không có nhận xét nào: