Trái -> phải: Các MX Võ Sang, Khải Bình, Quách Lâm, Dr. Minh Cường, Bửu Ngọc, Lê Lộc, Minh Đức, Hùng Bình Long Dương Bửu Long: Trung Úy Dương Bửu Long là Đại Đội Trưởng đầu đời binh nghiệp của tôi. Anh là “ông thầy” của tôi về mọi phương diện: Anh là cấp chỉ huy đại lượng với thuộc cấp nhưng lại cứng đầu với những lệnh...lạc, những cái lệnh bắt “thi hành trước khiếu nại sau”khiến anh thường chịu thiệt thòi trên đường binh nghiệp. Có lẽ “đệ tử” lây tính “ông thầy” nên đường binh của tôi cũng không khá!Tháng 6/1966, khi đang làm ĐĐP/ĐĐ4 cho anh Dương Bửu Long thì tôi bị “tai nạn” bất ngờ, Thiếu Tá TĐT Dương Hạnh Phước cho tôi 15 ngày trọng cấm, đem nhốt tại Quân Cảnh (QC) 202 tại Bộ Tư Lệnh số 15 đường Lê Thánh Tôn Sàigòn.
<!>
Trong khi đó TĐ5 chuẩn bị hành quân. Trước ngày súng đạn lên đường, anh Long đến thăm tôi tại phòng giam, cho tôi cây thuốc lá Ruby Queen, loại thuốc anh và tôi cùng hút. Cảm động trước tấm lòng cao thượng của anh, tôi thấy quá buồn khi anh cùng đại đội đi hành quân, còn tôi là đại đội phó thì lại nằm chơi nơi an toàn nhất! Tôi năn nỉ:
– Anh xin với Tiểu Đoàn Trưởng cho tôi về để đi hành quân với anh.
Anh Long cười buồn:
– Đi chuyến này, không có mày, tao mất vui, nhưng kinh nghiệm cho biết thằng nào có phép mà không hưởng mà lại đòi hành quân thì thế nào cũng lãnh thẹo, mày đang “được” nghỉ phép thì cứ nghỉ, đừng quân tử Tàu, đòi đi hành quân thì coi chừng... là “quân tử” thật đấy. Đời lính còn dài, lo gì mất việc, chỉ sợ khi nhiều việc quá thì lại mất xác.
Lời khuyên thật chân tình của cấp chỉ huy trực tiếp là dựa vào kinh nghiệm chiến trường của lính Cọp Biển đã, đang và sẽ chịu nhiều mất mát đau thương. Thời đó, trận Bình Giả (31/12/1964) vừa xảy ra, nhiều đồng đội, đồng khóa của tôi đã mất, trong đó có thủ khoa Võ Thành Kháng.
Và rồi trong chuyến hành quân ấy, TĐ5/TQLC đụng trận tại Mộ Đức (Quảng Ngãi), BCH Tiểu Đoàn thiệt hại nặng, Thiếu Tá Dương Hạnh Phước, Bác Sĩ Lê Hữu Sanh, cố vấn Mỹ đều tử trận. Riêng ĐĐ4 cũ của tôi, vừa tử thương và bị thương đến hết 2 phần 3 quân số, Trung Sĩ 1 Nguyễn Văn Lô, trung đội phó của tôi bị cụt giò tới háng. Đại Đội có 5 sĩ quan thì “bị” hết: Đại Đội Trưởng Dương Bửu Long bị thương, các Trung Đội Trưởng Trần Tử Phương và Thảo tử trận, Nguyễn Văn Lộc và Lê Đình Quỳ bị thương và bị VC bắt (sau đó thì Lộc trốn thoát, còn Quỳ bị cầm tù cho tới năm 1972 mới được trao trả tù binh).
Còn tôi được bình an trong “cũi sắt”, sau khi hết phép, tôi bị đổi về TĐ2/TQLC. Không biết do cái số, hay anh Long là thần hộ mạng của tôi mà một lần nữa anh cứu tôi khỏi tay tử thần.
Nhớ lại trong trận Đức Cơ (Kontum) tháng 8/1965, nửa đêm về sáng, trời lạnh, tôi đang nằm ấm chỗ trong lều thì anh Long gọi tôi dậy đi kiểm soát tuyến đóng quân, tôi vừa đi vừa cằn nhằn ông Đại Đội Trưởng khó tính thì cũng là lúc VC pháo kích tấn công bất thần, cái lều tôi nằm bị tan nát vì đạn pháo kích, còn tôi chỉ bị thương khi đi kiểm soát ngoài vòng tuyến.
Tôi rời TĐ5 trước khi xảy ra trận Mộ Đức [6], còn anh Long, sau Mậu Thân 1968 thì rời TQLC sang BĐQ. Tháng 5/1969, anh BĐQ, tôi TQLC gặp lại nhau ở trận Chương Thiện, ôm nhau khóc. Tháng 6/1969 tôi bị loại khỏi vòng chiên và rồi bặt tin với anh Dương Bửu Long từ đó!
Năm 2000, thấy hình anh Long và bài viết về trận Mộ Đức trong cuốn chiến sử TQLC do Bác Sĩ Trần Xuân Dũng biên soạn, tôi tìm cách liên lạc với anh và đã nhận được hồi âm. Anh sống cô độc tại Úc và không sinh hoạt với đơn vị gốc là TQLC và BĐQ.
Đây là chuyện khá lạ, vì anh vốn là người của đám đông, mang niềm vui đến cho anh em. Sau một thời gian thư đi tin lại tôi mới biết anh đang bị bệnh phổi! Thư anh thưa dần và tôi không còn nhận được thư anh.
Năm 2003, nhân dịp Đại Hội TQLC ở Houston Texas, tôi gặp MX Trần Như Hùng từ Úc về dự, tôi có hỏi về anh Long, nhưng Hùng không biết. Tôi vội viết thư cho anh Long và nhờ Hùng cầm về Úc tìm tung tích BĐQ cựu TQLC Dương Bửu Long.
Ngay khi về tới Úc, Quốc Việt Trần Như Hùng đã tìm được anh Long và email cho tôi:
“Anh Long bị ung thư phổi, đang đi dần vào hôn mê, trên đầu giường của anh Long, có những sách báo TQLC do anh Cấp gửi. Anh Long không còn nói được, nhưng khi đọc thư của anh Cấp và anh Phán cho anh Long nghe thì anh Long tỏ dấu hiệu biết, anh ấy mấp máy đôi môi!”
Khi đã tìm ra và biết anh Dương Bửu Long là gốc TQLC thì MX Trần Như Hùng cùng anh em MX bên Úc đến thăm viếng và săn sóc anh Long. Khi anh Long ra đi thì MX Trần Như Hùng đã điều động cả BĐQ lẫn TQLC để lo hậu sự cho anh với đầy đủ nghi thức và đã trao tro cốt về cho gia đình anh tại VN.
Hiện nay, hằng năm, anh em TQLC bên Úc vẫn nhớ đến ngày giỗ anh Long. Tôi không đủ ngôn từ để ca ngợi tình Huynh Đệ Chi Binh TQLC bên Úc đối với BĐQ Dương Bửu Long. Chỉ nhắc lại một lần nữa với cảm xúc bồi hồi: “Sống chết có nhau là Huynh Đệ Chi Binh TQLC.”
***
Nói thêm về TĐ5/TQLC với trận Mộ Đức:
Tôi không dám lạm bàn về các trận chiến trong tuyển tập “Huynh Đệ Chi Binh TQLC” này, mà chỉ nêu ra một vài trường hợp mà Binh Chủng TQLC chúng tôi bị lạm dụng, bị hy sinh xương máu một cách khó hiểu. Trong đó có 3 trận đánh lớn khiến cả 3 Tiểu Đoàn Trưởng đều tử trận, đó là:
– TĐ4/TQLC lâm trận Bình Giả, Phước Tuy ngày 30/12/1964 khiến 112 TQLC tử trận, trong đó có Thiếu Tá TĐT Nguyễn Văn Nho, Đại Úy TĐP Trần Văn Hoán, Bác Sĩ Trương Bá Hân.
– TĐ5/TQLC lâm trận Mộ Đức, Quảng Ngãi ngày 12/6/1966, khiến gần 100 TQLC tử trận, trong đó có Thiếu Tá TĐT Dương Hạnh Phước, Bác Sĩ Lê Hữu Sanh.
– TĐ2/TQLC lâm trận Phò Trạch, Phong Điền, Huế ngày 29/6/1966, khiến Trung Tá Lê Hằng Minh tử trận cùng 4 thuộc cấp, 95 bị thương, trong đó có Đại Úy cố vấn Campbell.
3 trận chiến trên đã có trong Quân Sử và tuyển tập “21 Năm Chiến Trận TQLC”, ở đây tôi chỉ xin ghi lại đôi dòng tâm sự của anh Long về trận Mộ Đức.
Giữa tháng 6/66, sau trận Mộ Đức, TĐ5 bị thiệt hại nặng, thay vì về hậu cứ ở suối Lồ Ồ, Thủ Đức để bổ sung quân số và tái trang bị thì lại bị đưa ra phi trường Phú Bài, Huế để bay vào chiến trường Khe Sanh. Thời gian này, tôi cũng từ QC 202 vừa thuyên chuyển về TĐ2/TQLC đang hành quân tại Huế, nên tôi tìm đến thăm anh Long và Đại Đội 4 cũ của tôi.
Khi vừa trông thấy anh Long, trên đầu anh còn quấn băng trắng nhuộm máu, anh ôm choàng lấy đại đội phó cũ nức nở:
– Chết hết rồi Cấp ơi!
Anh Long nói trong ấm ức:
– Sau hơn 3 tháng cày ải vùng đồi núi Quảng Ngãi, Tiểu Đoàn được lệnh về hậu cứ nghỉ ngơi. Anh em binh sĩ vui mừng ra chợ mua mè xửng, kẹo gương, nón lá, những món quà kỷ niệm cho vợ con, nhưng bất ngờ Tổng Tham Mưu ra lệnh cho TĐ5 tăng cường cho Tiểu Khu Quảng Ngãi thêm một ngày nữa để đi hành quân lục soát mấy xóm làng gần Quốc Lộ 1, mọi khiếu nại không được chấp thuận.
Theo tin tình báo địa phương cho, thì địch có khoảng một trung đội du kích trong xóm làng cách quốc lộ vài trăm mét, tiểu đoàn Địa Phương Quân án ngữ trên quốc lộ làm trừ bị, còn TĐ5 vào lục soát.
– Đ.M. (Long chửi thề), chỉ có trung đội du kích VC mà nó bắt Tổng Trừ bị đi lục soát! Đ.M. nó vắt chanh TQLC lòi cả hột ra.
Vì chỉ có trung đội du kích và cuộc lục soát về trong ngày nên lệnh Tiểu Đoàn chỉ mang theo 1 ngày cơm vắt, trang bị súng đạn gọn nhẹ, ba-lô để lại.
Tiểu Đoàn chia làm 2 cánh:
Cánh A của Thiếu Tá Phước có ĐĐ4 Trung Úy Long đi đầu, BCH Tiểu Đoàn đi giữa, ĐĐ2 của Trung Úy Phán đi sau.
Cánh B của Tiểu Đoàn Phó Phạm Nhã có ĐĐ1 của Đại Úy Huệ, ĐĐ2 của Trung Úy Thủy.
Khi ĐĐ4 di chuyển tới vị trí cách quốc lộ khoảng 1km là đụng liền, trận chiến xảy ra khốc liệt ngay từ đầu, địch quân bố trí quân sẵn trong các giao thông hào, bờ tre, tấn công với các vũ khí RPD, B40, B41 và SKZ khiến Đại Đội 4 và BCH tiểu đoàn thiệt hại nặng ngay từ đầu.
Đ.M. việc Tiểu Khu Quảng Ngãi cố tình xin lưu giữ TĐ5/ TQLC thêm 1 ngày chỉ để lục soát xóm làng có 1 trung đội du kích, còn Tiểu Đoàn ĐPQ TK/QN thì làm trừ bị, án ngữ ngoài quốc lộ, để rồi khi đụng trận thì ‘du kích’ có vũ khí nặng của đơn vị địch cấp trung đoàn.
Trận chiến xảy ra chỉ cách quốc lộ 1 km với lực lượng địch như thế mà Phòng 2 Tiểu Khu nói chỉ có 1 trung đội du kích thì...!”
TĐ5/TQLC “được” TK/QN xin lưu giữ lại 1 ngày để rồi bị đại nạn ngày 12/6/1966 tưởng chỉ là một sự “vắt chanh lòi hột” có một không hai, nhưng nào ai tưởng tượng được rằng nửa tháng sau, ngày 28/6/1966, Tiểu Đoàn 2/TQLC được lệnh di chuyển từ Huế ra Quảng Trị thì lại “được” hoãn 1 ngày không lý do để sáng ngày hôm sau, 29/6 đoàn convoy GMC/SĐ1 mới chở TĐ2 từ đầu cầu An Hòa (Huế) ra Quảng Trị, nhưng đến cây số 17 (Phong Điền) thì bị 1 trung đoàn VC phục kích hai bên đường, tấn công vào đoàn xe khiến Trung Tá Lê Hằng Minh cùng 41 chiến sĩ TQLC hy sinh, nhưng bù lại Trâu Điên phản phục kích đếm được 233 xác con “ba-ác” và bắt 8 tên.
Đánh nhau sống chết là chuyện bình thường, nhưng 7 giờ sáng TĐ2 di chuyển ra Quảng Trị thì lúc 6 giờ sáng, trên quốc lộ này, một đoàn convoy Hoa Kỳ di chuyển từ Quảng Trị vào Phú Bài bình an. Cái này phải hỏi lại cái lưỡi lê đâm sau lưng của các VIP địa phương.
TĐ5 và TĐ2 đều bị hoãn lại 1 ngày rồi gặp đại nạn đều xảy ra sau khi TQLC đã dẹp tan biến loạn miền Trung do “khô-mê-đi” Th.Tr.Q. thích đâm hậu, cái này thì hỏi mấy ông tư lệnh vùng thời đó bất tuân thượng lệnh Trung Ương.
*****
Tôi xin kết thúc đề tài các Niên Trưởng và Đồng Đội VK/TQLC bằng ơn cứu tử của Đệ Đức Trần Kim Đệ:
Một niên trưởng thâm niên nhất, hiền nhất và trẻ trung nhất trong số các niên trưởng Võ Khoa mà tôi dám “rỡn mặt” là NT Trần Kim Đệ, K8/VK.
Đệ Đức là một lão làng trong Binh Chủng TQLC nhưng không hiểu vì nguyên cớ nào mà anh chịu nhiều thua thiệt!Bản tính anh hiền lành nhưng cũng hay “lý sự cùn” thì có ảnh hưởng gì tới binh nghiệp của anh chăng?
Đệ Đức chỉ chửi thề nửa vời, chỉ một tiếng “mẹ” mà thôi! Có lẽ Đệ Đức nghĩ tiếng “đ...” quá nặng mà bỏ đi chữ này nên câu chửi thề không tròn, đó là một trong cái dễ thương của Đệ Đức. Nếu phải tóm tắt về bản tính của Đệ Đức thì tôi xin dùng bốn chữ: “Khẩu Phật, Tâm Phật”.
Đệ Đức Khóa 8 Võ Khoa Thủ Đức, vậy mà tới 1968, Đệ Đức vẫn còn là 1 trong 4 đại đội trưởng của TĐ2/TQLC. Ở Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên, anh và tôi có nhiều kỷ niệm vui buồn khó quên, đặc biệt là trong giai đoạn hành quân Mậu Thân năm 1968 tại Sàigòn.
Tháng 5/68, sau khi TĐ2 thanh toán xong VC ở Chợ Lớn thì ĐĐ1 của tôi, ĐĐ3 của Trần Văn Thương, ĐĐ4 của Vũ Đoàn Dzoan tiếp tục hành quân về vùng Gia Định, chỉ còn ĐĐ2 của Đệ Đức ở lại Chợ Lớn để giữ các mục tiêu đã chiếm được. Khi chúng tôi đang thanh toán VC tại các mục tiêu rạp hát Cao Đồng Hưng, Cây Quéo, Ngã Ba Cây Thị thì nhận được lệnh của Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng phải cấp tốc quay trở lại vùng Chợ Lớn để tiếp viện cho Đệ Đức vì VC tấn công, chia cắt ĐĐ2. Trung đội của Chuẩn Úy Hồng ĐĐ2 đang bị kẹt trong thế “chỉ mành treo chuông”. Tôi giao cho Trung Đội 14/ĐĐ1 của Thiếu Úy Huỳnh Vinh Quang lãnh nhiệm vụ giải cứu Hồng, và Quang đã hoàn thành nhiệm vụ.
Sau Mậu Thân, vào sáng ngày 14/9/1968, TĐ2 đi hành quân Tây Ninh, ĐĐ1 của tôi được giao nhiệm vụ nhảy diều hâu vào vùng Cầu Khởi để tìm địch. Không cần lùng đâu cả, địch nằm sẵn chờ, nên ĐĐ1 bị VC bao vây và tấn công ngay, Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn cho các đại đội còn lại nhảy vào tiếp cứu ĐĐ1 của tôi. Đồ Sơn lệnh cho Đệ Đức:
– Đệ Đức, bằng mọi giá phải bắt tay được với Cần Thơ.
Đệ Đức và tôi liên lạc hàng ngang xong, biết hướng tiến của Đệ Đức và trung đội đi đầu của Đệ Đức là Chuẩn Úy Hồng lại nhằm đúng hướng vị trí của Thiếu Úy Huỳnh Vinh Quang. Hai bạn cố tri Hồng – Quang cố gắng bắt tay nhau lần nữa.
Nhưng than ôi! Mừng vui chưa bắt được tay thì đã sầu chia ly! Chuẩn Úy Hồng đã gục ngã khi chưa bắt tay được với Quang, phải đến sáng hôm sau chúng tôi mới bắt tay được với nhau.
Quả thật đời lính chiến “ra đi” quá dễ dàng, “sống nay chết mai” là chuyện bình thường, vừa mới nhăn răng cười văng nước miếng thì đã chết sùi bọt mép! Thằng em vừa mồi cho ông thầy điếu thuốc bên miệng hố, khói thuốc chưa kịp bay ra khỏi miệng thì đệ tử gục xuống vì đạn AK, máu và óc đệ tử văng đầy mặt ông thầy! Đó là trường hợp của tôi và “ô-đô” Binh 1 Nguyễn Văn Quang vào buổi chiều tối 31/12/67 trong trận Kinh Cái Thia, Cai Lậy.
Với Đệ Đức,tôi còn mang ơn cứu tử khó quên,khó quên nên nhớ cả ngày tháng, cả không gian và thời gian.
Sáng ngày 19/6/1969, TĐ2 nhảy trực thăng xuống vùng đồng ngập nước mênh mông thuộc Hỏa Lựu, Chương Thiện, để tiến vào mục tiêu bìa rừng.
Cánh A do TĐT Phúc Yên Nguyễn Xuân Phúc gồm các Đại Đội là 1, 2 và ĐĐ Chỉ Huy.
Cánh B có ĐĐ3 và ĐĐ4 của Vũ Doàn Dzoan do tôi chịu trách nhiệm.
Quân trường đã dạy khi di chuyển hành quân nên tránh đi trên đường mòn, ở đây những bờ ruộng dẫn vào mục tiêu có nhiều dấu hiệu khả nghi nên tôi cho lệnh tất cả lội ruộng, kể cả Ban Chỉ Huy cánh B. Đang lội bì bõm dưới sình, tiến vào mục tiêu thì tiếng nổ kinh hồn làm bùn nước tung lên, trong tích tắc tôi thấy mình cũng bị tung lên, rồi không biết gì nữa!
Khi nghe tiếng “phành phạch” của cánh quạt trực thăng, tôi run lên vì lạnh, có lẽ cái lạnh khủng khiếp làm tôi tỉnh lại, nghe được tiếng Đệ Đức báo cáo với Robert Phúc Yên những tiếng quen thuộc “Kilo”, Whiskey”, như vậy là tôi chưa chết, tôi mấp máy đôi môi gọi Đệ Đức:
– Hey Đệ Đức, tôi chưa chết hả?
Tôi muốn gào lên gọi Đệ Đức mà không sao ra tiếng, Đệ ngồi trên trực thăng tải thương, nhưng anh không thấy tôi mấp máy đôi môi! Sình, nước, máu chui vào miệng khiến tôi ói, dù đang khát nước! Khi trực thăng đáp xuống sân bay tỉnh Chương Thiện, tôi nghe lao xao tiếng nhân viên y tá lựa thương, rồi tôi được chuyển tiếp về Bệnh Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Ở đây có quá nhiều thương binh nằm ngoài hành lang để chờ y tá lựa thương. Dường như có ai đó khám cho tôi xong, tôi nghe loáng thoáng: “Cưa!”
May cho tôi, chưa kịp lên bàn mổ, chưa bị “cưa chân” thì Bác Sĩ TQLC Nguyễn Văn Hạnh đến nhận thương binh TQLC và đưa ngay chúng tôi về Bệnh Viện Lê Hữu Sanh Thị Nghè, Sàigòn để các Bác Sĩ Nguyễn Văn Dõng, Trần Công Hiệp săn sóc. Các bác sĩ TQLC đã tận tình cứu chữa, không nỡ cưa cắt nên nay tôi vẫn còn một chút gì để đứng để đi. Cám ơn các thầy lang Tây Mũ Xanh, mong có ngày sẽ ôn lại chuyện vui buồn bệnh viện với các thần y rằn ri.
Cám ơn Niên Trưởng Đệ Đức Trần Kim Đệ! Lúc đó anh làm chức gì mà có trực thăng bay vòng vòng để kịp thời đáp xuống tải thương tôi vậy? Anh là Ban 3 Tiểu Đoàn hay Chiến Đoàn?
Quần áo ướt, nằm dưới sàn trực thăng lộng gió, lạnh và tê cóng làm tôi không còn thấy đau nhưng thèm điếu thuốc, Đệ Đức tiếc gì mà không cho tôi một hơi! Nghĩ lại mà tôi nhớ ơn ông đã nhanh chóng tải thương nên tôi được cứu sống và sau này được làm tới chỉ huy phó CCST, một cái chức to không có bảng cấp số, nhưng nhờ đó tôi có cơ hội trả nợ ơn ông.
Đó là một đêm ở BCH/CC Sóng Thần, nhân dịp TĐ2 về hậu cứ, Trâu Điên Trưởng cho “đàn trâu” nhảy đầm. Đệ Đức vốn thích bay nhảy nên đến thăm đơn vị cũ và hăng hái tham gia. Ông vui như một “Lão Ngoan Đồng” trên cánh đồng “cỏ non” mà quên nhiệm vụ với hậu phương chính nên đã bị “bà” rượt! Nhớ ơn xưa, tôi vội mở cửa phòng cho ông chạy vào tị nạn.
Xưa ông cứu tôi, nay tôi cứu ông, nhưng so ra thì ông ở trong tình thế dễ bị xé xác, nguy hiểm đến tính mạng hơn tôi ngày trước nên coi như ông vẫn còn nợ tôi.
Khi đọc đến đoạn này, nếu có ai đó nằm cạnh hỏi, thì thế nào Đệ Đức cũng mắng tôi:
– Thằng Cấp nó nói tầm bậy đó!
Đúng thế, vì thấy ông “nhát gái” quá nên tôi phịa ra cho vui vậy mà.
Làm sao kể cho hết những kỷ niệm vui buồn thời vàng son thời súng đạn với các niên trưởng Võ Khoa/TQLC? Mới kể mỗi ông một “tội” mà đã hết 20 trang giấy, người đọc đã chán mà “tội lỗi” của các ông thì còn nhiều, thôi thì để dành coi như “án treo”, buồn buồn mang ra kể tiếp.
Đối với các vị đại niên trưởng, những cấp chỉ huy trực tiếp thì tôi đã đi thăm các anh trước đây một lần rồi. Tango, lần cuối cùng ông ra lệnh trực tiếp cho tôi là ngày 30/4/1975 tại BCH/CCST sau khi tông-tông Big Minh tuyên bố đầu hàng và ra lệnh cho các đơn vị quân đội VNCH bàn giao cho VC!
Bàn giao cái gì đây? Tango ngồi thừ người rồi ông nhìn tôi, Tango lập lại lời của thượng cấp tối cao: “Cấp ở lại bàn giao...”
Tango không thể nói tiếp được vì nghẹn lời, và tôi đã... bất tuân thượng lệnh.
Tôi cũng đã đi thăm Sàigòn rồi, tuy là Chiến Đoàn Trưởng, nhưng đã nhiều lần ông vào tần số máy ĐĐ1 để ra lệnh cho tôi: “Cần Thơ”.
Trong trận Hố Bò, thấy tiếng ông trong máy, tôi xin ông cho vài phi tuần lên cái đồi cao phía sau lưng. Ông hỏi có gì trên đó? Tôi nói chưa thấy gì nhưng sao lạnh lưng quá, đập trước cho chắc ăn. Ông cười: “Chừng nào có địch hãy hay.”
Tôi đã đi thăm Bắc Ninh, vì khi ông làm CHT/CC Sóng Thần, ông giao cho tôi muốn làm gì thì làm.
Tôi đã đi thăm Đồ Sơn, vị Tiểu Đoàn Trưởng của tôi từ 1967 – 1969.
Ngoài các niên trưởng kể trên, tôi cũng cần thăm các đồng đội đã một thời sống chết vui buồn bên nhau, các đồng đội Võ Khoa mà tôi hân hạnh được quen biết khi tị nạn CS ở xứ lạ quê người. Họ nhiều lắm, nhiều lắm, không thể viết ra hết được, không đến thăm và bắt tay nhau được thì xin “mượn giấy thay mặt, mượn bút thay lời” thăm, hỏi thăm các anh em từ An đến Ý.
Tôi gọi họ là “em” vì họ nhỏ tuổi hơn tôi, thâm niên Binh Chủng ít hơn tôi, nhưng về kinh nghiệm sống đời, phong cách xử thế, tế nhị và khéo léo thì họ lại hơn tôi, tôi học hỏi từ họ được nhiều điều hay, tôi luôn quý mến họ trong tình anh em. Vì quý mến nên tôi đặt cho họ mỗi người một biệt hiệu để nhớ mãi, “Tôi nhớ tên anh trong trái tim tôi.”
Họ là những Nguyễn, Trần, Lê, Phạm, Đinh: Mạnh Cương, Công Phạm, Công Đình, Vincent Lâm, Giặc Cờ Đen Lưu Phúc, Lạt Ma, Nập Nà, Phan Đuông, Nguyễn Nên, Võ Sang, Phan Ngọc, Minh Đức, Tạ Hạnh, Hồng Hà, Hữu Hào, Hắc Long, Thành Lê. Họ là Cao Xuân Huy, Trần Như... thì Trần Như Hùng. Họ Lý tên Bình thì gọi là “Tiểu Bình”, thêm “Tiểu Cần”. Hai chàng “Tiểu” này gặp nhau thì sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau:
Tiểu Bình cần tiểu thì Tiểu Cần cho Tiểu Bình cái bình.. tiểu.
Chúc các chú em bình an trong vòng tay người thân yêu.
Tô Văn Cấp
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét