Kính thưa quí bạn
Hôm nay xin gởi các bạn vài chuyện đời thường
1. Chính phủ Trung Quốc vừa khởi sự điều tra việc người ta dùng hoá chất formol (formaldehyde) để giữ cho bắp cải được tươi lâu.
2. Mỹ: Biến plastic thành bánh quy vị vanila ăn được
3. Người xưa nói Phú Lang Sa hay Pháp Lang Sa
4. Trích Bản Tin Mùa Hè 2026 của Hội Y Nha Dược Florida: “Đa Ngôn Ngữ Trong Thời Đại Thông Minh Nhân Tạo_
Hồ Văn Hiền”
5. Góc đố vui về bàn cờ tướng
HCD 24-Aug-2026
--- ⁕ ---
Nếu quí bạn luôn luôn nhận được cùng lúc hai ba email giống nhau, xin vui lòng delete bớt hoặc cho tôi hay
Nếu các bạn không thấy hình chỉ thấy cái khung trống không hình, thì nên dọc Microsoft Word attached.
Nguồn tin và chi tiết: https://www.bbc.com/news/articles/cy9ze48l2yeo?at_medium=RSS&at_campaign=rss
HCD : Máy tóm tắt nội dung bài báo (có thể còn sót những « tiếng mới » khó hiểu khó nghe)
Chính phủ Trung Quốc vừa khởi sự điều tra việc người ta dùng hoá chất formol (formaldehyde) để giữ cho bắp cải được tươi lâu.
Chi tiết bản tin: Giới chức tỉnh Hà Bắc xác nhận video do một nhà báo tự do về môi trường tung ra tuần trước là thực. Hình ảnh cho thấy nhân công nhúng bắp cải vào dung dịch hoá chất trước khi chất lên xe tải đi tiêu thụ.
Formol là chất lỏng không màu, vốn dùng để ngâm xác hoặc mẫu vật sinh học, bị nghiêm cấm dùng trong thực phẩm vì có nguy cơ gây ung thư.
Cảnh sát đã can thiệp và bắt giữ những người vi phạm. Giới chức trách đang duyệt xét khẩn cấp tại các chợ trên toàn quốc, đồng thời truy tìm nguồn gốc số bắp cải đã bị ngâm hoá chất để trấn an dư luận.
Ban quản lý chợ Xinfadi (Bắc Kinh) xác định rằng sản phẩm từ vùng vi phạm chưa tràn vào chợ này. Báo chí nhà nước Trung Quốc lên tiếng chỉ trích gay gắt các thương lái vì lợi lộc mà coi thường sức khỏe người dân.
Trung Quốc sản xuất hơn 30 triệu tấn bắp cải mỗi năm (chiếm gần phân nửa sản lượng thế giới), xuất cảng sang Nam Hàn, Việt Nam và Nga.
HCD: Ghê quá, xin nói thêm về mặt hóa học:
Formaldehyde (formalin là dung dịch chứa formaldehyde) gây hại như thế nào?
Nó là một chất có độc tính đáng kể. Hơi formaldehyde dễ gây cay mắt, chảy nước mắt, rát mũi và đau/rát họng. Có thể gây ho, khò khè, tức ngực và khó thở; nồng độ cao có thể gây tổn thương nghiêm trọng đường hô hấp.
Dung dịch formaldehyde có thể gây kích ứng, bỏng hóa chất và viêm da; tiếp xúc lặp đi lặp lại có thể gây dị ứng da. Bị nhiễm ở mức cao có thể gây nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn và cảm giác khó chịu.
Gây Ung thư khi tiếp xúc lâu dài. Formaldehyde được IARC xếp vào nhóm chất gây ung thư ở người (Group 1), đặc biệt liên quan đến ung thư vùng mũi–họng và bệnh bạch cầu dòng tủy trong một số nghiên cứu về phơi nhiễm nghề nghiệp.
Formaldehyde có thể hiện diện trong khói thuốc lá, vật liệu gỗ ép, keo, sơn, bàn ghế tủ giờng mới mua, một số sản phẩm kỷ nghệ (trong những nhà cửa kín mít không thông gió) nguy cơ phụ thuộc rất nhiều vào nồng độ và thời gian tiếp xúc.
Ấy cũng là:
Lợi trước mắt mà quên hậu hoạn, thương nhân tự chuốc họa tai;
Tiền trong tay chớ tổn nhân đức, phàm phu khó tránh nghiệp báo.
——―⁕֍⁕―——
Nguồn tin và chi tiết: https://www.newscientist.com/article/2585463-plastic-bottles-can-be-turned-into-edible-vanilla-flavour-cookies/?utm_campaign=RSS%7CNSNS&utm_content=home&utm_medium=RSS&utm_source=NSNS
HCD: Máy tóm tắt nội dung bài báo (có thể còn sót những “tiếng mới” khó hiểu khó nghe)
Biến plastic Thành Bánh Quy Vị Vanila ăn được
Mục tiêu nghiên cứu: Nhóm nhà khoa học tại Đại học Southern Illinois Carbondale (Hoa Kỳ) đã tìm ra phương cách biến rác keo (như chai plastic PET) cùng phụ phẩm nông nghiệp (thân và lá bắp ngọt bỏ đi) thành loại bánh quy nhiều chất đạm, có vị vanila ăn được. Nghiên cứu này hướng tới việc giải quyết song song hai vấn nạn lớn của nhân loại: ô nhiễm rác keo và nạn khan hiếm thực phẩm.
Tiến trình chế biến (3 bước):Phân rã nguyên liệu: Dùng nhiệt độ và áp suất cao (tiến trình thủy phân nhiệt oxy hóa) để băm nhỏ rác keo và phế phẩm cây bắp.
Chuyển hóa vi sinh: Sử dụng các chủng men biến đổi di truyền để "tiêu hóa" các thành phần đã phân rã, chuyển hóa carbon thành chất đạm, sinh tố (vitamin A) và hương liệu vani tự nhiên.
Tạo hình bánh: Trộn nguồn đạm vi sinh này với chất xơ, tinh bột và chất làm ngọt, sau đó đưa vào máy in 3D để tạo ra những chiếc bánh quy
Ứng dụng thực tế:
Sản phẩm ban đầu được phát triển theo chương trình của NASA nhằm cung cấp thực phẩm cho các phi hành gia ngoài không gian hoặc thủy thủ đoàn dưới tàu lặn. Về lâu dài, công nghệ này có thể áp dụng rộng rãi để tạo nguồn thực phẩm dự phòng tại các vùng thiếu hụt lương thực.
Tình trạng hiện tại & Dư luận:Về mặt kỹ thuật, chiếc bánh hoàn toàn an toàn để ăn và có mùi thơm hấp dẫn. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu vẫn đang chờ sự chấp thuận từ cơ quan thẩm quyền trước khi tiến hành thử nghiệm vị giác.
Dư luận và giới quan sát vẫn còn e ngại về tâm lý khi dùng thực phẩm làm từ rác thải keo, dù các nhà khoa học khẳng định toàn bộ cấu trúc carbon của rác đã được vi sinh vật tái tạo thành đạm an toàn.
HCD: Nghe như chuyện giởn chơi
-------
Giới thiệu các bạn Bản tin Mùa Hè:
Cám ơn Bác sĩ Trần Mạnh Tung gởi biếu.
――※――
Tôi trích một bài khoa học từ Bản Tin Mùa Hè2026 của Hội Y Nha Dược Florida
Đa Ngôn Ngữ Trong Thời Đại Thông Minh Nhân Tạo
Hồ Văn Hiền
Đa ngôn ngữ (multilingualism) là một vấn đề quan trọng bậc nhất trong cuộc sống hải ngoại. Từ nhu cầu nói thêm một ngoại ngữ và khắc phục “rào cản ngôn ngữ” để sống còn, đến vai trò then chốt của tiếng mẹ đẻ trong việc bảo tồn căn cước cho thế hệ sau, vấn đề đa ngôn ngữ luôn luôn là một ưu tư, lắm khi nhức nhối, trong tâm tư người xa xứ.
Từ khả năng đa ngôn ngữ có thể phát triển một dạng ý thức siêu ngôn ngữ (metalinguistic awareness), là khả năng bước ra bên ngoài, tách bản thân ra khỏi dòng chảy tự nhiên của lời nói để quan sát ngôn ngữ như một đối tượng nghiên cứu độc lập. Người có tư duy siêu ngôn ngữ giống như một kiến trúc sư không chỉ sống trong ngôi nhà, mà còn nhìn thấu được sơ đồ cấu trúc, chất liệu gạch đá và cách các bức tường liên kết với nhau. Ngay cả người đơn ngữ cũng có thể phát triển ý thức này ở một mức độ nhất định, nhưng trong môi trường đa ngôn ngữ, khả năng ấy thường trở nên rõ nét hơn, khi ta dần tách biệt sự vật khỏi chính nhãn gọi ngôn ngữ (linguistic label) gắn với nó.
Trong sự so sánh giữa các ngôn ngữ (cross-linguistic comparisons), chúng ta bắt đầu nhận thức sâu sắc về khung cấu trúc nền tảng của ngôn ngữ. Chúng ta không chỉ đơn thuần nói chuyện mà còn một cách vô thức thực hiện việc đối chiếu ngữ pháp, cú pháp và những sắc thái tinh tế không thể chuyển ngữ giữa những ngữ hệ hoàn toàn khác biệt. Ví dụ như trường hợp chính bản thân hay của một số trong chúng ta từng sống với ba thứ tiếng: tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic với lớp từ vựng chịu ảnh hưởng sâu đậm của Hán ngữ), tiếng Pháp thuộc nhánh Rôman (Romance) và tiếng Anh thuộc nhánh Germanic nhưng cả hai thứ tiếng này đều thuộc hệ Ấn-Âu (Indo-European).
Đối với những ai may mắn, hay bị bắt buộc, được sống, được "trú ngụ" (inhabit) trong nhiều ngôn ngữ khác nhau suốt cuộc đời, năng lực này trở thành một bản năng tự nhiên, một lăng kính sâu sắc để chiêm nghiệm về tư duy và nhân sinh.
Hơn nửa cuộc đời sống nơi xa xứ, khi ngoảnh lại nhìn hành trình tư duy của chính mình, tôi nhận ra tâm hồn mình không gói gọn trong một bờ cõi ngôn ngữ nhất định. Tôi đã sống, đã tư duy và cảm nhận thế giới qua ba lăng kính khác nhau. Tiếng Việt của tuổi thơ ở trong gia đình và trường tiểu học lúc nước Việt Nam Cộng hòa mới thành hình và tự ái dân tộc lên ngôi. Tiếng Pháp của thuở thanh thiếu niên trong trường Pháp lúc tiếng Pháp còn là một ngôn ngữ thế giới rất quan trọng trước khi địa vị bị giảm sút. Và tiếng Anh sau khi định cư nơi xứ người và may mắn thay, chính là lúc thế giới bắt đầu toàn cầu hóa và gần đây kỷ nguyên AI giúp đưa nó lên vị trí độc tôn.
Sự dịch chuyển ấy không đơn thuần là việc thay đổi những phương tiện biểu đạt, mà là một trải nghiệm "trú ngụ" sâu sắc vào từng tầng văn hóa, để rồi đem đến cho tôi một cách tiếp cận siêu ngôn ngữ đầy thi vị.
Nhìn lại mấy mươi năm trước, lúc người Việt chúng ta chưa phải hội nhập với thế giới bên ngoài, trước khi đi ra sống đông đảo ở nước ngoài, lúc phần lớn trong chúng ta chỉ dùng một ngôn ngữ duy nhất là tiếng Việt. Sự trải nghiệm đơn ngữ (monolingual) này tạo nên một ranh giới vô hình nhưng rõ rệt giữa các nền văn hóa. Hiện nay, khác với người nhập cư chúng ta, người Mỹ trung lưu bình thường lớn lên với tiếng Anh – thứ ngôn ngữ đang thống trị toàn cầu – và họ thường sống tự mãn trong một không gian đơn ngữ (monolingual complacency), nhất là lúc không gian đất nước Hoa Kỳ của họ bao gồm 50 tiểu bang giàu có khác nhau cùng chung một ngôn ngữ. Họ có thể đi khắp thế giới, kinh doanh, hay nghiên cứu khoa học mà hầu như không bao giờ cảm thấy áp lực phải học một sinh ngữ thứ hai.
Ngược lại, một người châu Âu hay châu Á bình thường, từ những quốc gia nhỏ hơn, ngay từ bé đã mang một tâm thế khác. Áp lực sinh tồn và hội nhập buộc họ phải làm chủ tiếng Anh, thậm chí là một hoặc hai ngôn ngữ khác bên cạnh tiếng mẹ đẻ.
Ai là người có lợi thế hơn?
Nếu xét về mặt tiện ích ngắn hạn và sự thoải mái trong ngôn ngữ, người Mỹ có vẻ thư thái hơn khi không phải chật vật với những cấu trúc ngữ pháp xa lạ. Nhưng nếu xét về độ nhạy bén của tư duy và độ mở của thế giới quan, người đa ngữ ở châu Âu hay châu Á lại chiếm ưu thế tuyệt đối. Việc phải liên tục chuyển đổi mã ngôn ngữ (code-switching) giúp bộ não của họ hình thành những lối tư duy linh hoạt, khả năng dung hợp những góc nhìn đối lập và một sự thấu cảm văn hóa sâu sắc mà một người chỉ biết độc nhất một ngôn ngữ khó lòng đạt được.
Mấy năm gần đây, một câu hỏi lớn xuất hiện: Liệu trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) có xóa bỏ lợi thế này của người đa ngôn ngữ hay không? Với sự bùng nổ của các Mô hình Ngôn ngữ Lớn (LLM, Large Language Model) là những hệ thống AI được huấn luyện trên các tập dữ liệu khổng lồ để hiểu, tóm tắt, dịch thuật và tạo ra nội dung giống như con người và các thiết bị có khả năng dịch thuật trong thời gian thực (real time) siêu việt, rào cản ngôn ngữ dường như đang sụp đổ. AI có thể dịch một văn bản triết học phức tạp hay một cuộc hội thoại trực tiếp chỉ trong tích tắc. Xét về mặt truyền tải thông tin thuần túy, AI thực sự đang san bằng lợi thế của khả năng biết nhiều thứ tiếng. Một người đơn ngữ giờ đây có thể giao tiếp toàn cầu mà không cần tốn hàng ngàn giờ khổ luyện trong các lớp học ngoại ngữ.
Vậy thì, chúng ta có còn cần học ngoại ngữ trong kỷ nguyên AI nữa không?
Nếu ta xem ngôn ngữ chỉ như một chiếc ống dẫn truyền dữ liệu (data conduit), thì câu trả lời có thể là không. Nhưng ngôn ngữ chưa bao giờ chỉ là dữ liệu. AI có thể dịch chính xác từng từ ngữ (word), nhưng nó không thể trải nghiệm cảm giác sống hay "trú ngụ" (inhabiting) trong ngôn ngữ đó (ít nhất cũng trong tình trạng AI hiện nay, cho đến ngày AI phát triển được ý thức riêng của nó). Khi học một ngoại ngữ, chúng ta không chỉ nạp vào máy tính trong đầu chúng ta một bộ mã mới mà chúng ta đang tái cấu trúc lại chính tâm hồn mình.
Thuyết tương đối ngôn ngữ (linguistic relativity hay còn gọi là giả thuyết Sapir-Whorf) cho rằng cấu trúc của một ngôn ngữ sẽ định hình cách mà người nói tư duy, cảm nhận và nhìn nhận thế giới xung quanh. Dù phiên bản “mạnh” của lý thuyết này không còn được chấp nhận rộng rãi, nhiều nghiên cứu vẫn cho thấy ngôn ngữ không chỉ là công cụ để diễn đạt ý nghĩ, mà giống như một bộ khung quy định sẵn cách chúng ta phân loại cảm xúc, xây dựng tính logic và biểu đạt góc nhìn văn hóa. Khi dùng một “ngoại ngữ”, ở một mức nào đó, chúng ta học cách vui buồn bằng một nhịp điệu khác, tư duy bằng một logic, một cách lý luận khác, và chúng ta trở nên bao dung với những điều dị biệt, những cách nhìn khác mình. AI có thể là một người thông dịch hoàn hảo, nhưng nó không thể thay thế cho một trái tim biết đồng cảm hay thấu cảm (empathize) với người khác. Chúng ta vẫn cần học ngoại ngữ, không phải để làm chiếc máy dịch, mà để gìn giữ khả năng kết nối thiêng liêng giữa người với người, để không bao giờ trở thành những kẻ xa lạ trước nỗi đau cũng như vẻ đẹp của thế giới bên ngoài.
Đối với riêng tôi, tiếng Việt là nguồn cội, là ngôn ngữ của trực giác và cảm xúc nguyên sơ nhất. Đó là tiếng ru từ lòng mẹ, là thanh âm của quê hương xứ sở lắng đọng vào tâm thức từ thuở nằm nôi. Với cấu trúc đơn lập và hệ thống thanh điệu trầm bổng, tiếng Việt dạy cho tôi biết cảm nhận thế giới bằng nhịp điệu của tâm hồn, bằng sự tinh tế của trực giác. Bản ngã nguyên thủy của tôi được định hình từ đó – một không gian mà mỗi từ ngữ đều mang sức nặng của tình thâm và những hoài niệm quê xưa.
Đến tuổi thiếu niên rồi thanh niên, cuộc đời đưa đẩy tôi bước vào thế giới của tiếng Pháp. Đây là giai đoạn trí tuệ thức tỉnh, giai đoạn mà tư duy trừu tượng và óc phân tích bắt đầu hình thành. “Trú ngụ” trong tiếng Pháp, sống với tiếng Pháp vào lứa tuổi băn khoăn của thời trẻ dại là một trải nghiệm kỳ diệu. Cấu trúc ngữ pháp chặt chẽ, duy lý của tiếng Pháp, cùng sự mượt mà đầy chất thơ của những áng văn chương cổ điển hay lãng mạn đã rèn luyện cho tôi một lối suy nghĩ khúc chiết, có hệ thống. Tiếng Pháp không chỉ là phương tiện giao tiếp, nó trở thành bộ khung cho lý trí, thành lăng kính giúp tôi khám phá thế giới nghệ thuật, văn học và những khái niệm triết học sâu xa.
Rồi định mệnh lại đưa tôi đến với nước Mỹ, nơi tiếng Anh trở thành ngôn ngữ của đời sống chuyên môn và những trải nghiệm thực tế hằng ngày. Nếu tiếng Pháp là sự lãng mạn đầy lý tính, thì tiếng Anh đối với tôi là sự chính xác, là ngôn ngữ của chủ nghĩa thực tiễn và hiệu năng (pragmatism and efficiency). Trong môi trường học thuật và làm việc với áp lực cao, tiếng Anh giúp tôi mài sắc khả năng đúc kết thông tin, tư duy logic và đưa ra những quyết định đòi hỏi sự chuẩn xác cao trong y học.
Nhìn lại ba chặng đường ấy, tôi thấy mình như một người đứng trên cao, quan sát dòng chảy của các ngôn ngữ giao thoa. Chính việc dịch chuyển từ không gian văn hóa này sang không gian văn hóa khác đã tạo ra một "khoảng cách ngôn ngữ" cần thiết. Tôi không còn nhìn ngôn ngữ như một công cụ hiển nhiên để gọi tên sự vật, mà nhìn nó như một thực thể có cấu trúc, có cá tính riêng.
Khi viết hay suy ngẫm, tôi thường bắt gặp mình đang thầm lặng so sánh: một khái niệm trong tiếng Pháp sẽ văn hoa, uyển chuyển ra sao, chuyển dịch sang tiếng Anh cần sự gãy gọn thế nào, và nếu diễn đạt bằng tâm tình tiếng Việt thì sẽ sâu lắng biết bao. Sự tự nhận thức này chính là cốt lõi của tư duy siêu ngôn ngữ. Tôi nhận ra mỗi ngôn ngữ là một thế giới quan độc lập; khi ta thay đổi ngôn ngữ, chiều kích tư duy của ta cũng tự khắc dịch chuyển theo.
Sống giữa hai ba dòng hải lưu ngôn ngữ ấy đôi lúc khiến bản thân cảm thấy như một kẻ lữ hành lạc lối không quốc tịch trong tâm tưởng, thấy chua xót, đắng cay như trong bài hát buồn:
Giờ đây, mỗi đứa con lạc loài mỗi nẽo
Đứa London, đứa Paris, đứa đèo heo gió hút
Gặp nhau từng hàng lệ xót xa, buông những câu chào
Đôi ba sinh ngữ, Bonjour, Au revoir, Hello, Good bye
Con gục đầu chua xót đắng cay.
Nguyễn Đức Thành
(trong ca khúc Một lần miên viễn xót xa)
Nhưng nếu vượt lên trên tất cả những khắc khoải của cuộc sống tha hương, nhu cầu và khả năng nói nhiều thứ tiếng có thể là một đặc ân đem lại nhiều lợi ích và niềm vui. Nó cho chúng ta khả năng thấu cảm sâu sắc hơn với những khác biệt, và giúp chúng ta hiểu rằng, suy cho cùng, mọi ngôn ngữ đều là những nỗ lực tuyệt vời của con người để phác họa lại vẻ đẹp và sự phức tạp của thế giới này. Riêng đối với người Việt hải ngoại, trong thế hệ của AI, ngoài nhu cầu hiển nhiên phải thông thạo tiếng Anh hay một ngôn ngữ địa phương nào khác, nói và đọc được tiếng Việt là một khả năng không thể thiếu ở người trẻ nếu chúng ta thật sự tha thiết muốn thế hệ sau thấu hiểu về căn cước, nền văn hóa và nguồn cội của chúng ta.
Ngày 2 tháng 6 năm 2026
Hồ Văn Hiền
——―⁕֍⁕―——
Kính thưa quí bạn dưới đây là email tôi nhận được (gởi cho nhiều trăm người)
(Bắt đầu trích == > )
From: 'wissai' via DiễnĐànDânTộc <diendandantoc@googlegroups.com>
Sent: Sunday, August 23, 2026 1:33 CH
Subject: Re: Tiếng Pháp của "mết xưa/messieurs" VÕ TRỌNG DÂN và Thảo Sình TRẦN QUỐC VIET
Wissai’s Prompt/Question: cụm từ nào đúng: Phủ Lãng sa hoặc Pháp Lang sa?
AI Chatbot COPILOT’s Reply:
Kết luận ngắn gọn:
Cụm từ đúng và phổ biến trong tiếng Việt là “Pháp Lang Sa”, không phải “Phủ Lãng Sa”....................( < === hết trích)
――※――
HCD: Tôi nhớ mang máng rằng không có chữ “Pháp Lang Sa” tôi mới nghe lần đầu. Xưa nay tôi nghe Phú Lang Sa. Tò mò tôi tìm thử thấy –
Trong các bản dịch chữ Nôm hay bản phiên âm Hán-Việt của bộ Đại Nam Thực Lục, chữ Phú Lang Sa còn được chép bằng các biến thể âm Hán như Phú Lang Sa quốc (富浪沙國) hay Phú Răng Sa.Thí dụ (hình) :
Câu đố vui 23-Aug-2026
Chuyện người sáng chế bàn cờ và phần thưởng kỳ lạ
Ngày xửa ngày xưa, ở một nước nọ bên Ấn Độ, có một vị vua rất ham thích những trò chơi mới lạ. Một hôm, nhà vua truyền lệnh cho bá quan trong triều:
— Nếu ai nghĩ ra được một trò chơi mới, vừa vui thú vừa khiến người ta phải suy nghĩ, làm cho trẫm thích thú, người ấy sẽ được ban thưởng trọng hậu. Muốn xin vàng bạc, châu báu hay bất cứ thứ gì, trẫm đều sẽ ban cho.
Tin ấy truyền đi khắp nơi.
Chẳng bao lâu sau, có một người học rộng tài cao đến yết kiến nhà vua. Ông dâng lên một bàn cờ do chính mình nghĩ ra. Trên bàn có những quân cờ với hình dáng khác nhau, mỗi quân có cách đi riêng, tượng trưng cho những đạo quân ngoài chiến trận.
Nhà vua nhìn thấy thì vô cùng thích thú.
Ngài ngồi xuống, học cách chơi rồi say mê đến nỗi chơi mãi không muốn rời bàn cờ. Trò chơi tuy chỉ diễn ra trên một bàn cờ nhỏ, nhưng lại giống như một trận chiến thật sự: khi thì tiến quân, lúc lui binh; khi thì bao vây, lúc lại tìm đường thoát thân. Người chơi phải biết suy tính trước sau, nếu chỉ vì một nước cờ sơ ý mà có thể mất cả trận.
Chơi xong, nhà vua vui vẻ nói:
— Quả là một trò chơi tuyệt diệu! Khanh đã làm cho trẫm được một phen thích thú. Trẫm đã hứa sẽ ban thưởng trọng hậu. Vậy khanh muốn thứ gì? Vàng bạc, châu báu, ruộng đất, nhà cửa hay chức tước? Cứ nói ra, trẫm sẽ ban cho.
Người học giả cúi đầu thưa:
— Muôn tâu bệ hạ, thần không dám tham cầu vàng bạc, cũng chẳng dám xin ruộng đất hay chức tước. Thần chỉ xin bệ hạ ban cho một phần lúa nhỏ mà thôi.
Nhà vua nghe vậy thì bật cười:
— Trẫm tưởng khanh sẽ xin một thứ quý giá, nào ngờ chỉ xin ít lúa! Thôi được, khanh muốn bao nhiêu?
Người học giả chỉ vào bàn cờ rồi thưa:
— Thần chỉ xin một điều rất nhỏ. Xin bệ hạ cho đặt một hạt lúa vào ô thứ nhất của bàn cờ. Ô thứ hai xin đặt hai hạt. Ô thứ ba đặt bốn hạt. Ô thứ tư đặt tám hạt.
Nhà vua hỏi:
— Rồi sau đó thì sao?
Ông mỉm cười đáp:
— Sau mỗi ô, số lúa lại tăng gấp đôi ô trước. Cứ như thế cho đến ô cuối cùng của bàn cờ là đủ.
Nhà vua nghe xong càng cười lớn hơn.
Ngài nghĩ bụng:
“Người này thật lạ! Ta cho phép hắn xin vàng bạc châu báu mà hắn chẳng cần, lại chỉ xin mấy hạt lúa. Chắc chẳng đáng bao nhiêu.”
Nhà vua liền truyền cho quan giữ kho:
— Hãy lập tức đem đủ số lúa ấy ban cho người học giả này.
Quan giữ kho vâng lệnh, lui xuống.
Cuối cùng, vị quan giữ kho mặt mày tái mét, vội vàng chạy vào điện.
Ông quỳ xuống trước mặt nhà vua, run rẩy thưa:
— Muôn tâu bệ hạ...
Nhà vua hỏi:
— Có chuyện gì?
Quan giữ kho đáp:
— Số lúa mà vị học giả xin... không phải là một ít như chúng thần tưởng.
Nhà vua ngạc nhiên:
— Chẳng qua chỉ là vài hạt lúa, có gì mà phải kinh hãi?
Quan giữ kho cúi đầu:
— Muôn tâu bệ hạ, nếu cứ mỗi ô tăng gấp đôi như lời ông ấy xin, thì số lúa cuối cùng sẽ nhiều đến mức tất cả kho lương trong nước cũng không đủ.
Nhà vua nghe vậy thì sững người.
Nhà vua nhìn bàn cờ, rồi nhìn người học giả, vừa kinh ngạc vừa thán phục.
Ngài nói:
— Khanh quả thật thông minh. Khanh không chỉ đem đến cho trẫm một trò chơi hay, mà còn dạy cho trẫm một bài học mà cả triều đình hôm nay mới hiểu được.
--- ⁕ ---
Câu đố: Nếu ban thưởng đúng lời xin thì nhà vua cần bao nhiêu tấn lúa, cho biết 100g lúa ước tính có 5000 hạt.
——―⁕֍⁕―——
From: kim-giám huỳnh <mirordor@
Sent: Sunday, August 23, 2026 2:43 CH
Subject: Re: Góc đố vui và lời giải.
Bài toán không giải được vì cho dù người kể chuyện vẽ rắn thêm chân (tôi nghe từ thuở còn bé tí với bàn cờ tướng), y quên không nói cái bàn cờ có mấy ô. Nếu nó có n ô thì kết quả là 2n−1.
Không ai biết rõ cờ tướng khởi đầu từ lúc nào, có thuyết nói rằng Hàn Tín phát minh dầu thể kỷ -3 . Cuốn sách chữ Hán đầu tiên cho luật cờ tướng ra đời thời Đường. Người ta nghĩ rằng chess Tây Phương ra đời thế kỷ 7 ở Ba Tư, và có thể du nhập từ Tàu. Thế thì nhà học giả Ấn Độ này phát minh ra món cờ này khi nào? Và tại sao chuyện thì ở đất Ấn mà ngôn ngữ thì lại rặc từ ngữ Hán-Việt?
HCD: Thưa Bác sĩ đây là câu chuyện cổ tích về cờ Vua, còn câu chuyện về cờ tướng thì như sau:
Chuyện kể dân gian Trung Hoa truyền lại về nguồn gốc cờ tướng và bài toán hạt lúa như sau:
Truyền thuyết Tào Tháo và người dâng bàn cờ Tướng
Theo thoại cũ truyền lại trong giới chơi cờ, tích này gắn liền với thời Tam Quốc. Có một vị hiền sĩ (có bản kể là một môn khách ẩn danh) đến ra mắt Tào Tháo để dâng tặng một bàn cờ tướng bằng gỗ quý được chạm khắc vô cùng tinh xảo.
Tào Tháo vốn là người chuộng binh pháp, khi thấy bàn cờ có phân chia ranh giới "Sở hà Hán giới" cùng các quân Xe, Pháo, Mã, Tượng, Sĩ, Tướng, Binh được thiết kế theo thế trận điều binh khiển tướng thì hết sức tâm đắc.
Tào Tháo liền phán:
"Ngươi có công dâng bàn cờ quý giúp ta giải trí và suy ngẫm việc binh, ta muốn ban thưởng. Ngươi muốn vàng bạc, châu báu hay làm quan, cứ việc phán một lời!"
Vị hiền sĩ mỉm cười chắp tay thưa:
"Tâu Thừa tướng, thần không mong cầu vàng bạc hay chức quyền. Bàn cờ tướng này có 64 ô. Thần chỉ xin Thừa tướng thưởng cho thần ít lúa tính theo các ô bàn cờ như sau: Ô thứ 1: đặt 1 hạt. Ô thứ 2: đặt 2 hạt (gấp đôi ô thứ 1). Ô thứ 3: đặt 4 hạt (gấp đôi ô thứ 2). Ô thứ 4: đặt 8 hạt...
Cứ như thế, mỗi ô sau đều đặt số hạt gấp đôi ô liền trước cho đến hết ô thứ 64."
Tào Tháo nghe xong liền bật cười lớn, cho rằng người này ngu ngốc vì chỉ xin vài nhúm lúa chẳng đáng giá bao nhiêu, liền sai quan giữ kho lập tức đong lúa mang ra ban thưởng
Quan giữ kho nhận lệnh liền lấy giấy mực ra tính toán để xuất lúa. Thế nhưng càng tính, vị quan này càng mồ hôi hột đổ ra như tắm.
Quan giữ kho lạy phục xuống tâu với Tào Tháo rằng: Cả kho lương của Thừa tướng, thậm chí Gom hết lúa gạo của toàn bộ thiên hạ trong hàng ngàn năm cũng không đủ để trả cho ô thứ 64!
Lúc này Tào Tháo mới giật mình nhận ra trí tuệ thâm sâu của vị hiền sĩ, biết mình đã coi thường người tài nên vô cùng bái phục.
Vài điểm về nguồn gốc câu chuyệnPhiên bản Ấn Độ (Cờ Vua): Đây là dị bản Trung Hoa của câu chuyện gốc rất nổi tiếng ở Ấn Độ về nhà toán học Sissa và vua Shirham đối với bàn cờ Vua (Shatranj).
Số ô bàn cờ: Bàn cờ Vua có đúng 64 ô vuông. Bàn cờ Tướng thực chất gồm 9 đường dọc và 10 đường ngang, tạo thành 90 giao điểm (hoặc 72 ô chữ nhật nhỏ nếu tính cả phần sông). Tuy nhiên, khi chuyển thể sang thoại cờ tướng Trung Hoa, người xưa thường lấy số 64 ô (dựa theo 64 quẻ Dịch lý) để giữ nguyên phép tính huyền thoại này.
Thưa Bác sĩ cả hai chuyện đời xưa nầy để có thể tính toán ra được là ban thưởng bao nhiêu hạt lúa dễ dàng, nhưng các bằng hữu thích tính toán đang bạn chưa trả lời đó thôi. Tôi chờ.
--
Xin vui lòng góp ý với chủ quán ở địa chỉ huy017@gmail.com
---
You received this message because you are subscribed to the Google Groups "Quán Ven Đường" group.
To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to QuanVenDuong+unsubscribe@googlegroups.com.
To view this discussion visit https://groups.google.com/d/msgid/QuanVenDuong/022901dd33e5%24e0862d00%24a1928700%24%40juno.com.
Trung Quốc ươp cải bắp bằng formol, My biến plastic thành bánh ăn được, Đa ngôn ngữ trong thời đại AI, Góc đố vui và lời giải. về bàn cờ tướng.docimage001.jpg
image002.jpg
image003.jpg
image004.jpg
image005.jpg
image006.jpg
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét