Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2026

Hiểu biết thêm với GS Huỳnh Chiếu Đẳng


Kính thưa quí bạn
Hôm nay xin gởi các bạn vài chuyện văn chương tìm thấy trong Báo Xuân Tiếng Chuông 1951
1. Cái lối "chơi chữ" của nhà nho. Chuyện tết tại hai nhà thi-hào: Yên-Đổ và Châu-Mạnh-Trinh
2. Điềm lành và điềm dữ! của Hoài-Cổ
3. Thơ Gối chiếc nằm đau chuyện thế gian ! của Viễn Châu
4. Góc đố vui
HCD
17-Jan-2026
Nếu các bạn không thấy hình chỉ thấy cái khung trống không hình, thì nên dọc Microsoft Word attached.
<!>
Đọc báo Xuân Tiếng Chuông 1951


TiengChuong Xuan 1951.pdf 39486 (< --click để xem hay download)/

CÁI LỖI "CHƠI CHỮ" CỦA NHÀ NHO
CHUYỆN TẾT TẠI HAI NHÀ THI-HÀO: YÊN-ĐỔ VÀ CHÂU-MẠNH-TRINH
Người quân tử tuyệt giao cũng không thốt ra một tiếng xấu (quân tử tuyệt giao bất ác thinh); huống chi đảng này chúng ta có tuyệt giao với nhau được đâu. Nghề nghiệp bắt buộc chúng ta thường phải đi lại gặp gỡ nhau luôn, không hôm nay thì cũng mai mốt. Nếu anh em "mặn" nhau cho thật đậm đà, rồi nay mai thế nào cũng có lúc ăn cùng bàn đi cùng đường, làm việc chung một tòa soạn, mặt mũi ngó nhau khó coi không?
Tốt hơn, dù khi muốn lời qua tiếng lại, châm chích nhau chơi, ta cũng cứ nên giữ đạo phong nhã. Ta làm nghề văn chương, thử hỏi ngay trong văn chương lại thiếu gì phương tiện cho ta thỉnh thoảng cắn chích một hai mụi ngứa ra với nhau, mà không có hại cho phong nhã và cảm tình đồng nghiệp chút nào?
Nói thật tình, về thuật này, chúng ta còn phải học các cụ nhà nho rất nhiều.
Chúng tôi muốn lượm lặt một vài chuyện xưa để làm lệ chứng vừa hiến anh em làng ta, vừa mua vui cho bạn đọc luôn thể.

Lý-Bạch, thi hào đời Đường không ưa gì Thôi-Hiệu, cũng là một nhà thơ đồng thời, nhưng ông thành thật nhìn nhận bài thơ « Lầu Hoàng hạc » của họ Thôi là kiệt-tác, không ai có thể làm hơn được.
Hôm đó, cũng mấy bạn thơ lên chơi lầu Hoàng-hạc, trên vách có nhiều thơ đề, trong số ấy, bài của Thôi-Hiệu là một. Anh em dục ông cũng đề một bài làm kỷ niệm, ông cầm bút viết hai câu như vầy:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.

Nghĩa là:
Cảnh đẹp trước mắt nói không được,
Thôi-Hiệu đã đề thơ trên đầu.
Không có gì khổ cho nhà thơ hơn là thấy cảnh đẹp sờ sờ trước mắt mình mà đề vịnh không được, vì bị bao nhiêu « tình tứ, cảnh sắc, âm luật, cả ý điệu, cho tới thời gian, không gian », nhất nhất gói ghém đủ cả trong bài của Thôi-Hiệu rồi, mình còn lấy gì mà nói được nữa?
Con gà tức nhau vì tiếng gáy, Lý-Bạch lẽ nào chịu thua Thôi-Hiệu? Vị thánh thơ sầu rượu ấy nhứt định tìm một cảnh khác đề vịnh nếu không hơn đứt bài Hoàng-hạc lầu, thì cũng phải ngang nhau để cùng truyền tụng thiên-cổ mới nghe.
Từ đó ông du-lịch nhiều nơi, đề vịnh nhiều cảnh, tuy cũng hay cháo chát, nhưng ông chưa lấy làm đắc ý. Bởi vậy có bài làm ra rồi, ông bôi bỏ đi. Thế cho biết thi-gia cũng phải nhờ có chân cảnh thì văn chương mới hay, chứ không bỗng chốc bịa đặt ra được.
Mãi sau, đến xem cảnh Phụng-Hoàng-Đài là di-tích nước Ngô thuở xưa, ông lên đài ngắm xem núi sông, xúc động tình tứ, liền tức cảnh đề vịnh một bài, đề tựa là « Đăng Phụng-hoàng-đài cảm tác », bây giờ ông mới vừa lòng. Nghĩa là tự thấy bài Phụng-hoàng-đài của mình không phải thẹn với bài Hoàng-hạc-lầu của Thôi-Hiệu nữa.
Thật thế, Lý đề Phụng-hoàng-đài về "tình tứ, cảnh sắc, âm luật, cách điệu, cho đến thời gian, không gian" và nào cũng "tân - thiện tận Mỹ, so với bài Hoàng-hạc-lầu của Thôi chẳng kém cạnh chút nào. Cho nên ngay từ đời Đường cho tới về sau, cả hai bài cùng được truyền tụng là kiệt tác, tuyệt diệu ngang nhau.
Ấy đó, nhà thơ không ưa nhau, ganh hơi tức khí nhau về văn chương, mà tô thêm vẻ đẹp cho nghệ thuật là thế.
Nước nhà ta có chuyện nực cười cách đây độ 40 năm nay, hai cụ Yên-Đổ và Châu-Mạnh-Trinh "mặn" nhau bằng văn chương cũng đậm và hay đáo để.
Hai ông, một già một trẻ cùng là danh sĩ, cùng hay thơ, mặc dầu về khí tiết và quan niệm chánh trị khác nhau. Ông trẻ thì bước vào thân, đóng vai trùm chăn ở ẩn, còn ông dưới là người từng thế lập công danh, làm tới Án-sát-sử. Đối với Châu, cụ Yên-Đổ là hàng phụ chấp vì cụ là bạn của ông thân sinh ra Châu, vì thế Châu vẫn kính nể cụ, nhưng hai người vẫn ngấm ngầm không ưa nhau. Cụ Yên-Đổ ghét Châu thiếu niên tự phụ, cũng như Châu ghét cụ kiêu ngạo, xỏ xiên.
Châu làm tập thơ vịnh Kiều rất hay, cả nôm lẫn chữ, trong đó có những câu xỏ mát cụ Yên Đổ, lại đưa trình cụ nhuận sắc.
Vì cụ Yên Đổ là người tỉnh Hà-Nam mà Châu lúc ấy đang làm Hà-Nam Án-sát-sử. Vì dụ tả "họ Chung có kể lại giá":
Mới biết tuy già là tớ bợm,
Dù ai bóp lẹp cũng vo tròn.
Hay là câu tả Sở-Khanh:
Làng nho người cũng coi ra vẻ,
Bợm xỏ ai ngờ mắc phải tay.

Khi chấm đến những câu ấy, cụ Yên-Đổ có lật ngửa mình ra thế nào không rõ, chứ là người dựng tâm xỏ ngầm mình, cụ bèn ghi vào hai câu sau này:
Rằng hay thì thật là hay,
Nho mà đến "xỏ" thì hay nỗi gì.
Sau khi điểm duyệt xong, cụ lại đề bài thơ dưới đây, làm như một thiện tông vịnh truyện Kiều vầy:
Thằng bán tơ kia rổ nỗi ra,
Để cho bận đến cụ Viên già.
Muốn xong phải kiếm ba trăm lượng,
Khéo xếp đành liều một chiếc thoa.
Đón khách mượn màu son phấn mụ,
Bán mình chuộc lấy tội tình cha.
Có tiền việc ấy mà xong nhỉ,
Đời trước làm quan dễ thế à?

Nhà văn tài hoa lỗi lạc "mặn" nhau bằng văn chương thật tài, thử xem bài thơ 8 câu có một câu một chữ nào không phải là truyện Kiều thế mà tác giả khéo đường dùng kích tây, có chỗ bóng gió xỏ xiên nhau trong đó.
Châu còn thiếu niên đã đậu tiến-sĩ, lại đẹp trai, đa tình, thích chuộng võ số mê-tây, đương thời ai cũng khét tiếng. Cho nên cụ Yên-Đổ mượn đời nàng Kiều mà xỏ mọt tư-đức họ Châu ở câu thứ 5 "Đón khách mượn màu son phấn mụ" và câu thứ 7 "Có tiền việc ấy mà xong nhỉ", nhưng vẫn không mất vẻ phong nhã chỉ có người trong cuộc tự ru với nhau mà thôi.
Cố nhiên, có lịch thì tự ngửa, Châu mới đọc qua, biết ngay "lão già trả đũa" định tìm cách trả đũa lại chơi, nhưng chưa có dịp.
Cách sau bảy tám tháng, vừa dịp gần tết, Châu sai gia-nhơn đem tới biếu cụ Yên-Đổ ai bốn cây Sơn-trà, kèm theo một bức thư viết rất cung kính.
Nhân lúc tết đến xuân sang tặng nhau cây cối bông hoa thì còn gì hợp thời và hình thức hơn nữa?
Cứ theo con mắt của khách bàng-quan như chúng ta, thì sự thật biếu nhiên như vậy đó, nhưng mà người tặng hoa cụ Yên-Đổ lúc ấy có chỗ dụng tâm, ta có thể dùng bài tiếng "chơi khăm" vào đây cũng được.
Vì sao? Vì lúc ấy cụ Yên-Đổ trải qua mấy tháng đau mắt đã hòa nên lòa, không trông thấy gì nữa. Mà Sơn-trà lại là bông hữu sắc vô hương, đem cho người mù, nghĩa là không muốn họ được thưởng thức vậy.
Nên biết nhà nho thuở xưa vẫn có cái thuyết "lấy ngay cái đạo của người mà trị lại người" (dĩ kỳ nhân chi đạo, trị kỳ nhân chi thân) đem ra thực hành rất là sâu sắc. Cũng như tục ngữ thường nói: "mượn dao của giặc mà đâm giặc", cùng một ý nghĩa.
Bởi vậy, ông trẻ tưởng phen này mình thắng bên Sơn-trà, tất là thắng trận, không ngờ bị ông già lấy ngay Sơn-trà "mặn" lại một vố rất cay, thật thế, khi nhận được Sơn-trà của quan nghệ Châu-mạnh-Trinh kính tặng cụ Yên-đổ tắp lự bằng một bài thơ tự sự như vầy:

Xuân lại khách tặng ngô Sơn-trà,
Túy lý mông lung bất biện hoa.
Bạch phát thương nhau, ngô lão hỉ,
Lục bào hữu dữ, tứ quân gia.
Tầm thường tế vũ kinh xuyên tợ,
Tiêu sắt thần phong oán lạc già.
Hành phần cận lai duy di tí,
Liễu vô hương khí nhất hà kha.

Rồi cụ lại tự dịch ra nôm như dưới đây; sinh bình nhà thơ Yên đổ thường tự dịch bài thơ mình làm chữ nôm, có phần hay hơn nguyên văn.
Tết đến người cho một cụm hoa,

Đang say, say chẳng biết là hoa,
Da mồi tóc hạc ta già lắm,
Áo biếc đai vàng bác đấy ạ?
Mưa bụi chỉ kinh phường xỏ lá,
Gió ghê lại sợ lúc rơi già.
Xem hoa ta chỉ xem bằng mũi,
Có đếch mùi thơm, một tiếng khà!

Toàn bài không câu nào không tự sự tả tình với hoa, nhưng thâm ý là ám chỉ vào ông Châu-mạnh-Trinh bất quá như Sơn-trà hữu sắc vô hương, thế mà cũng áo biếc đai vàng làm chi cho uổng? Tóm lại, cụ khinh đứt họ Châu, nhưng mà vẫn giữ vẻ phong nhã, không để lộ ra lời nói nào là mắng, tục tằn, tỏ ra nhà nho "mặn" nhau thâm thúy khôn khéo, thật là đáng phục.
NGU LIÊU
-----===<oOo>===-----
ĐIỀM LÀNH VÀ ĐIỀM DỮ!
của HOÀI-CỔ
Theo sách H-ài Nam-Tử chép rằng: Tái-Ông một hôm bị mất ngựa người nhà ông tỏ vẻ hối tiếc, ông cười bảo: «Chưa chắc đó là việc rủi». Cách vài hôm sau, con ngựa chạy trở về nhà lại dắt về theo một con ngựa khác tốt hơn nó nữa. Người người rằng: «chưa hẳn có ý mừng, ông mỉm cười: "chưa chắc đó là một đều may"».
Vài tháng sau người con trai ông vì cưỡi con ngựa mới ấy bị té gãy mất một chơn, mọi người nhà lại một phen nửa tỏ vẻ buồn thảm, ông lại cũng cứ mỉm cười bảo mọi người rằng: «chưa hẳn gãy chân là một điềm tai họa».
Quả thật thế, vì cách vài tháng sau, trong nước có giặc, nhà vua ra lịnh trưng binh, tất cả trai tráng đều phải nhập-ngũ để quân chinh giặc, riêng con ông vì mang tật què chơn mà được ở nhà, gia đình đoàn tụ.
Mất ngựa không buồn, được ngựa không mừng, con bị nạn gãy chơn lại cũng không lo, Tái ông quả thật đã rèn luyện được cái đạo Trung-dung của người quân tử. Giàu sang chẳng phục, nghèo hèn chẳng động, có phước chẳng mừng, có nạn chẳng oán.
Người ngày nay có được mấy ai xử sự như Tái-ông? Người ta chỉ vui trước những cái vui buồn trước những cái buồn, và lo trước những cái lo của những kẻ quanh mình, chớ làm sao có được một ý-chí vững chắc, một quan niệm nhứt định và một hành vi tự tín nơi mình?
Hôm nay là ngày Xuân, lịch đại truyền thống đã trải từ bao nhiêu thế hệ, cứ theo sự tuần hoàn của Vũ-trụ, đúng ngày đúng tháng là Tết là Xuân vĩnh kiếp không thay đổi và mỗi lần đảo lệ, thì người ta cứ vui tết rước Xuân, làm một việc theo đa số, có khi phải bắt buộc nữa là khác!
H.C.
-----===<oOo>===-----
Đọc báo Xuân Tiếng Chuông 1951


Gối chiếc nằm đau chuyện thế gian !
Trời mịt-mờ sao, tối thượng huyền.
Giao thừa, đêm loạn lớp phong yên.
Nghe xa, thấy rộn lòng tha-khách :
Tuyết ủng lam quan mã bất tiền !

Khói núi mây ngàn, bước viễn ly,
Hướng dương ngào-ngạt lối hoa quỳ.
Kinh thành không kẻ đề thơ nữa,
Gác vắng lâu rồi bặt trúc ty.

Bến cũ nơi nào ? Ôi cố hương !
Nhớ ngàn phương ấy, nhớ ngàn phương...
Đêm nay thời khắc như dừng lại,
Giữa buổi thành đô lấp bụi đường.

Có giấc mơ nào không lửa binh ?
Hồn trai vạn thuở động quân tình.
Hương thề buổi ấy còn vương-vấn,
Dám hẹn cùng ai chuyện tử sinh !

Mây trắng lên rồi, Xuân đã sang,
Vài bông hoa nở tiễn năm tàn.
Say vùi đợt khói tương-tư thảo,
Gối chiếc nằm đau chuyện thế gian !
VIỄN-CHÂU
-------------Tuyết ủng lam quan mã bất tiền (Tuyết ủng Lam Quan mã bất tiền): Đây là câu thơ mượn từ bài Tả Thiên Lam Quan ký dật tôn Tương của Hàn Dũ đời Đường.Nghĩa đen: Tuyết ngập cửa Lam Quan, ngựa không tiến lên được.
Nghĩa bóng: Sự bế tắc, nỗi đau của người bị lưu đày hoặc kẻ lữ thứ gặp cảnh ngộ éo le, không tìm thấy lối về.
Thượng huyền: Trăng bán nguyệt đầu tháng (trăng non). Ánh sáng mờ ảo làm tăng thêm vẻ thê lương.
Phong yên: Nghĩa gốc là khói và bụi, thường dùng để chỉ cảnh chiến tranh, loạn lạc (khói lửa biên thùy).
Tha-khách: Người khách lạ, người ở nơi xa đến (tương tự chữ "thân tha hương").
Trúc ty: Tiếng đàn (ty là dây đàn, trúc là ống sáo). "Bặt trúc ty" ý nói không gian im ắng, không còn tiếng nhạc, sự vui tươi.
Tương-tư thảo: Nghĩa đen là "cỏ tương tư". Trong văn chương cũ, đây thường là cách gọi hoa mỹ cho thuốc lá (khói thuốc) hoặc một loại cỏ dùng để giải sầu. Ở đây ý chỉ việc mượn khói thuốc để quên đi nỗi nhớ nhung.

Đôi nét về tác giả Viễn Châu
Nếu bạn yêu thích cải lương, bạn sẽ thấy bài thơ này mang đậm chất "Vọng cổ viễn phương". Viễn Châu (tên thật là Huỳnh Trí Trình) không chỉ viết lời ca mà ông còn là một danh cầm (đàn tranh). Văn phong của ông luôn trau chuốt, sử dụng nhiều từ Hán-Việt cổ điển nhưng lại đi thẳng vào lòng người bình dân.
-----===<oOo>===-----


4 attachmentsDownload all

Không có nhận xét nào: