Kính thưa quí bạn
Hôm nay xin gởi các bạn một chuyện ngày xưa và một chuyện ngày nay
1. Trọng câu chuyện, các bạn thường nghe ba chữ, ba tiếng "Già Ba-tri". Nghe tiếng "Già Ba-tri", nhưng có bạn không rõ gốc tích từ đâu mà có, lại có người hiểu lầm nghĩa ba chữ tốt đẹp này ra một nghĩa dè-bỉu
2. Cách nhận biết một YouTube bày thuốc tầm bậy (Vì một chút tiền vì cầu view mà hại một mạng người thì trước sau gì cũng phải trả quả).
3. Góc đố vui
HCD 16-Jan-2026
Nếu các bạn không thấy hình chỉ thấy cái khung trống không hình, thì nên dọc Microsoft Word attached.
Tình cờ đọc được bài nầy trong Nam Ky Tuan Bao 1943 về xứ Ba Tri, thấy có nhiều tài liệu lịc sử về chúa Nguyễn Ánh, cụ Võ-trường-Toản, thầy học Ngô-tùng-Châu, Trịnh-hoài-Đức, Lê-quang-Định, thầy chung của cả xứ Đồng-nai, Phan-thanh-Giản, Nam-kỳ Kinh-lược-sứ, Nguyễn Đình Chiểu, tác giả của quyển "Lục Vân Tiên" nên tôi gởi các bạn cùng xem
BA-TRI
Độc giả hay trọng câu chuyện, các bạn thường nghe ba chữ, ba tiếng "Già Ba-tri". Nghe tiếng "Già Ba-tri", nhưng có bạn không rõ gốc tích từ đâu mà có, lại có người hiểu lầm nghĩa ba chữ tốt đẹp này ra một nghĩa dè-bỉu. Nay tôi xin hiến các bạn câu chuyện "Già Ba-tri".
Mà Ba-tri là gì? — Ba-tri là tên xứ, xứ mà ngày xưa dân thổ gọi Ba-si. Có lẽ chữ "Si" nghe không tốt, người Nam ta hồ "khuông bình" thành ra "Tri". Rồi vì thấy ở đây nhiều cá nên kêu là Ba-tri-cá.
Ba-tri được nổi tiếng hơn là nhờ nó có những một phần của những người mà ai cũng muốn nhắc tên kể chuyện. Tôi muốn nói: Võ-trường-Toản, thầy học Ngô-tùng-Châu, Trịnh-hoài-Đức, Lê-quang-Định, thầy chung của cả xứ Đồng-nai, Phan-thanh-Giản, Nam-kỳ Kinh-lược-sứ, Nguyễn Đình Chiểu, tác giả của quyển "Lục Vân Tiên".
Ngày nay, Ba-tri là tên của một quận về tỉnh Bến-tre.
Ngày xưa, hồi dân ta mới tiến vào Nam-kỳ thì Ba-tri là một trại — tức Ba-tri cá trại — chở chưa thành làng xã. Từ năm Cảnh-Hưng thứ ba (1742) có người ở Quảng-nghĩa (về phủ Tư-nghĩa bây giờ) là Thái-hữu-Xưa vào đây làm ăn. Ông làm chức Cai-trại tức là người làm đầu trại Ba-tri-cá và lo việc thâu thuế nạp cho quan trên. Con ông là Thái-hữu-Chư thì lo việc chở lúa thuế lên dâng tại Long-hồ-dinh. Vì giỏi sức mạnh, Chư thường đánh tan hoặc bắt sống bọn cướp đón ghe; vì vậy quan trên cử ông làm chức Quản-trị để tuần phòng tặc khấu.
Năm Cảnh-Hưng thứ 20 (1759), có chỉ dụ cho lập làng, Thái-hữu-Xưa và bọn các ông Phan Viết-Tới, Trần văn-Tấn... xin đặt cho Ba-tri-cá-trại cái tên An-bình-đông. Thái-hữu-Xưa được cử làm Thủ-khoán, Thái-hữu-Chư làm chức Trị-thâu. Thế là từ khi khai thác thổ cương tới lúc lập thành thôn xá, công của họ Thái-hữu ở xứ Ba-tri thật rất nhiều, thật đáng cho đời đời nhắc nhở.
Và trước khi thuật chuyện "Già Ba-tri", tôi xin thuật cho các bạn nghe chuyện một ông già ở xứ Ba-tri làm chức Cai-việc tên Trần Hạc.
Tháng 10 năm Đinh-Vị (1787), sau khi gặp Trương-tấn Bửu (1) ở Cái-da-trại (nay là làng Hiệp-hưng, tỉnh Bến-tre), chúa Nguyễn-Ánh đến trú tại nhà Hạc bên Rạch-U, gần mé sông Hàm-luông. Hồi ấy có lẽ người ta gọi chỗ này là "Vụng Cai-việc", nhưng lâu ngày lâu lần gọi sai đi nên nay chỉ quen gọi là: "Vụng Việc". Vì e tẩu lậu phong thinh, cứ mỗi ngày, lúc chưa rạng chơn trời, Hạc đã đưa chúa đến ở tại Cồn-Đất, một cù-lao nổi giữa sông Hàm-luông, ngang vàm Rạch U. Ở trên cù-lao này, chúa Nguyễn-Ánh rất được yên thân, nhất là được ngắm xem tứ phía để coi chừng thuyền giặc. Chỉ hiềm nỗi trên cồn này, bùn non rất nhiều, sình lầy lên khỏi đầu gối, chúa Nguyễn-Ánh không sao đi xa được. Hạc phải đóng đóng Ngói mà đi từ mé sông vào giữa cù-lao hay từ giữa cù-lao ra mé sông. Khuya lui đưa ra, tối thì rước về, ngày nào cũng như ngày nấy.
Lúc đó Trương-tấn-Bửu lui lủi tới tới khắp vùng, khuyên dụ mọi người giúp chúa. Chẳng bao lâu, quân nghĩa dũng kéo đến đông mịt tại nhiều ở vũng Ngao-châu (1). Quân lính có, thuyền bè sẵn, lương thực nhiều, một mặt chúa Nguyễn Ánh sai Nguyễn đức Xuyên sang Gò-công dụ Võ-Tánh, một mặt Ngài kéo quân sĩ băng qua Băng-cung, do Eo-lợi ra Cổ-chiên mà thẳng đến Hồi-oa (Nước-Xoáy, thuộc làng Long-hưng, tỉnh Sa-đéc).
Có lẽ không biết võ-nghệ hay vì không ham chiến trận, Trần-văn-Hạc không theo chúa đánh giặc, chỉ ở nhà hoặc đốn củi hoặc chài câu. Khi đã lên cửu ngũ, vua Gia-Long muốn phong quan tước cho Hạc, nhưng vốn thích thú ngư, tiều, Hạc không thọ chức. Gọi để đáp ơn, vua cho Hạc hưởng cá huê lợi trên con sông cái từ đền Hàm-luông (trên mỏm cù lao Bảo, Bến-tre) đến cửa biển. Vì thế mà có câu thành ngữ: "Tự Hàm luông chí hải khẩu", bây giờ vẫn còn quen nhắc ở tỉnh Bến-tre.
Về sau, phần thì cho người khác, phần thì bán đi, con cháu của Hạc chỉ còn giữ một ít đất trên Cồn-Đất. Nhiều bực cổ lão ở vùng Ba-tri có được thấy tờ chỉ dụ ban cấp này vì lúc ông Bầu U còn sống thường đem khoe với các người quen. Song, tiếc thay, gần đây cháu chắt của Trần-văn-Hạc thừa kiện nhau nên tờ chỉ dụ ấy bị giấu mất. Nếu các bạn có hỏi thì họ nói người trước đã đem chôn xuống sông Hàm-luông, hoặc họ nói đã mất đi rồi!
Chẳng những Hạc được huê-lợi dường ấy thôi, mà Hạc còn được Vua ban cho một tấm kim bài trên khắc chữ: Miễn-tử (2). Lâu lâu, Hạc nhớ vua, muốn đi thăm. Các quan ở Long hồ phải lo ghe thuyền để đưa đi. Mà không quên mặc áo rộng đi bia cho đúng điệu được nội bực bội bước ra một bước đã có đứa hầu, bước về một bước đã có người chực, chỉ nhớ cảnh bến cội, bần ở trần hóng gió, trên thuyền câu nhâm nhi rượu xem trăng, Hạc bái từ Vua mà về, về để yên hưởng cái vui với thú thiên nhiên ở chốn quê mùa mộc mạc!
Hồi ấy, đương khi Trần-văn-Hạc ngày ngày công chúa lỗi lầm thì con của Trị thâu Thái hữu Chư là Thái hữu Kiềm thường mang cơm gạo đến dâng. Chúa hỏi Kiềm làm chức chi, Kiềm tâu là Trùm-trưởng. Chúa bèn phong cho Kiềm làm chức Trùm-cả làng An-bình-đông. Bấy giờ đất đã mở thêm rộng, làng đã xếp đặt yên, Trùm-cả Kiềm nghĩ đến việc lập chợ để tiện cho nhơn dân buôn bán.
-----
Chú thích trong văn bản:
(1) Bửu sau được phong tước Long-vân-hầu, làm quan đến chức Trung quân kiêm Tả quân Phó tướng khâm sai chưởng doanh (chánh nhứt phẩm), lãnh Gia-định thành Phó tổng-trấn.
(1) Ngao-châu là bãi Ngạo gồm cả gành Bà-Hiền và gành Mù ở Ba-tri.
(2) Về "Miễn tử kim bài" trong truyện Nguyễn-v-Trị ở bộ "Đại Nam Liệt truyện" có chép là vua Gia-Long ban ra mười tấm, nhưng người ta không nhớ những ai được lãnh.
Thông tin bổ sung: Bài viết này nằm trong một loạt ký sự về lịch sử vùng đất Ba Tri (Bến Tre), nhấn mạnh vào lòng trung thành và lối sống thanh cao của những bậc tiền nhân như Trần Văn Hạc.
----
Năm Gia-long thứ năm (1806), Thái-hữu-Kiềm lập ra chợ Ba-tri, lại đắp hai con đường từ Ba-tri đi Vĩnh Đức Trung và từ Ba-tri đi Phú-lễ. Dân các giềng các làng xung quanh càng đến đông, ghe thương hồ các nơi càng đến nhiều, chợ Ba-tri vì vậy mà càng ngày càng phồn thịnh.
Bởi thế cho có trước là "Chợ ngoài" ở về làng An-hòa-tây, cách chợ Ba-tri ba ngàn thước, ngày một thưa thớt. Có chịu được như thế đâu, Xã Hạc ở chợ ngoài bèn dắt dân đắp ngăn rạch, ghe thuyền từ sông Hàm-luông không thể vào chợ Ba-tri được nữa.
Có chịu được như thế đâu, Cả Kiềm ở chợ trong bèn dắt dân đi kiện: kiện đến huyện, kiện đến phủ, kiện đến quan trên! Không biết Xã Hạc chạy chọt giỏi thế nào mà đến dân quan nào cũng xử: "Người ta đắp đập trong địa phận làng người ta mà kiện cáo cái gì?"
Khổ thay, Cả Kiềm tức mình đến thế nào mà quyết kiện đến kinh đô. Ông bèn cùng hai kỳ-lão, Tham-trưởng Nguyễn-văn-Tới và Hương-trưởng Lê-văn-Lợi, gom góp tiền lưng đi bộ ra Huế kêu nài tận tòa Tam-pháp!
Vì vua Minh-mạng từng đọc những chuyện gian lao của Đức Cao-hoàng ở Nam-kỳ, biết rằng Tiền-đế có phen đã được người Ba-tri giúp dập mà Cả Kiềm là một. Ngài muốn biết mặt Cả Kiềm, nhất là nghe Kiềm đã già cả mà dám đi bộ từ Đồng-nai ra tới kinh đô. Ngài cho gọi cả ba người vào và hỏi han tự sự. Ngài truyền xả làng thì riêng, rạch thì chung, quan cai trị phải xuống coi phá đập.
Từ đó, người ta gọi chợ của Cả Kiềm là Ba-tri Cạp-Đập. Và từ đó, mỗi khi kể chuyện mạnh mẽ, cứng cỏi của Thái-hữu-Kiềm, ai cũng phải tấm tắc khen và kính phục "Già Ba Tri", ai cũng cho là chỉ có "Già Ba Tri" mới làm được việc như vậy.
Sự tích "Già Ba-tri" hay họ như thế. Hay họ như thế mà người ta thường hiểu lầm ý nghĩa của nó. Bản thảo "Sự tích xứ Ba-tri" của ông Thái-hữu-Võ có chép rằng trong khi trấn tỉnh Vĩnh-long, thường nghe nhiều người gọi đùa kẻ nào già cả mà còn mạnh ăn hay nhậu vỗ là "Già Ba-tri", Kinh lược sứ Phan-thanh-Giản phải giảng đi giảng lại cho họ hiểu "Già Ba-tri" là người già mà quật cường, can đảm, là người có công sửa làng giúp nước lập chợ, mở đường, chứ không phải người già mà ăn nhiều hay làm vợ!
Vậy tôi xin mượn lời giảng đó làm lời kết cho bài này, để các bạn xa gần rõ cho đúng nghĩa ba tiếng "Già Ba-tri".
LÊ-THỌ-XUÂN
-----===<oOo>===-----
Có hàng ngàn tạp chí nơi đây Kho Sách Xưa
From: Trần Quang Minh <fm92683@
Sent: Friday, January 16, 2026 7:14 SA
Subject: SỨC KHỎE 004
Xin tặng cho người gởi email bày thuốc và tác giả cái YouTube trên câu nầy:
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,
Cao phi viễn tẩu giả nan tàng.
Vì một chút tiền vì cầu view mà hại một mạng người thì trước sau gì cũng phải trả quả.
Dưới đây là nhận xét của tôi vê cái YouTube trên
Tôi để chữ màu den từ đây.
Nói chung khi chúng ta xem video bày thuốc nếu thấy những thứ nầy thì nó là đồ xã rác
Dấu hiệu của loại video “sức khỏe rác”
Bạn có thể nhận ra ngay qua các đặc điểm: “Bách bệnh tránh xa” “Ung thư nghe thấy khiếp sợ” “Điều trị hàng loạt bệnh mãn tính”
Nói nguồn “Viện nghiên cứu Nhật – Mỹ” nhưng không có link để bà con vào đọc chi tiết
Dấu hiệu khác
Trộn lẫn: Dinh dưỡng Đông y Thực dưỡng âm linh (âm – dương – năng lượng)
Đây là kiểu câu view, không đáng tin về y khoa.
Chi tiết vài cái nguy hiểm của người bày thuốc trong YouTube trên:
1. Về nước đậu đen Sai hoặc thổi phồng “Ngăn ngừa ung thư”, “giải độc gan”, “bổ thận”, “tăng trí não” không có bằng chứng lâm sàng mạnh.
“Giảm HbA1c 0,5% nhờ nước đậu đen” tần bậy, vì: Nước đậu đen không có nhiều chất xơ như đậu ăn nguyên hạt
Nguy hiểm nếu tin theo Người tiểu đường uống thay nước, nghĩ là thuốc đường huyết vẫn tăng. Người bệnh gan, thận tự ý dùng nhiều có thể đầy bụng, rối loạn điện giải.
2. “Đậu đen giải độc thuốc, làm giảm tác dụng thuốc” Sai quá lớn: Không có bằng chứng đậu đen “giải độc thuốc”. Nói chung chung như vậy khiến người bệnh sợ uống thuốc Tây tự ý ngưng thuốc điều trị
Đây là điểm nguy hiểm nhất trong toàn bài.
3. Phần nguy hiểm cao – không nên làm theo
Đậu đen ngâm giấm – ăn mỗi ngày
Rất nguy hiểm Giấm đậu khô kích ứng dạ dày: Những người bị: Viêm dạ dày Trào ngược Huyết áp thấp Suy thận làm theo rất dễ đau bụng, tụt huyết áp, rối loạn tiêu hóa
Các bày thuốc sau không có chứng cứ đáng tin: Giảm mỡ máu 80% Điều trị tiểu đường, tuyến tiền liệt Trị đau lưng, tóc bạc, cải thiện thị lực
Đây là dạng “thần dược dân gian” – rất dễ gây hại nếu dùng lâu dài.
4. Ăn vỏ trứng để bổ sung canxi
Vô cùng nguy hiểm
Vỏ trứng: Có thể chứa vi khuẩn Salmonella Kim loại nặng
Canxi từ vỏ trứng: Khó hấp thu Dễ gây sỏi thận
Không tự ý ăn vỏ trứng, đặc biệt người lớn tuổi.
Kết luận: Thấy thì nói, không nói không yên tâm, Cũng như mọi chuyện khác, các bạn hãy tin ở chính mình, đừng tin tôi, có khi tôi sai.
-----===<oOo>===-----
-----===<oOo>===-----
Câu đố dưới đây thật dễ để bù lại mấy câu khó vừa rồi.
--
Để gửi thư, quý bạn dùng địa chỉ email:
ban-van-tho-chinhtri@googlegroups.com
---
You received this message because you are subscribed to the Google Groups "Ban Van Tho Chinh Tri" group.
To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to ban-van-tho-chinhtri+unsubscribe@googlegroups.com.
To view this discussion visit https://groups.google.com/d/msgid/ban-van-tho-chinhtri/023001dc870b%24d45061e0%247cf125a0%24%40gmail.com.
10 attachmentsDownload all
Preview
Download
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét