Khi miền Nam sụp đổ, Nguyên lúc đó là thiếu tá Liên đoàn trưởng liên đoàn Địa Phương Quân của tỉnh, bị Việt Cộng bắt đi học tập. Thực ra là bị đày, bị đẩy vô các trại tù khổ sai dài hạn.Từ khám lớn, một chiều mưa, bọn họ đem xe G.M.C phủ bạt kín mít chở sĩ quan cấp tá đang bị giam cầm, đưa ra miền Bắc, tống vào những nơi sơn lam chướng khí. Họ bị bắt buộc phải lao động quần quật như trâu bò, ăn uống thì thiếu thốn. Bọn cầm quyền Cộng Sản định giết lần giết mòn số sĩ quan thua trận. Người nào sống sót trở về cũng mang nhiều bịnh tật, gia đình tan nát.
<!>
Nguyên là một trong số người kém may mắn đó: Vợ ôm con vượt biên với tình nhân, nhẫn tâm bỏ Nguyên đói khát trong ngục tù của Cộng Sản. Khi được thả ra, Nguyên đến một nơi mà bình sanh chưa bao giờ biết hay nghe đến tên để đem di vật của Thiếu tá Đạm, giao cho vợ là chị Hảo ở Tắc Cậu, thuộc Rạch Giá. Đạm, bạn thân với Nguyên, ngã bịnh mà thiếu thuốc men nên đã chết trong trại khổ sai, hơn hai năm rồi. Nguyên hy vọng sớm gặp chị Hảo để trao cái bóp, một tấm ảnh kỷ niệm hai vợ chồng lúc mới cưới. Chị Hảo, từ khi hay tin chồng chết tức tưởi trong trại tù, đã xin đem xác chồng về quê chôn cất, bị từ chối. Chị hận thù bọn người không lương tâm nên đem hai con vượt biên và hiện đang định cư ở Mỹ. Ông bà Bảy, ba mẹ vợ của Đạm ân cần tiếp đãi Nguyên. Nguyên tìm hiểu cuộc sống tại địa phương nầy, anh có ý định đến đây định cư, vì khi còn sống Đạm luôn ca tụng quê vợ, nơi mà thiên nhiên ưu đãi: đất đai phì nhiêu, khí hậu dễ chịu, nhiều tôm cá, dân chúng hiền hòa.
Nguyên nhờ bác gái hỏi giùm xem chánh quyền ở đây cho anh nhập cư không? Bác Bảy đi một chốc về cho biết ông Trưởng ấp chấp thuận nhưng ông cần gặp Nguyên để xem những giấy tờ cần thiết.
Nguyên mượn của em gái 5 chỉ vàng, anh bán 1 chỉ lấy tiền đi xe. Tại Tắc Cậu, Nguyên mua chỗ ở hết 1 chỉ (thực ra là hối lộ 1 chỉ để có nhà cửa sẵn có thay vì phải tìm cây lá để cất chòi ở trên phần đất được chỉ định. Tính toán kỹ, Nguyên đành đưa 1 chỉ vàng để mua chỗ). Đêm đó trước khi nhận chỗ ở mới, Nguyên hỏi thăm tất cả mọi chuyện về ấp nầy, về cái nhà mà anh sẽ sở hữu. Bác Bảy cho biết, căn nhà đó đầu tiên là của ông Tám Long, ông là võ sư có võ đường ở miệt Sóc Trăng, Bạc liêu gì đó. Lúc đến đây ông già rồi ít ai thấy ông dượt võ, chỉ thấy ông giăng câu giăng lưới làm kế sinh nhai. Đâu chừng năm 1977 ông bịnh rồi chết, không bà con quyến thuộc, dân trong ấp giúp đỡ hòm rương chôn ông tại nghĩa địa cách đây chừng hút tàn điếu thuốc. Kế đó 1 người Tàu lai còn trẻ cùng vợ con đến lập nghiệp và ấp cấp nhà đó cho vợ chồng họ. Chú Tàu định cư ấp nầy cũng làm rẫy chút đỉnh nhưng mục đích chính là tìm đường vượt biên. Chú đã ra đi thành công. Nhà đóng cửa mấy tháng nên bàn ghế, tủ giường bị dân hôi của lấy hết. Ai vào ở, việc trước tiên phải mua giường ngủ, nồi niêu, soong chảo.
Sáng hôm sau Nguyên từ giã gia đình bác Bảy. Ông trưởng ấp đợi Nguyên và giao cho anh tờ khai gia đình. Ông khuyên Nguyên cố gắng làm ăn, đất vùng nầy sẽ đãi ngộ người mới đến. Nguyên chỉ cười và cám ơn ông trưởng ấp. Nơi đây bước đầu thấy dễ thở, không biết về sau thế nào. Anh chép miệng: thây kệ, có cảnh nào mình chưa trải qua đâu. Lo lắng chi cho mệt.
Nguyên mở cửa vào nhà, mùi ẩm mốc xông lên rất khó chịu. Trên cây cột Nguyên thấy có bó nhang đựng trong ống lon, anh lấy 3 cây đốt lên khấn Đất Đai phù hộ cho anh được bình yên. Anh cũng van vái ông Tám Long, chủ đầu tiên của nhà nầy, xui khiến cho anh gặp may mắn trên bước đường tỵ nạn. Nguyên đưa mắt nhìn bao quát, phía trước căn nhà: vách, cửa, bằng ván; xung quanh toàn lá. Chỗ ngủ, chỉ có tấm vạt tre thay giường, Nguyên leo lên nằm lăn qua trở lại xem nó còn chắc không: một trụ ở giữa gãy khiến bộ vạt oằn xuống, cần phải thay trụ khác mới ngủ được.
Rảo quanh miếng đất nay thuộc sở hữu của anh, hy vọng tìm được cây làm nạng nhưng không có. Cỏ mọc um tùm chắc phải mất hơn tuần để dọn.Gần tới khoảnh đất ruộng, Nguyên thấy cái rổ xúc để khuất sau bụi cây trong đựng nồi nấu cơm, ấm nấu nước, 2 cái chảo, cái bình tích, 4 ly, tất cả đều bị cỏ bò phủ lên. Có lẽ chủ nhà nầy lo xa: nếu đi không được, về nhà cũng còn nồi niêu để nấu nướng. Ngoài đám dừa nước, qua cơn gió Nguyên thấy tấm vải cao su lớn dài từ đám lá phất lên, đầu kia như có người giữ chặt. Thấy lạ, Nguyên lội ra xem, thì ra chiếc ghe cỡ 30 giạ được giấu tại đám lá nầy trên chất đủ thứ gồm: 1 máy đuôi tôm lọai nhỏ, mấy thùng có nắp đậy kín. Anh bè chiếc ghe vô sát nhà, khuân lên từ món, 1 thùng đựng gạo, thùng lớn hơn đựng quần áo, cái bồng có mùng mền. Nguyên đem tất cả vô nhà và kiểm soát: gạo có mùi ẩm mốc, mùng còn tốt, mền lành lặn, mấy bộ đồ đàn ông, 2 bộ đồ đàn bà, áo lạnh bông trạc tuổi con gái của Nguyên.Nguyên cầm áo lên ướm thử và thầm nói: chắc là con gái của mình cũng cỡ nầy. Nguyên lấy áo máng lên móc, anh cầm thấy nặng khác thường, nhìn kỹ Nguyên phát hiện trong vạt áo có những khoen tròn,tìm vật nhọn gở chỉ Nguyên thấy 5 khâu vàng, cổ áo có miếng vàng dát mỏng may lót bên trong. Anh mang mùng ra phơi, quấn trong mền là 1 gói bằng giấy dầu đựng trong bao nylon, anh mở ra thấy quá nhiều tiền, đếm thử là 1 triệu 500 ngàn. Anh cất những món đồ có thứ tự và đúng vị trí của nó.
Việc đầu tiên, Nguyên đến Bác Bảy mượn cái búa tay, đốn vài cây làm nạng cho cái giường, mượn luôn cái dá dẫy cỏ.Trên đường về Nguyên ghé tiệm mua gạo, nước tương, 1 nải chuối, 1 gói trà con cua, cái đèn bảo, 1 xị dầu lửa thắp sáng tối nay cho nhà đỡ âm u. Đem tất cả vô nhà, Nguyên chèo ghe qua đám rừng đước bên kia sông đốn vài cây. Trong vòng 1 tiếng đồng hồ anh đã tìm đủ mọi thứ cần thiết. Nguyên nhắm chừng chiều dài cây trụ giường gãy, đo cây mới làm lại. Anh đào xuống chừng gần 2 lớp dá thì đụng nhầm vật gì khá cứng. Nguyên đào tránh sang một bên thử xem vật gì, đó là một cái thùng giống thùng đựng đạn đại liên quân đội thường xài. Nguyên cẩn thận đào xung quanh và bưng thùng ấy lên. Đồ đạc bên trong còn được gói kỹ trong bọc giấy kiếng dày. Mở toàn bộ anh thấy trên như là cái thư hoặc di chúc, kế đó là vàng, trút ra đếm thử được 20 miếng, phía dưới cùng có 2 tập vở khổ nhỏ. Bỏ vàng vào thùng đạn như cũ, Nguyên sắp xếp giống y lúc ban đầu. Anh lấy 2 cuốn sổ, thơ xem chủ nhân nói gì.
Chủ nhân vì không con cháu để lại gia tài ông tích cóp mấy chục năm cho người có duyên (giống truyện Kiếm hiệp). Ông người Bình Định, tha phương từ khi còn nhỏ. Ông học võ với thầy ở quê nhà, sau đó vào Nam trước tìm kế sinh nhai đồng thời thi thố tài nghệ của mình. Tuổi trẻ bồng bột ai động tới là đánh, có lúc vì đánh người gây thương tích bị Tây bắt bỏ tù ở Biên Hòa. Trong khám lại gặp anh chị bự, không muốn đánh mà vẫn bị khiêu khích hoài. Đánh thắng tên xếp sòng ở khám, đến khi được thả ra tên bị đánh bại tôn ông làm sư phụ và học võ Bình Định với ông. Hắn vận động mở võ đài. Ông thắng nhiều trận khiến tên học trò đó nở mũi. Nhờ sự giúp đỡ về tài chánh của chú đệ tử, ông mở lớp dạy võ. Khổ nỗi, ông muốn an thân mà anh hùng các nơi cứ rủ đọ sức mãi. Rốt cục ông phải bỏ trường dạy võ trốn vào miền gần Cà mau lập nghiệp và lấy vợ. Hai vợ chồng chỉ sanh một đứa con trai thông minh đỉnh ngộ. Ông cho con đến trường học chữ hy vọng con theo nghiệp văn. Con trai ông học giỏi, sau khi đậu Trung học thì được học bổng sang Pháp học Tú Tài (Trung học lẫn Tú Tài đều học theo chương trình Pháp, lúc nầy V.N còn bị Pháp đô hộ). Con tàu còn lênh đênh trên biển, con ông bị trúng gió chết. Vợ chồng ông đau khổ khôn xiết, bà vợ tối ngày than khóc sanh bịnh rồi mất. Ông buồn quá chỉ uống rượu giải sầu, ông nghĩ mình đã đánh đập oan nhiều người nên con bị chết yểu vì vậy ông thề bỏ võ. Ông học nghề mới: giăng câu, giăng lưới, suốt ngày lênh đênh trên sông nước. Ông chép ra cách làm mồi giăng câu, nếu làm đúng như ông chỉ dẫn, ông bảo đảm sẽ được nhiều cá. Phần ghi chú: Ông căn dặn chỉ nên phổ biến hạn chế.
Đọc hết bức thơ của Ông Tám Long để lại, Nguyên tự nhủ sẽ tìm mộ ông dọn dẹp sạch sẽ chứ không để hoang phế nữa và thờ cúng ông tử tế như thờ cha mẹ vậy. Nguyên đem chôn thùng đạn đựng vàng vào chỗ cũ, tưới nước dậm kỹ lưỡng. Được của bất ngờ khiến anh mừng vui lẫn hồi hộp âu lo. Lòng dặn lòng phải thật kỹ lưỡng trong việc chi tiêu, phải cố gắng làm việc cật lực trong giai đoạn đầu, nếu thiên hạ biết mình có tiền e phiền phức.
Sáng ra anh đi mua ít ngói fibro-cement về sắp nóc nhà lại cho khỏi dột.Việc nặng nhọc nầy cần thanh niên cháu Bác Bảy nhà kế bên có thể giúp được. Nguyên và chú thanh niên chèn những chỗ dột, sắp nóc nhà trong một buổi đã xong. Ngày kế, sau khi ăn sáng Nguyên bắt đầu làm sạch cỏ xung quanh nhà, anh dự định mua mớ hột về trồng vừa có rau củ ăn vừa để cho cỏ không mọc được. Ngoài trồng rau Nguyên đào thêm lỗ tỉa bắp. Chiều rảnh Nguyên đến Bác Bảy nhờ chỉ nhà ông chuyên môn giăng câu thả lưới. Bác Bảy dẫn Nguyên tới nhà ông Ba Câu Giăng. Ông Ba hơn 60 có vẽ bịnh hoạn. Khi anh ngỏ ý nhờ ông tóm giùm đường câu và kết chì mấy tay lưới, ông chưa kịp nói gì thì bác gái lên tiếng:
- Chú muốn giăng câu, giăng lưới thôi lấy câu và lưới của ông tôi mà xài. Ổng mới ra nghề vài lần kế bịnh riết có làm ăn gì được đâu!!
Bác trai thêm vào:
- Nếu cháu không chê đồ cũ tôi để lại phân nửa giá vốn.
Nguyên hỏi giá rồi móc tiền trả không cò kè bớt một thêm hai. Có lẽ Bác Ba biết bịnh của mình chắc lâu hết và khó có thể làm lại nghề phải trải gió dầm sương nầy nên bằng lòng bán lại cho Nguyên. Anh ôm câu, lưới ra về và quyết định hôm sau sẽ khai trương. Giăng câu Nguyên học với 2 thầy, qua thơ để lại của ông Tám Long và của Bác Ba Câu. Đi chợ mua cá vụn làm mồi câu, nhân tiện mua các loại hạt và cà phê. Đã 8 năm Nguyên gần như quên hương vị đăng đắng của cà phê, nay có điều kiện cũng nên thưởng thức lại mùi hương ngạt ngào pha lẫn chất ngọt của đường cho đời bớt tẻ nhạt. Anh đến tiệm bán hạt giống mua hạt rau muống, hạt bắp, và vài loại hạt khác nữa. Cô chủ tiệm hỏi một câu khiến anh quá ngạc nhiên:
- Bộ anh ở xa mới tới hả?
- Sao cô biết?
Cô chủ tiệm cười:
- Bà con vùng nầy đều đen, chỉ anh là trắng hơn cả. Điều đó cho biết anh không phải dân ở đây.
Nguyên phục tài nhận xét tinh tế của cô chủ tiệm, anh nói xuôi:
- Tôi từ vùng trên xuống đây làm mướn, chủ sai đi chợ mua hạt giống.
Cô cười lớn:
- Tướng anh mà làm mướn nổi gì.
Nguyên cười trừ, trả tiền rồi ra về vì còn biết bao việc phải làm. Xong mồi câu, Nguyên vào xóm nhờ ông Năm cùng đi mua tro trấu. Ông Năm hỏi:
- Cháu cần tro trấu nhiều hay ít? Để làm gì?
- Cháu cần chừng 3 ghe để làm rẫy, bón lúa thay phân hóa học.
Anh học cách bón phân tro khi trồng rau ở một trong những trại giam ngoài Bắc. Trời vừa xế bóng Nguyên thả đường câu dài cả trăm mét, xong lại giăng mấy tay lưới. Hồi nhỏ anh từng giăng câu giăng lưới, nhưng chỉ giăng ở ruộng, trong kinh rạch, nay thả câu trên sông làm anh bỡ ngỡ đôi chút. Xong việc Nguyên lên nhà pha bình trà đậm tự thưởng mình dù chưa biết kết quả việc giăng câu ra sao.
Khi đi thăm, mới chừng 5-6 lưỡi câu lại thấy dính cá to, con cá vùng vẫy dữ tợn, anh lừa thế cho nó lọt vào vợt rồi dỡ lên. Con cá chừng nửa kí. Thăm hết đường câu lại thêm 3 con nữa. Khai trương đại lợi rồi đấy! Nguyên móc mồi tiếp cho đợt nhì. Anh còn ở xa đã thấy cá dính lưới, đến gở cá mà lòng vui khôn tả. Buổi chiều đó anh làm cử chỉ lịch sự, đem cá cho Bác Bảy, bác ba Câu, bác Năm và 4 nhà gần. Ai cũng cám ơn rối rít. Bác Bảy gái khuyên anh bán cá để có tiền xoay xài. Nguyên nói:
- Cháu mới đến, nhờ bà con giúp đỡ nhiều, đây chỉ là chút đỉnh để tỏ lòng biết ơn bà con.
Chị Thắm ở gần nhà Nguyên ngạc nhiên nói:
- Anh mới dọn đến mà đã bắt cá rồi, bộ trước đó anh đã từng làm nghề giăng câu thả lưới à? Xóm nầy ai cũng nói anh là sĩ quan cấp tá mà.
Anh cười mà không xác định với Thắm là đúng hay sai. Nguyên về nhà phơi câu, phơi lưới, rộng cá chờ sáng đem đến chợ bán thử.
Tuy chỉ một thân một mình, không ai rầy la hay thúc hối, Nguyên làm việc gì cũng hết sức mình. Buổi sáng, sau khi ăn cơm nguội hấp lại, anh bắt đầu làm cỏ, làm tới đâu gom cỏ vào một chỗ để khô đem đốt lấy phân. Ngày hôm sau, chỗ đã sạch cỏ Nguyên xới lên tỉa hột. Trong 1 tuần lễ anh đã dọn sạch gần 2 ngàn mét vuông và tỉa hột không chừa chỗ nào trống, ngọai trừ đường đi. Hàng ngày Nguyên đều giăng câu, thả lưới tùy theo con nước, có khi giăng vào buổi sáng, hôm sau vào trưa, xế hoặc chiều tối. Khi rau củ bắt đầu lên độ một phân, Nguyên ngày nào cũng xách 20 đôi nước tưới, anh dùng việc tưới cây cối thay cho tập thể dục. Nửa tháng sau rau cải của Nguyên lên tươi tốt. Trong tù, lúc ở đội rau xanh, ngày nào đội cũng giao Nguyên gánh 20 đôi nước từ con suối khá xa để tưới rau. Ở đây nước sát bên rẫy, 20 đôi nước loại thùng tưới nhỏ có thấm tháp gì. Nguyên nhớ thằng cha “răng hô” coi đội rau xanh lải nhải câu: Nhứt nước, nhì phân, tam cần, tứ giống. Đám rẫy của Nguyên xanh tươi mơn mởn chắc hội đủ 4 điều kiện cần và đủ mà tên cán bộ “mả tấu” đã nói chăng?
Không giăng câu, giăng lưới hoặc đi chợ bán cá, tối ngày Nguyên luôn chăm sóc cây trồng. Một hôm gần 6 giờ chiều ông trưởng ấp đến mời Nguyên đi họp vào trưa hôm sau, thấy Nguyên vẫn rị mọ ngoài rẫy, ông ta ra xem và nói:
- Làm vừa thôi, phải để thời gian nghỉ ngơi chứ anh.
Nguyên trả lời:
- Tôi phải cố gắng làm để tạo nhà cửa như bà con và cũng để dành tiền cưới vợ nữa.
Tên trưởng ấp ra về chắc rất hài lòng vì nghĩ rằng “thằng cha” nầy chí thú làm ăn chứ không phải đến đây dò đường vượt biên.
Nguyên đấp bờ bao giữ nước công ruộng sau nhà để làm lúa thần nông. Đấp xong, Nguyên bỏ 2 ngày công để cuốc và làm sạch cỏ, kế đó anh cho nước vào ngâm cho đất mềm, đọan chắt nước ra, rải phân tro đều trên đất, tiếp theo ngâm giống và sạ. Nguyên nghĩ: Mấy tay Chệt qua xứ mình lúc đầu chỉ nhờ vào chiếc đòn gánh mà không lâu trở nên giàu có, tại sao mình không dùng chiếc xuồng làm kế sinh nhai? Nguyên mỗi ngày chạy ghe tìm mua những lọai cây như ổi, mít v...v... đem về trồng, anh cũng mua những thứ đang cần dùng trong nhà như bàn ghế, tủ đựng thức ăn...Qua xã kế cận, anh thấy một số dân tứ xứ làm đơn xin khẩn đất hoang, anh cũng mua giấy viết đơn. Ông thơ ký đưa Nguyên xem bản đồ và hỏi Nguyên chọn chỗ nào? Anh xin khẩn khu đất gần nhà, nơi đã đốn mấy cây đước làm nạng cho cái giường hôm mới đến.Anh định khẩn chừng 10 công, nhưng người thư ký ghi cho anh khẩn 2 mẫu.
Nguyên thầm nhủ: thây kệ, người ta cho 3 năm mới bắt đầu đóng thuế lo gì. Vùng đất Nguyên khẩn có 7-8 công đất gò tiện cho việc lập vườn, cây lưa thưa vì bị tàng của các cây đước lớn che mát nên ít cây con, đỡ tốn công khai phá. Nguyên còn thấy có cái ao rất lớn, chắc hồi trước chỗ đó lãnh mấy trái bom đìa. Nhận đất xong Nguyên ghé xem lại một lần nữa. Ôi may mắn quá, anh ước tính, đốn cây và làm sạch mất chừng 2 tháng công, muốn lập vườn trồng chuối chỉ mướn lên liếp sơ sơ. Phần đất thấp để làm ruộng khai phá cũng dễ. Có lẽ người xin khẩn đất chưa ai từng đến chỗ nầy nên mình lãnh phần quá tốt. Trước khi bắt tay vào việc khai phá, Nguyên đi chợ tỉnh mua cưa, búa tay, riều đốn cây và vài món cần dùng khác. Hồi ở tù Nguyên từng phá rừng làm rẩy với anh em nên chàng rành việc. Tại một tiệm bán đồ sắt, Nguyên tìm thấy một cây cưa máy có vẽ cũ, khi chàng cầm lên xem người bán liền nói:
- Lâu lắm rồi tôi chưa bán được nên còn đây, ông mua tôi bán rẻ cho.
Nguyên thấy cưa còn tốt ngặt nỗi vùng Nguyên ở chưa có điện, anh đánh liều mua thử, biết đâu về sau chiếc cưa nầy đắc dụng.
Nguyên mài búa, giũa cưa, làm từ từ. Mỗi sáng anh làm những việc lặt vặt, 10 giờ đến đất nhà đốn cây. Anh ấn định cho mình phải đốn ít nhất 20 cây, chặt nhánh đàng hoàng rồi mới được nghỉ. Sát bờ sông cây suôn, chặt 20 cây quá dễ, nhưng chỉ 1 mình làm thấy thăm thẳm. Nguyên viết thư nhờ mấy đứa em họ lên giúp cho mau xong. 3 đứa em cùng lên xứ xa xôi hẻo lánh nầy giúp Nguyên và chỉ trong 1 tuần bọn anh đã dọn trống, cây được chở về nhà, nhánh lá đợi nắng khô thì đốt. Một chú em từng xài qua loại cưa máy xách tay nầy nên bảo Nguyên đi mua bình ắc quy, nó sẽ chỉ cho cách xài. Mấy anh em dùng cưa máy hạ 5 cây lớn quá dễ dàng chẳng những thế mà còn cưa ra từng khúc ngắn để làm củi luôn.
Gần 2 tháng kể từ lúc khởi công, hôm nay miếng đất đã lên liếp, sẵn sàng để trồng chuối, chỉ chờ mua chuối con và đợi trời mưa. Mấy công ruộng đã đấp bờ bao và sạ. Bữa nay Nguyên cùng mấy em đi chợ mua thịt về nhậu để cùng nhau ăn mừng. Nguyên đã xong công việc, giờ anh chỉ chờ kết quả mùa thần nông.
Nguyên đưa mấy em ra xe về quê nhà, anh dự định hôm nay nghỉ ngơi trọn ngày, vì còn ngầy ngật bởi tiệc rượu hồi hôm. Nằm một chốc lại có tiếng kêu cửa của người đàn bà có giọng quen quen, Nguyên vừa mở cửa đã nghe tiếng trách móc của Hoa, chủ miếng vườn cận nhà, Nguyên vài lần tiếp chuyện với Hoa khi cô đến làm cỏ vườn.
- Mấy tuần rồi, hôm nay mới gặp được chú.
Nguyên chào hỏi lịch sự, vừa phủi bụi ghế vừa mời khách trong cử chỉ hết sức ga-lăng:
- Hân hạnh được tiếp cô tại đây, mời cô ngồi.
Nguyên nói tiếp:
- Xin lỗi cô Hoa tôi xin chỉnh về cách gọi của cô: Bộ tôi già lắm sao mà cô vẫn một điều chú hai điều chú. Ngoài đại danh từ chú ra cô không còn tiếng nào khác sao?
Hoa cũng không kém:
- Bây giờ em phải gọi bằng bác hay ông?
- Cô lại rủa cho tôi mau chết rồi.
Hoa cười và đến sát bên Nguyên:
- Em gọi bằng anh chịu chưa?
- Phải vậy nghe mới thân. À nầy cô Hoa tìm tôi có việc chi?
Hoa ngập ngừng:
- Thú thật với anh, chồng em đã vượt biên gần 5 năm rồi, chắc không lâu mẹ con em sẽ được bảo lãnh sang Mỹ định cư.
- Xin chúc mừng cho Hoa.
Hoa nói tiếp:
- Như anh biết, miếng vườn sát nhà anh gồm 6 công, em đã mướn lên liếp trồng chuối, mít. Chuối bắt đầu có buồng, mít có lẽ năm tới có trái. Em muốn sang lại nhưng không biết ai hay là anh mua đi em để rẻ cho.
Nguyên cũng ao ước được miếng vườn nầy từ khi anh mới đến, nhưng Nguyên không dám bộp chộp sợ thiên hạ nghĩ mình có tiền có của thì chắc gặp khó khăn dài dài. Nguyên hỏi thử giá để trong tương lai anh liệu định.
- Cô Hoa định sang lại bao nhiêu? Có cho trả góp không?
Có lẽ câu đùa không thích hợp nên Hoa không còn cười, mặt nghiêm lại:
- Nếu anh mua em để 4 cây, trả trước 3 cây còn 1 cây từ từ trả cũng được.
- Tiếc quá, tôi lỡ khẩn 2 mẫu đất ở làng bên, tiền bạc dồn vô đó hết, tuy nhiên tôi vẫn thích miếng vườn nầy. Nếu cô để thư thả xem tôi mượn được tiền hay không, rồi sẽ tính tới..
- Em sẽ đợi bao lâu?
- Cái đó còn tùy người ta có chịu cho tôi mượn hay không. Tôi sẽ viết thư sang Mỹ mượn tiền của hai chú em họ.
- Em mong anh mượn được tiền.
Cuộc trò chuyện kết thúc bằng những tiếng cười dòn của Hoa. Trước khi về Hoa còn nói:
- Em hy vọng anh sẽ mua miếng vườn nầy, em nghĩ nó có duyên với anh.
Lâu lâu mới nghỉ ngơi trọn vẹn một ngày, Nguyên thấy nó dài lê thê, chàng định ra tưới mấy cây mới trồng. Ông trưởng ấp tới, anh tưởng là mời hội họp, nhưng ông ta mời chiều qua nhà ông nhậu chơi. Khi ông ra về Nguyên lại thắc mắc, chắc là có chuyện gì chớ không lý kêu mình nhậu khơi khơi sao. Chiều đến Nguyên qua nhà ông trưởng ấp, nhậu khô sặc rằng trộn gỏi. Uống vài ly ông mở lời: nhờ Nguyên kèm giùm Anh văn cho cô con gái học lớp 8. Môn Anh văn và Việt văn cháu có điểm tệ quá sợ sang năm khó thi đậu. Ông tha thiết mong Nguyên nhận lời giùm. Nguyên định từ chối nhưng thấy con bé nhìn chàng như cầu khẩn, chàng thấy tội nghiệp. Nhớ hồi học tiểu học Nguyên cũng từng bị thầy giáo trù dập, khiến chàng chán nãn định bỏ học, may có bác hàng xóm can ngăn, tận tình giúp đỡ, Nguyên như vớ được cái phao và từ ấy anh quyết chí học tập. Cháu bé này chắc cũng như mình hồi trước, tại sao mình không đưa tay cứu vớt nó. Đó là lý do thứ nhứt, lý do thứ hai là Nguyên muốn mua miếng vườn của Hoa, nếu mình dạy giùm con ông trưởng ấp thì việc mua lại miếng đất sẽ dễ dàng hơn. Những gia đình sắp đi định cư cần bán đất, vườn, thường thì giá rẻ, bán được hay không phần lớn do chính quyền địa phương. Nếu lúc nầy mua vườn đất của những người sắp đi định cư, giá rẻ rồi mình chịu khó sửa sang hoặc trồng trọt chút đỉnh đợi dịp bán lại chắc lợi to. Do vậy chàng định dạy giúp con bé, Nguyên chỉ cần ông trưởng ấp sắm cho chàng tấm bảng đen và 1 hộp phấn. Chàng dạy mỗi tuần khoảng 4 hoặc 6 giờ tại nhà chàng cho tới khi trường của Mỹ Lệ khai giảng.
Nguyên nghỉ dạy, lúa thần nông bắt đầu thu hoạch, anh tìm công cắt trong xóm và ấp lân cận. Nguyên sắp đặt cắt lúa và mướn chở về nhà cùng ngày.Lúa trúng ngoài mong đợi của Nguyên.Trong ấp người ta đồn là Nguyên có tay làm ruộng, không cần phân bón, lúa vẫn trúng.
Suốt lúa phơi 2 nắng, bà con bắt đầu đến xin đổi lúa làm giống, Nguyên chừa chừng chục giạ còn bao nhiêu chở xuống xã bán hết.
Một hôm Nguyên hỏi Hoa định giá lại miếng đất, chàng yêu cầu Hoa cho ông truởng ấp Năm biết. Nàng nói:
- Em đã ngỏ ý rồi, sau khi biết anh muốn mua, anh Năm nói không có gì trở ngại.
Hiểu được việc sang nhượng dễ dàng nhưng Nguyên còn tìm cách chọc cô này:
- Cái vụ trả góp, cô định thế nào?
Hoa còn trù trừ, Nguyên tiếp luôn:
- Nếu lỡ không trả đúng hẹn thì sao?
- Thì bị phạt chớ sao?
- Phạt thế nào? Có phạt hôn không?
- Bộ ngu sao phạt kiểu đó.
- Vậy cô định ra sao? Chứ tôi biết chắc tôi sẽ trễ hạn khi thiếu nợ.
Hoa chẳng trả lời, bất thần nàng tiến sát bên Nguyên ôm chàng hôn. Hai người dính vào nhau như chưa bao giờ được hôn, cả hai đang ngất ngây trong men tình:
Sóng tình dường đã siêu siêu
Xem trong âu yếm có chiều lả lơi.
Chợt 2 con chó hực hực và chạy ra ngoài, biết là có khách lạ đến, Nguyên chỉnh đốn lại tư thế ra tiếp. Ông khách trạc 40, sau khi uống trà, ông ta vào đề:
- Tôi cần bán 5 công vườn cạnh nhà anh. Miếng vườn này do cô dượng tôi vượt biên để lại. Dượng tôi người Tàu đăng ký đi chánh thức. Gia đình cô dượng vừa ra khơi thì tàu bị chìm. Cô dượng tôi và cả trăm người đều chết.
Nguyên hỏi giá miếng vườn:
- Ông định bán bao nhiêu?
- Tôi bán 2 cây vàng, bao luôn thuế.
Nguyên hẹn trong 10 ngày sẽ trả lời. Buổi chiều hôm đó vợ chồng ông trưởng ấp tới nhà thăm. Ông bà cho biết cô con gái Mỹ Lệ kỳ nầy học khá lắm,cháu tiến bộ ngoài sự tưởng tượng của thầy cô. Ông bà ngồi uống trà và nói chuyện cởi mở. Chủ ấp Năm ra sân quăng tàn thuốc đồng thời ngắm nhìn xung quanh nhà Nguyên đoạn ông lên tiếng:
- Miếng vườn cỏ mù mịt kế nhà anh cần bán, có tiền anh nên mua cho tiện.
Nguyên biết chắc ông chủ miếng vườn này đã hứa sao đó với Năm nên anh ta có vẽ sốt sắng.
- Tôi đủ khả năng canh tác thêm, nhưng tôi chưa thực sự đứng tên miếng đất nào nên vay tiền của nhà nước chắc không được rồi, chỉ vay của bà con thôi.. Để xem bà con có ai tin tôi không rồi mới định sau.
Chuyện trò một chốc vợ chồng trưởng ấp Năm ra về. Hai ông bà xin Nguyên xem Mỹ Lệ như con cái trong nhà. Cháu nó học hành nên thân, phần lớn nhờ công ơn của Nguyên.
Sau khi sạ lúa vụ hai, Nguyên tương đối nhàn nhã, giăng câu giăng lưới kiếm thêm tiền. Đi chợ bán cá xong, Nguyên ra quán cà phê nhâm nhi cà phê đắng, phì phà thuốc, thả hồn về Vĩnh long. Anh nhớ những ngày học tiểu học với Hoàn, nhớ lúc ở Thiềng Đức nổi danh với nghề cạo gió. Anh chép miệng thầm nói: Thắm thoát đã mấy mươi năm rồi rốt cuộc tay trắng vẫn hườn trắng tay. Nguyên mãi mê dệt mộng giữa ban ngày, trong lúc đó người đàn bà bàn bên cạnh nhìn chầm chập vào anh. Có lẽ không chờ đợi được nữa bà tiến sang lễ phép hỏi Nguyên:
- Xin lỗi ông có phải là Nguyên không?
Giật mình Nguyên nhìn thẳng vào mặt người đàn bà gật đầu và lên tiếng:
- Dạ phải, bà dường như là Thơm.
Người đàn bà đánh mạnh vào tay Nguyên trong cử chỉ hết sức vui mừng:
- Em là Thơm đây, không ngờ lại còn gặp anh nơi đèo heo hút gió nầy.
Qua phút giây mừng vui, bây giờ giọng Thơm trầm xuống như sợ ai nghe thấy. Bà xin địa chỉ của Nguyên để đến thăm chàng. Nguyên hỏi lại chỗ ở, Thơm nói sang chuyện khác:
- Anh ở nhà với ai, đến thăm có trở ngại gì không?
Cuộc gặp gở không quá 10 phút, Thơm vội vã xuống ghe ra về. 2-3 ngày sau hình ảnh Thơm cứ mãi lảng vảng trong đầu óc Nguyên, chàng chưa bao giờ coi Thơm là người yêu của mình, mặc dù đã ăn nằm với nàng. Lần gặp lại, tự dưng Nguyên nghe hồn mình xao xuyến. Bây giờ giả sử Thơm đề nghị chung sống với anh, chưa biết anh xử trí ra sao. Ngoài miệt mài với công việc, nay trong những giây phút rổi rảnh, Nguyên mới thật sự thấy mình cô đơn.
Bỗng nhiên 2 con chó cưng cùng chạy nhào xuống mé sông, Nguyên lẩm bẩm, điệu nầy chắc người lạ, chàng bỏ cái dá đang cầm lững thững theo 2 con chó xem ai đến. Một người đàn bà ăn vận sang trọng hơn dân chúng vùng nầy, 2 con chó không sủa nhưng đứng canh chừng như không cho khách bước lên nhà chủ nó. Nguyên la chó, chàng đến nơi giọng mừng rỡ:
- Thơm, anh không ngờ là em!
Thơm buộc ghe và bưng một nồi trên tay, nàng bảo Nguyên bưng giúp cái nồi lớn hơn. Nàng dặn chừng:
- Anh cẩn thận nồi đầy lắm.
Vào nhà, Thơm và Nguyên đem hai nồi đặt vào bếp, nàng bảo Nguyên:
- Anh dẫn em xem giang sơn của anh.
Nguyên chỉ nàng miếng đất, nàng nói:
- Em thấy miếng đất nầy quá nhỏ với anh. Sao anh không tìm chỗ rộng hơn.
Nguyên cầm tay nàng dìu vào nhà và kể hết khúc nôi từ khi vắng nàng đến nay. Nàng hỏi khu nầy có nhiều người vượt biên không?
- Ấp nầy dân chúng đi tìm tự do gần phân nửa.
Thơm lộ vẽ vui nói:
- Nếu vậy anh nên mua đất, vườn của họ chắc giá rẻ.
- Anh cũng biết vậy, ngặt nỗi anh không tiền, và không biết mua đất có bị làm khó dễ gì không.
Thơm trấn an Nguyên:
- Chính quyền mới vừa ra thông cáo kêu gọi mọi người cố gắng canh tác. Em đoán dường như kinh tế kiệt quệ nên họ nới lỏng chủ trương. Về tiền em giúp anh trong khả năng của em.
Nàng cười cười nói:
- Em không đòi vội khi giúp tiền cho anh, cũng không tính lời, chỉ cần anh hứa là khi em già không nơi nương tựa, anh hay con cháu của anh cho em một chỗ ở nho nhỏ em cũng vui rồi.
Nguyên ngạc nhiên nghe giọng nói bi quan của Thơm:
- Về điều đó em khỏi lo, ngay bây giờ anh đang muốn cùng em sống ở đây trong ngôi nhà xập xệ này. Về tiền bạc, anh gói ghém cũng vừa đủ, vài năm nữa sẽ có huê lợi.
Họ cùng nắm tay nhau lững thững vào nhà. Tới bếp Thơm dở hai nồi ra khoe với Nguyên:
- Suốt ngày hôm qua, em kho cho anh nồi thịt và nồi cá rô. Anh ăn cũng hơn tuần lễ.
Nguyên ôm hôn Thơm, hai người quyện lấy nhau như không rời:
- Cám ơn em Thơm, mấy chục năm nay mới được hôn lại đôi má thân yêu này.
- Em cũng nhớ anh vô cùng, kể từ đêm trao thân cho anh, em chỉ cầu mong được gặp lại anh dù chỉ một lần. Ước nguyện của em nay thành sự thật.
Có lẽ lời nói không diễn đạt hết nỗi lòng, họ bày tỏ bằng hành động, lần này phần chủ động là Nguyên không phải là Thơm như mấy mươi năm về trước. Sau phút giây ân ái Thơm kể lại cuộc đời của nàng từ lúc xa Nguyên. Thơm bỏ ngang việc học may về quê lấy chồng. Chồng nàng là Huyện ủy viên vùng T.B, ông ta là người ơn của ba nàng, tuổi xấp xỉ tuổi ba nàng. Lớn tuổi, lịch lãm khiến cho nàng thỏa mãn trong việc gối chăn nhưng không thể khiến nàng yêu anh ta được. Người Thơm thầm yêu là Nguyên. Năm sau Thơm sanh con. Sau khi sanh nở, Thơm như đẹp ra. Đúng là, gái một con, trông mòn con mắt. Tuấn sợ mất nàng nên ép nàng vào đảng. Đã vào đảng rồi không thể nào Thơm bỏ anh ta về thành được. Ở trong vùng giải phóng biết nàng là bà Huyện Ủy chắc không anh nào dám léng phéng. Thâm ý của Tuấn là thế. Năm con nàng 15 tuổi Tuấn dẫn con vào cơ quan cho con “học làm cách mạng”, chẳng may bị trận bom khiến 2 cha con tử vong. Người thư ký của Tuấn săn sóc an ủi Thơm. Không lâu hắn chiếm được thân thể nàng, nhưng hắn không chịu làm đám cưới, hắn viện đủ lý do. Sau 30-4-75 hắn được đề cử tiếp quản tỉnh này, đây cũng là quê hương của hắn. Ít tháng sau hắn cưới vợ.
- Thấy rõ lòng dạ đểu giả của hắn em vẫn dửng dưng vì thật ra em chưa bao giờ yêu thương hắn. Hắn sợ em quậy nên cấp cho em 1 ngôi nhà, cho em một mớ tiền và hứa mỗi tháng chu cấp tử tế. Em bây giờ như là vợ hờ của hắn. Hôm bữa gặp anh, em vội vã vì em sợ gặp người của hắn. Anh ở hàng ngũ đối địch nên hắn sẽ dễ dàng ám hại anh nếu biết tụi mình yêu nhau, với cái cớ đó hắn sẽ trục xuất em ra khỏi nhà. Việc bị trục xuất ra khỏi nhà không đáng kể, hại anh mới là chuyện em lo. Bây giờ anh đã thấu hiểu cho em chưa?
Nghe Thơm kể Nguyên thật sự xúc động, anh không ngờ qua bao nhiêu năm xa cách Thơm vẫn nhớ, vẫn yêu anh. Thơm ngồi dậy sửa lại quần áo sắp sửa ra về. Nàng căn dặn Nguyên không nên tìm nàng, lúc nào thuận tiện nàng sẽ đến. Nàng ra về Nguyên buồn buồn trông theo đến khi ghe của nàng khuất hẳn.
Đúng 1 tuần lễ từ hôm Thơm bất thần đến thăm, đêm nay trăng sáng vằng vặc, ngủ chừng non giấc, Nguyên không còn ngủ được nữa, nằm trằn trọc nhớ Thơm. Nguyên cảm thấy thương yêu Thơm hơn lúc nào hết, từ lúc còn ở nhà trọ đến nay Thơm luôn lo lắng về chuyện ăn uống của Nguyên. Thấy trời cũng gần sáng Nguyên thức dậy nhóm lửa nấu nước pha trà uống, đột nhiên 2 con chó từ trong nhà chạy nhào xuống mé sông Nguyên đứng khuất sau vách xem ai tới vào giờ nầy. Người lạ cùng 2 con chó đi vào nhà, 2 con chó không hậm hực như khi gặp người lạ. Hai người cùng phát ra hai tiếng tỏ vẽ ngạc nhiên:
- Anh...
- Em...
Cả hai cùng dìu nhau vào nhà. Thơm vào buồng ngủ của Nguyên và quăng giõ xách, rảnh tay nàng mới bắt đầu ôm hôn Nguyên tới tấp. Nàng nói:
- Mới vắng nhau một tuần mà em nhớ anh muốn chết!
Nguyên phụ họa:
- Anh cũng nhớ em. Dường như linh tính, anh thức tự nãy giờ nấu trà chờ em đây.
Ra trước uống trà nàng cho biết:
- Trong giõ xách em đựng đủ số tiền để anh mua vườn đất dưỡng già. Đừng quá vất vã nữa, anh đã khổ sở từ lúc còn nhỏ, giờ phải nghỉ ngơi. Chắc lâu lắm em mới đi thăm anh. Cũng có thể chúng ta không còn gặp nhau nữa.
- Thơm em nói gì nghe như là điềm không hay.
Thơm thuật lại:
- Thằng Bình, chồng hờ của em bị dính vào nhiều chuyện nhưng quan trọng hơn hết là giết người và tham nhũng, Bình có thể bị tống giam để điều tra.Người thân tín của em vừa báo tin hồi tối. Em lo lắng có thể bị liên lụy vì em biết quá nhiều về hành động của Bình.
Nguyên an ủi:
- Chắc không đến nổi nào.
Thơm buồn rầu nói:
-Anh chưa biết tụi này,khi điều tra chúng moi tận kẻ tóc.
Nói xong Thơm ôm chầm lấy Nguyên như cần sự che chở, Nguyên thấy vai mình thấm nước mắt Thơm:
Thơm quẹt vội nước mắt dặn Nguyên:
- Anh nhớ điều nầy: nếu em bị bắt tuyệt đối không được đi thăm hay hỏi tin tức bất cứ với ai.
Hắng giọng Thơm nói tiếp:
- Lỡ em chết cũng đừng tới đưa đám. Tụi này luôn rình rập những lúc ta không đề phòng. Nhớ lời em...
Thơm hôn Nguyên, hôn thật sâu không muốn buông. Nàng nói trong tiếng thổn thức:
- Từ giã anh... anh bảo trọng...
Nàng vội vã xuống ghe nổ máy từ từ khuất dạng. Nguyên ngẩn ngơ trông theo. Nguyên tới lui quanh nhà nhớ từng lời dặn dò của Thơm. Chàng lý luận, nếu can tội đồng lỏa tham nhũng bị tù là cùng sao Thơm làm như là sắp vĩnh biệt, mong nàng gặp may mắn. Nàng chính là người ơn, người tình thủy chung dù chàng không một lời hứa hẹn. Nhớ cái giõ xách, chàng vào giường lấy ra xem thử: phía trên phủ giấy báo, kế đó là 10 bó tiền, rồi là vàng. Đếm thử là 50 cây, Nguyên tìm chỗ giấu số vàng, cất bớt tiền mặt, chỉ chừa 2 bó nịch bằng thun.
Nguyên mua 2 miếng đất cạnh nhà đem xuống xã sang tên dễ dàng. Làm sổ đỏ (bằng khoán đất hồi trước) phải đem lên Huyện. Nguyên đóng lệ phí như qui định và ngồi chờ, vô tình chàng đọc tờ Tin Sáng, tờ báo địa phương trong đó đăng tin Thơm chết tại nhà nàng ở số... nguyên nhân chưa rõ. Đọc tin đau thương nầy Nguyên sửng sốt. Không ngờ những lời nói của Thơm tuần trước là lời trối. Nguyên cố trấn tỉnh mà nước mắt vẫn tuôn tràn. Anh phải ra ngoài sợ người ở văn phòng thấy được tình cảm của mình. Nguyên đi thẩn thờ nhớ lại từng cử chỉ của Thơm. Anh thật sự xúc động. Nguyên vào quán cà phê kêu ly cà phê đá mục đích là dùng mấy cục nước đá rửa mặt mày cho tươi tỉnh, mọi nhớ thương phải nén lại. Chàng gọi tính tiền không quên mua gói thuốc có cán làm quà cho chú cán bộ duyệt xét hồ sơ. 11 giờ Nguyên nhận được sổ đỏ hay bằng khoán. Chàng rảo qua chợ Huyện xem có gì cần mua, chả có gì. Tiếng là chợ Huyện nhưng cũng không khá hơn chợ xã là mấy. Chàng mua thịt quay dự định về cúng Thơm. Chàng đến chỗ bán báo tìm mua số mới. Báo mới chưa phát hành. Nguyên mang nổi ấm ức xuống ghe về nhà. Tới nhà chỉ 2 con chó cưng chạy xuống mừng. Phía nhà Thắm nghe có tiếng cãi vã dường như là tiếng đòi nợ. Chàng dự định mai chiều sẽ hỏi Thắm có cần giúp đỡ không. Thơm đem tiền bạc giúp, hy vọng mình bớt cực khổ, càng nghĩ càng nhớ nàng. Chắc là Nguyên phải tìm việc gì đó làm cật lực hy vọng lòng thương nhớ vơi đi theo thời gian.
Nguyên ra vườn cắt mớ rau thơm, vô nhà xắt thịt quay đơm ra dĩa dọn lên cúng Thơm. Chàng lâm râm khấn vái nhắc lại từ lúc gặp nhau rồi xa cách, những ân tình chàng còn nợ Thơm. Càng nhắc tới nước mắt Nguyên chảy dài. Đây là lần đầu Nguyên khóc thương cho người tình.
Hoa đã lên đường đi định cư. Nhìn tới ngó lui chỉ còn Thắm, Nguyên đề nghị Thắm về sống chung, khi nào có giấy xuất cảnh thì cứ đi. Thắm đồng ý, cuộc sống chồng vợ ít ra cũng 3 năm (Thắm cũng có con vượt biên, nàng cũng đợi ngày rời xứ). Nguyên sống hạnh phúc bên Thắm cho đến khi nào nàng ra đi.
2 năm sau Nguyên trở thành ông chủ, huê lợi vô đều hàng tháng. Chỉ tội cho Thơm để lại tiền bạc cho Nguyên mà nàng không còn nữa.
Nguyễn Thành Sơn

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét