Đối diện với nhà tôi trong con hẻm nhỏ là nhà của một bà lão người Hoa, lũ trẻ trong xóm gọi bà là a phò và đứa nào cũng thích đến nhà bà vào chập tối. Chẳng có gì lạ cả, bởi bà gánh một gánh "chí mà phủ" đi bán từ sáng tinh mơ đến tối mịt mới về, những khi bán ế bà hay gọi trẻ con trong xóm đến múc cho mỗi đứa một chén. Riêng tôi, lúc nào cũng vậy, ngoài chén chè ra còn được bà cho một cái bánh tiêu còn nóng hổi mua của chú Gù ngoài đầu hẻm.
<!>
Cũng dễ hiểu, là vì mỗi lúc học bài xong tôi hay sang giúp bà những việc lặt vặt như rửa chén, chụm lửa, hoặc chạy ù mua dùm bà chai dầu nhị thiên đường v.v... Đến giờ tôi vẫn còn nhớ rõ tiếng rao “chí mà phủ... ủ... ủ... ủ...” ngân lên, xa dần rồi mất hút giữa phố phường, nhớ cái dáng vẻ kham khổ, u buồn của bà lão với đôi quang gánh trên vai, khập khiểng trở về nhà trong hoàng hôn chập choạng.
Khi lớn lên một chút, tôi bắt đầu thắc mắc và hỏi bà về quê hương xứ sở, về gia đình của bà, tại sao bà là “Ba Tàu” mà lại ở Việt Nam, bà tính khi nào về xứ...
Bà mắng tôi:
- Lị hỏi dìu quá, con ngái lói ít thôi coi chừng ế chồng lớ!
Nhưng rồi có những lúc buồn bên bếp lửa với nồi chè phải khuấy luôn tay, dần dà bà cũng thổ lộ về nguồn cội xa xôi của mình. Theo lời kể đứt quãng, vụn vặt của bà ngày xưa, bây giờ nhớ lại, tôi chắp vá, sắp xếp cho phù hợp trong mối tương quan giữa phận người nhỏ bé và lịch sử lớn lao với bao thăng trầm, dâu biển của mấy trăm năm...
Tổ tiên mấy đời của bà là con cháu của Tổng binh họ Trần cai quản vùng Châu Liêm thuộc Quảng Đông Trung Quốc. Trong cuộc di dân vào cuối thế kỷ 17, những người Minh Hương đến Việt Nam được Chúa Nguyễn cho phép định cư khai khẩn đất hoang, đoàn quân của Tổng binh họ Trần vào cửa Cần Giờ, ngược sông Đồng Nai, hạ trại ở Cù lao Phố và Đông Phố. Tôi còn nhớ bà bảo bà tuổi con ngựa nên số gian nan, cực khổ (năm đó tuổi bà khoảng 69,70, vậy là bà sinh vào năm 1894, Giáp Ngọ, tức vào khoảng cuối thế kỷ 19). Bà lớn lên ở Cù lao Phố, năm 16 tuổi do mai mối bà được gả cho một danh gia ở làng Minh Hương Gia Thạnh thuộc vùng Phiên Trấn, Bến Nghé. Chồng bà là con trai trưởng của một gia đình kinh doanh mễ cốc và tơ lụa, sau khi cưới do bà không thể có con nên ông ta đã cưới vợ lẽ và sau đó có thêm tới 5 người vợ nữa. Bà buồn quá bỏ nhà ra đi, hình như bà cũng bị nhà chồng bắt lại vài lần, bị cắt gân ở gót chân phải vì phạm gia quy, rồi sau chắc họ không cho tìm bà nữa nên bà mới “định cư” trong hẻm nhỏ này với chúng tôi.
Những khi gánh chè của bà hết sớm, bà vừa làm việc nhà vừa kể cho tôi nghe nhiều truyện cổ tích rất ý nghĩa của dân tộc Hán. Những câu chuyện của bà lúc nhanh lúc chậm, lúc còn lúc mất, quanh đi quẩn lại theo chân bà trong căn nhà nhỏ. A Phò không biết chữ, cả chữ Hán lẫn chữ Việt, thế nhưng bà có một trí nhớ thật tuyệt vời. Bà nhớ không thiếu một chi tiết nào trong thiên truyện trứ danh Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần (do nghe lóm nàng hầu vốn là ca kỹ của cha chồng đọc cho ông ta nghe).Sau này khi đọc Hồng Lâu Mộng (tất nhiên là xem cọp trong nhà sách!) tôi vô cùng kinh ngạc và thán phục trí nhớ của bà.
Ngoài việc kể chuyện đời xưa, bà còn dạy tôi khá nhiều từ Quảng Đông thông dụng mà sau này lũ bạn trong lớp phải tròn mắt thán phục khi nghe tôi... thỏ thẻ! Bà cũng dạy tôi làm nhiều món ăn dân dã đậm chất Quảng Đông, đương nhiên là cả món chí mà phủ tuyệt vời của bà nữa! Bà đặt tên cho tôi là Phón, phiên âm sang tiếng Việt là Phương, bà nói bà rất thích cái tên đó (không hiểu sao lúc đó tôi lại không nói với bà đó là chữ lót trong tên của tôi). Dường như tất cả thương yêu mà một người phụ nữ lớn tuổi có thể dành cho con cháu, a phò đã dành hết cho tôi trong quãng cuối của cuộc đời tha hương nơi đất khách quê người.
Sau đó, khoảng giữa năm 1967 gia đình tôi dọn về gần chợ Nancy, trên đường đi học tôi vẫn phải đi ngang đường Phát Diệm nên có vài lần tôi ghé thăm xóm cũ, thăm a phò nhưng không lần nào gặp được bà. Bà vẫn oằn vai từ sáng đến tối với gánh chè số phận, không có tôi bà vẫn còn lũ nhỏ trong xóm chắc cũng đỡ phần đơn độc. Có nhiều lúc tôi thấy nhớ bà như nhớ một người thân trong gia đình, nhớ giọng nói tiếng Việt lơ lớ của bà vì từ lúc nhỏ kể cả khi về nhà chồng bà được dạy phải luôn giữ gìn tiếng Quảng Đông, trong gia đình không được dùng tiếng Việt. Lâu lâu bà nhắc tôi: “A Phón à, lị dề dà học pài li!” khi tôi mải chơi lò cò với đám trẻ con trong xóm ngay trước mảnh sân gạch giáp nhà tôi và nhà bà. Tôi cũng rất nhớ ánh lửa cháy bằng củi đước dưới nền bếp thấp chập chờn soi gương mặt già nua, khắc khổ ấy những lúc tôi ngồi bên cạnh chờ nghe bà kể chuyện.
Rồi thời gian cứ lặng lẽ trôi đi với biết bao dâu bể thăng trầm, sau tháng tư 1975 tôi lại tìm về xóm cũ. Người đi thưa vắng, nhà cửa đìu hiu, hỏi thăm a phò người ta bảo bà đã mất cách đó mấy tháng, một cái chết cô độc chẳng ai hay trong căn nhà tăm tối của bà. Hội tương tế Quảng Đông đã lo hậu sự cho bà và cả những gì còn lại của bà. Thôi thì cũng xong một kiếp người! Đã là phụ nữ, cho dù là ai, thuộc dân tộc nào, ở thời đại nào đi nữa thì ít nhiều trong đời cũng có những góc khuất chẳng thể nói với ai, không ai thấu hiểu, âm thầm chôn chặt trong cõi lòng và mang theo về chốn vĩnh hằng. Mong sao dưới lớp bụi mờ của năm tháng lãng quên, người phụ nữ đến từ thiên thu cổ đại ấy đã ra đi trong thanh thản.
Bây giờ đã là thế kỷ 21, Sài Gòn và những con đường từng in dấu chân nhọc nhằn của bà lão người Hoa bán chí mà phủ và lũ nhóc chúng tôi thời đó đã quá nhiều thay đổi. Đôi khi muốn tìm lại chút gì của một thời xưa cũ nhưng tất cả đã mịt mù sương khói, biết đâu mà tìm! Tôi đã từng nhiều lần đi bộ lang thang trên vỉa hè khắp các con đường, các ngõ hẻm từ quận 5 ra quận nhất chỉ để tìm lại tuổi thơ của tôi, tìm lại một chút Sài Gòn của giới lao động bình dân ngày xa xưa ấy. Tôi đi quẩn quanh như một người tiếc của cứ lom khom tìm hoài những châu báu đã bị rơi mất trong cõi đời mênh mông. Ngay cả giây phút này, khi viết đến đây tôi vẫn không cầm được nước mắt như đã bao lần nhớ về ngày tháng đó.
Trong ký ức miên man của buổi hoàng hôn, mỗi khi hồi tưởng lại, như đã từ rất lâu rồi, a phò vẫn là người bà tần tảo, hiền từ mà tôi hằng quý mến. Khi nhìn các con xúm xít bên những chén chí mà phủ sánh mịn ngon lành với vị ngọt thanh tao do tôi nấu như bà từng chỉ bảo, tôi không khỏi bồi hồi thương nhớ một quá khứ xa xôi, trong đó a phò hiện lên sáng rỡ như Bà Thiên Hậu trong ngôi chùa cổ của người Hoa ở Chợ Lớn mà thỉnh thoảng tôi vẫn hay đi thắp hương như một cách tưởng nhớ những gì thuộc về bà.
NGUYỄN THỴ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét