Năm Đại Hòa thứ 6 (832) đời Đường, chàng thư sinh thi sĩ Hứa Dụng Hối 許用晦 trúng cử Tiển sĩ Cập đệ, đang lúc thanh vân đắc ý chàng bèn làm một chuyến du ngoạn vùng Hà trung đất Sơn Tây. Vì qúa vui với cảnh non xanh nước biếc, nên lạc cực sanh bi chàng bị cảm nặng và hôn mê bất tỉnh suốt ba ngày đêm...Trong cơn mê, chàng mơ thấy mình đi đến một vùng núi non hùng vĩ với cung thất lâu đài nguy nga tráng lệ. Hỏi ra mới biết rằng đây là vùng núi Côn Lôn, lâu các cao vút tận mây xanh kia chính là Dao Đài của Tây Vương Mẫu. Phút chốc bỗng có tiên nương hiện ra mời vào dự tiệc cho đến lúc chiều tà. Trong cơn say chàng đã mơ hồ cất bút viết nên bài tứ tuyệt như sau lên tường :
<!>
曉入瑤臺露氣清, Hiểu nhập Dao Đài lộ khí thanh,
坐中唯有許飛瓊。 Tọa trung duy hữu Hứa Phi Quỳnh.
塵心未斷俗緣在, Trần tâm vị đoạn tục duyên tại,
十里空山下月明。 Thập lý không sơn hạ nguyệt minh !
Có nghĩa :
Buổi sáng khi lạc vào Dao Đài trong khi khí trời và sương sớm còn rất trong lành; Trong bàn cùng ngồi với ta còn có tiên nương Hứa Phi Quỳnh. Vì lòng trần còn chưa dứt nên cái duyên trần tục vẫn hãy còn đây; Xuống núi trong cảnh mười dặm núi non vắng lặng nầy chỉ còn có vầng trăng sáng mà thôi !
Lạc bước Dao Đài sương sớm hanh,
Cùng ngồi chuốc chén Hứa Phi Quỳnh.
Lòng trần chưa dứt còn duyên tục,
Mười dặm không sơn bóng nguyệt thanh !
Hồn mộng vấn vương, đêm sau lại mơ vào Dao Đài hôm trước để gặp lại Hứa Phi Quỳnh; Nhưng tiên nương đã hờn dỗi trách rằng :"Sao lại mang cả tên thiếp đưa vào chốn nhân gian thế kia !?" Hứa bèn tạ lỗi và sửa câu thứ hai lại thành "天風吹下步虛聲 Thiên phong xuy hạ bộ hư thinh". Có nghĩa : Dưới cơn gió trời thổi bước chân nhẹ nhàng như hư như thật". Phi Quỳnh bèn cười đáp "Tốt!". Nên bài thơ còn có thêm một dị bản như sau :
曉入瑤臺露氣清, Hiểu nhập Dao Đài lộ khí thanh,
天風吹下步虛聲. Thiên phong xuy hạ bộ hư thinh
塵心未斷俗緣在, Trần tâm vị đoạn tục duyên tại,
十里空山下月明. Thập lý không sơn hạ nguyệt minh !
Có nghĩa :
Lạc bước Dao Đài sương sớm hanh,
Gió trời lay động bước mong manh.
Lòng trần chưa dứt còn duyên tục,
Mười dặm không sơn bóng nguyệt thanh !
Hứa Dụng Hối 許用晦 còn một ngoại hiệu nữa là Hứa Trọng Hối 許仲晦, tên thật là...
HỨA HỒN 許渾(788—860)sanh năm Trinh Nguyên thứ tư (788), người đất Nhuận Châu, huyện Đơn Dương (thuộc tỉnh Giang Tô hiện nay). Ông là cháu 6 đời của Tễ Tướng Hứa Ngự Sư 許圉師, là một trong những thi nhân nổi tiếng dưới thời Vãn Đường. Ông đậu Tiến sĩ năm Đại Hòa thứ 6 (832) và giữ nhiều chức vụ. Cả đời ông không làm thơ Cổ thể, chỉ chuyên về Luật thi; Đề tài thường lấy điền viên hoặc hoài cổ, lời thơ công đối chỉnh tề, thường miêu tả về sơn thủy, cảnh trước sau mưa... được đánh giá là ngang hàng với thi thánh Đỗ Phủ với câu :"Hứa Hồn thiên thủ thấp, Đỗ Phủ nhất sinh sầu 許渾千首溼,杜甫一生愁". Có nghĩa : "Ngàn bài thơ của Hứa Hồn đều có vẻ ướt át; Còn thơ cả đời của Đỗ Phủ đều có vẻ ưu thời mẫn thế". Như ta đã biết...
Khi lên Hoàng Hạc Lâu thấy cảnh trí nên thơ hùng vĩ của vùng sông nước bày ra trước mắt, thi Tiên Lý Bạch đã gợi hứng nguồn thơ, nên cất bút toan đề thơ, nhưng khi nhìn lên vách thấy bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu bèn quẳng bút đi mà than rằng :"Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu 眼前有景道不得,崔颢题詩在上頭" Có nghĩa :"Trước mắt có cảnh mà không sao tả được, vì Thôi Hiệu đã đề thơ phía trên đầu ta rồi !". Vì Lý biết chắc rằng, nếu mình có miễn cưỡng làm thơ, thì chắc chắn cũng chẳng bao giớ bằng được bài thơ mà Thôi Hiệu đã làm, nên thôi. Nhưng nỗi lòng ấm ức vẫn cứ âm ĩ mãi trong tim, cho nên khi đến đất Kim Lăng, lên ngắm cảnh trên Phụng Hoàng Đài, ông mới xúc cảnh sinh tình, mà làm nên bài thơ "Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài 登金陵鳳凰台" rất xuất sắc, gieo vần và âm hưởng đều tương tự như bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu...
Hứa Hồn cũng thế, bài thơ luật "Hàm Dương Thành Đông Lâu 咸陽城東樓" của ông cũng có âm điệu và phong cách giống như là bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, kể cả vần được gieo cũng làm cho người đọc cảm thấy như đang đọc lại câu "Yên ba giang thượng sử nhân sầu 煙波江上使人愁" vậy...
咸陽城東樓 HÀM DƯƠNG THÀNH ĐÔNG LÂU
一上高城萬里愁, Nhất thướng cao thành vạn lý sầu,
蒹葭楊柳似汀洲, Kiêm hà dương liễu tự thinh châu,
溪雲初起日沉閣, Khê vân sơ khởi nhật trầm các,
山雨欲來風滿樓。 Sơn vũ dục lai phong mãn lâu.
鳥下綠蕪秦苑夕, Điểu hạ lục vu Tần uyển tịch,
蟬鳴黃葉漢宮秋, Thiền minh hoàng diệp Hán cung thu,
行人莫問當年事, Hành nhân mạc vấn đương niên sự,
故國東來渭水流。 Cố quốc đông lai Vị Thủy lưu.
許渾 Hứa Hồn.
* Chú thích :
- Kiêm Hà 蒹葭 : Là Lau sậy, theo tiếng gọi của ngày xưa. Trong Kinh Thi chương Tần Phong có câu "Kiêm Hà thương thương 蒹葭蒼蒼" có nghĩa là "Lau sậy xanh xanh".
- Thinh Châu 汀洲 : Có 2 nghĩa :
* Những cồn cỏ, cù lao giữa dòng sông nước.
* Địa danh thuộc tỉnh Phước Kiến, nay là Huyện Trường Thinh.
- Khê Vân 溪雲 : Hơi nước từ trong khe suối bốc lên thành mây.
- Lục Vu 綠蕪 : Vu là Rậm rạp, hoang vắng. LỤC VU là Bãi xanh hoang vu.
- Vị Thủy 渭水 : Tên con sông phát nguyên từ tỉnh Cam Túc, chảy qua tỉnh Thiểm Tây đổ vào sông Hoàng Hà rồi chảy ra biển Đông..
* Nghĩa bài thơ :
TRÊN LẦU ĐÔNG CỦA THÀNH HÀM DƯƠNG.
Lên đến tận trên lầu cao của đông thành thì nỗi sầu lại dài thêm vạn dặm. Trước mắt, lau sậy hòa vào màu xanh của dương liễu mường tượng như màu xanh của những cồn đất trên sông. Những làn hơi nước trong khe suối vừa bốc lên thành những làn mây mỏng thì mặt trời cũng đã chìm xuống phía sau lầu rồi, Và cơn mưa núi chưa kịp đổ xuống thì gió đã ào ạt đầy cả lầu ! Lũ chim bay xà xuống bãi xanh hoang vu của vườn thượng uyển đời Tần ngày xưa trong buổi chiều tà. Và lũ ve cuối mùa cố cất tiếng ngâm trong đám lá vàng của cung viên nhà Hán vào buổi chiều thu se lạnh. Ôi thôi ! Người qua đường xin đừng hỏi đến chuyện của năm xưa nữa, Cố quốc từ hướng đông mà đến cũng như dòng Vị Thủy theo hướng của tất cả những dòng sông đổ vào Hoàng Hà rồi cũng đều chảy về với biển Đông mà thôi...
* Diễn Nôm :
HÀM DƯƠNG THÀNH ĐÔNG LÂU
Vòi vọi thành cao vạn dặm sầu,
Lau xanh liễu rũ ngỡ thinh châu.
Mây vờn khe suối vầng ô khuất,
Mưa chửa thành cơn gió ngập lầu.
Chim lượn xập xòe Tần thượng uyển,
Ve sầu rả rít Hán cung thâu.
Nào người chớ hỏi đời xưa cũ,
Sông Vị về đông vẫn chảy mau !
Lục bát :
Thành cao cho vạn dặm sầu,
Vi lô tơ liễu tựa màu thinh châu.
Mây lên mặt nhựt khuất lầu,
Mưa chưa thành hạt gió sầu đầy song.
Chim xà Tần uyển vườn không,
Ve ngâm rả rít Hán cung thu sầu.
Nào ai chớ hỏi vì đâu ?!
Về đông sông Vị chảy mau, lệ thường !!!...
Mặc dù không làm rung động lòng người và còn để lại dư âm như Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, Hàm Dương Thành Đông Lâu của Hứa Hồn cũng nói lên một niềm hoài cổ não lòng, xót xa đến... dửng dưng, vì biết đó là cái lẽ của cuộc sống, cái lý của sự vật ở trên đời "Vật cực tất phản", Âm cực dương hồi, hết thịnh rồi lại suy... cứ thế luân lưu mãi, như tất cả những dòng sông đều chảy về đông...
Hành nhân mạc vấn đương niên sự, 行人莫問當年事,
Cố quốc đông lai Vị Thủy lưu !!! 故國東來渭水流...
Bài thơ lại nổi tiếng và để đời với đôi Thực :
溪雲初起日沉閣, Khê vân sơ khởi nhật trầm các,
山雨欲來風滿樓。 Sơn vũ dục lai phong mãn lâu.
Mây vờn khe suối vầng ô khuất,
Mưa chửa thành cơn gió ngập lầu.
Nhất là câu "山雨欲來風滿樓 Sơn vũ dục lai phong mãn lâu" đã trở thành như một câu ngạn ngữ của dân miền núi khi trời sắp đổ mưa. Đây cũng là một đặc điểm độc đáo của thơ Hứa Hồn, bài thơ nổi tiếng nào của ông cũng "ướt nhẹp" với mây mưa, suối khe, sông nước...
Sau đây là một bài thơ tiễn bạn trên "Sông Nước" dưới bầu trời đầy "Mưa Gió" nữa của ông :
謝亭送別 TẠ ĐÌNH TỐNG BIỆT
勞歌一曲解行舟, Lao ca nhất khúc giải hành chu,
紅葉青山水急流。 Hồng diệp thanh sơn thủy cấp lưu.
日暮酒醒人已遠, Nhật mộ tửu tinh nhân dĩ viễn,
滿天風雨下西樓。 Mãn thiên phong vũ há tây lâu !
許渾 Hứa Hồn
* Chú thích :
- TẠ ĐÌNH 謝亭 : Còn có tên là TẠ CÔNG ĐÌNH 謝公亭(Đình của ông họ Tạ) nằm ở mặt bắc của Tuyện Thành, do Thái Thú Tuyên Thành là TẠ THIỂU 謝朓 đời Nam Tề dựng nên để tiễn bạn là Phạm Vân. Về sau TẠ ĐÌNH thành nơi tiễn biệt nổi tiếng của Tuyên Thành.
- Lao Ca 勞歌 : là "Bài ca ly biệt" vốn được hát ở Lao Lao Đình 勞勞亭 để đưa bạn tiễn khách. Sau LAO CA thành biểu tượng của bài ca ly biệt, như trong 2 câu thơ của Thi Tiên Lý Bạch : "Thiên hạ thương tâm xứ, Lao Lao tống khách đình 天下傷心處,勞勞送客亭" Có nghĩa :"Nơi mà thiên hạ thương tâm nhất, chính là cái đình tiễn khách tên Lao Lao nầy đây".
- Giải 解 : là Cởi, mở ra, tháo ra.
- Hồng Diệp 紅葉 : là "Lá đỏ", còn có dị bản là HỒNG THỌ 紅樹 là Cây lá đỏ.
- Thuỷ Cấp Lưu 水急流 : là "Nước chảy xiết" hàm ý "Thuyền đi nhanh".
- Tây Lâu 西樓 : là "Lầu Tây" là nơi khách ở, nên thường mượn từ "Lầu Tây" để chỉ nơi tiễn khách; cũng như NAM PHỐ 南浦 là Bến nước phía Nam, cũng là bến nước để đưa bạn, tiễn khách. Nên trong cổ thi thường mượn từ TÂY LÂU và NAM PHỐ để chỉ nơi đưa tiễn.
* Nghĩa bài thơ :
ĐƯA TIỄN Ở TẠ CÔNG ĐÌNH
Sau một khúc Lao ca tiễn biệt thì dây thuyền đã được mở ra và thuyền đi nhanh theo dòng nước cuốn nhanh trong cảnh núi xanh lá đỏ; Khi chiều đã xuống, rượu cũng đã tỉnh ra thì người cũng đã đi xa rồi; Ta bước xuống lầu tây trong cảnh đầy trời mưa gió não nùng.
* Diễn Nôm :
TẠ ĐÌNH TỐNG BIỆT
Lao ca một khúc mở thuyền đi,
Lá đỏ núi xanh nước cuốn đầy.
Chiều xuống tỉnh ra người đà khuất,
Ngập trời mưa gió xuống lầu tây !...
Lục bát :
Lao ca một khúc thuyền đi,
Núi xanh lá đỏ nước thì cuốn trôi.
Tỉnh ra người đã xa rồi,
Ngập trời mưa gió bồi hồi xuống thang.
Hẹn bài viết tới !
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét