• Tác giả Hoàng Đức Nhã
LGT: Quan hệ đồng minh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, cũng như trong giai đoạn hậu chiến cho đến ngày nay, đã trải qua nhiều thăng trầm sâu sắc. Những di sản của quá khứ vì thế không chỉ thuộc về lịch sử, mà vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến nhận thức, chính sách và quan hệ giữa các bên trong hiện tại. Trong bối cảnh cục diện Biển Đông và khu vực Ấn Độ–Thái Bình Dương ngày càng phức tạp, cùng với những căng thẳng tại các điểm nóng như chiến tranh vùng Vịnh và tình hình tại Cuba, việc nhìn lại những bài học của lịch sử trở nên đặc biệt cần thiết.
<!>
Đối với Việt Nam hôm nay, trước những thách thức về an ninh, chủ quyền và vị thế chiến lược trong khu vực, việc suy ngẫm về kinh nghiệm của quá khứ càng mang ý nghĩa thời sự.
Trong tinh thần đó, chúng tôi trân trọng giới thiệu bài tham luận “Quan hệ Đối tác Hoa Kỳ – Việt Nam Cộng Hòa: Nhìn lại và Những Bài học Đương đại.” Bài viết trình bày những phân tích và đề nghị của tác giả về các điều kiện cần thiết để mở ra một tiến trình hòa giải thực sự, hướng tới một tương lai trong đó các lợi ích tinh thần, kinh tế và chiến lược của Hoa Kỳ, Việt Nam và cộng đồng người Việt hải ngoại có thể được tôn trọng, bảo đảm và dung hòa.
Tác giả bài tham luận là ông Hoàng Đức Nhã, cựu Cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và cựu Tổng trưởng Dân vận & Chiêu hồi của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Bài viết được trình bày tại hội thảo “Những Thách thức của Hòa bình: Quan hệ Mỹ–Việt từ năm 1975,” tổ chức tại Đại học California, Berkeley (California) vào các ngày 18–19 tháng 9 năm 2025.
Bài tham luận nguyên thủy được viết bằng tiếng Anh; bản tiếng Việt dưới đây do chúng tôi chuyển ngữ với sự hiệu đính của chính tác giả.
· Triều Giang
Quan hệ Đối tác Hoa Kỳ – Việt Nam Cộng Hòa: Nhìn lại và Những Bài học Đương đại
Quan hệ đối tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) trong giai đoạn 1955–1975 vẫn là một trong những mối quan hệ song phương phức tạp, hệ trọng và bị hiểu lầm nhiều nhất trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Đây là một quan hệ không được hình thành từ sự gần gũi văn hóa hay truyền thống ngoại giao lâu đời, mà từ sự giao thoa của những đòi hỏi chiến lược.
Đối với Washington, cam kết với miền Nam Việt Nam xuất phát từ chủ thuyết ngăn chặn toàn cầu sau Chiến tranh Triều Tiên, nhằm ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản ở bất cứ nơi nào nó xuất hiện. Tuy nhiên, đối với VNCH, cuộc đấu tranh này không phải là một cuộc chiến ủy nhiệm mà là sự đối đầu trực tiếp liên quan đến sự tồn vong quốc gia, chủ quyền chính trị và khả năng tồn tại của một nhà nước Việt Nam không cộng sản.
Để hiểu đầy đủ những sắc thái của quan hệ này, ta cần dung hòa hai góc nhìn căn bản khác biệt. Các chiến lược gia Hoa Kỳ nhìn Việt Nam qua lăng kính toàn cầu, cân nhắc các quyết định tại Saigon trong tương quan với áp lực tại Âu Châu, Trung Đông và chính trị nội địa. Ngược lại, lãnh đạo VNCH đánh giá mọi vấn đề chính sách qua lăng kính những tổn thương lịch sử của mình, bao gồm di sản thuộc địa, cạnh tranh khu vực và tình trạng phân hóa nội bộ. Hai góc nhìn khác biệt này tạo ra những căng thẳng mang tính cấu trúc, chi phối các kết quả chính sách trong suốt quá trình liên minh.
Nhìn lại các biến cố chính trị đã định hình những quyết định của lãnh đạo VNCH và Hoa Kỳ từ năm 1955 đến 1975, quan hệ đối tác này đã chuyển từ Tốt sang Xấu rồi đến Tồi tệ.
Giai đoạn hợp tác ban đầu dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm và Tổng thống Dwight D. Eisenhower cho thấy sự đồng thuận chiến lược là khả thi. Các cố vấn Mỹ xem Tổng thống Diệm là nhân vật tối cần thiết để thiết lập một chính quyền chống cộng ổn định tại miền Nam. Về phần mình, Tổng thống Diệm nhận thức rõ sự cần thiết của viện trợ kinh tế và quân sự từ Hoa Kỳ, nhưng vẫn tìm cách duy trì quyền tự chủ chính trị.
Những xung đột sau này giữa Washington và Saigon thực chất đã tồn tại ngay từ giai đoạn phôi thai, thật ra đã có từ lúc ban đầu, trong căn bảng thành lập liên minh: một cường quốc bảo trợ tìm kiếm một người bảo trợ, có thế lực và muốn có ảnh hưởng và kết quả cụ thể, và một đồng minh nhỏ hơn chiến đấu để sinh tồn và đồng thời bảo vệ chủ quyền của mình.
Sự leo thang dấn thân của Hoa Kỳ vào đầu thập niên 1960 — đặc biệt sau vụ ám sát Tổng thống Diệm năm 1963 — phản ánh hậu quả của những kỳ vọng không đồng nhất giữa hai bên. Việc Washington ngày càng phụ thuộc vào việc muốn can thiệp quân sự diễn ra song song với sự suy giảm rõ ràng về mục tiêu chính trị. Trong khi đó, VNCH trải qua bất ổn chính trị nội bộ với nhiều cuộc đảo chính và phản đảo chính do các tướng lãnh tranh giành với nhau xảy ra trong giai đoạn 1964–1967, tình trạng này càng trầm trọng hơn do sự can thiệp gián tiếp của Hoa Kỳ vào việc thay đổi lãnh đạo VNCH.
Các nhà hoạch định chính sách Mỹ thường xuyên do dự giữa việc ủng hộ một quyền lực trung ương mạnh và cải cách chính trị cởi mở hơn, đôi khi chỉ trong vòng một năm. Những quyết định không nhất quán này khiến VNCH khó phác họa một chiến lược dài hạn mạch lạc.
Khi Hoa Kỳ ngày càng đem thêm quân vào miền Nam Việt Nam, đưa đến việc “Mỹ hóa” chiến tranh dưới thời Tổng thống Lyndon B. Johnson, bản chất của quan hệ đối tác đã thay đổi sâu sắc. Chiến lược quân sự ngày càng được định hình bởi các giả thuyết, tiêu chuẩn đo lường và thời gian tính của Mỹ. Quân lực VNCH, mặc dù chiến đấu can đảm và bền bỉ, thường bị đẩy vào vai trò thứ yếu trong công tác hoạch định và tác chiến. Sự mất cân bằng này làm suy giảm lòng tin lẫn nhau cần thiết cho sự kết hợp trong thời chiến.
Hơn nữa, việc các cấp chỉ huy Mỹ muốn chú trọng vào các trận đánh quy mô dùng nhiều đơn vị lớn và chiến lược tiêu hao không phải lúc nào cũng phù hợp với trọng tâm của VNCH về kế hoạch bình định, bảo vệ lãnh thổ và chống nổi dậy dựa trên hiểu biết địa phương.
Mối quan hệ giữa Tổng thống Richard Nixon và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong giai đoạn 1968–1974 đã cố gắng tái điều chỉnh quan hệ đối tác với chính sách “Việt Nam hóa”, nhằm chuyển giao trách nhiệm chiến tranh trở lại cho người Việt Nam đồng thời giảm sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhận thức rõ cả cơ hội lẫn rủi ro vốn có trong chính sách này.
Mặc dù “Việt Nam hóa” hứa hẹn gia tăng quyền tự chủ, chính sách này vẫn phụ thuộc vào không lực Hoa Kỳ, viện trợ kinh tế và áp lực ngoại giao đối với Bắc Việt. Tổng thống Thiệu hiểu rõ rằng sự thành công của “Việt Nam hóa” đòi hỏi Hoa Kỳ phải duy trì uy tín trong các cam kết của mình, đặc biệt trước các cuộc tấn công của Bắc Việt.
Cuối cùng, quan hệ đối tác đã suy thoái dưới áp lực của những biến động trong chính trị nội bộ Hoa Kỳ. Các giới hạn về ngân sách do Quốc hội áp đặt, đặc biệt trong Quốc hội khóa 93 (1973–1975), sự phản đối chiến tranh của công chúng và vụ khủng hoảng Watergate đã làm suy giảm khả năng của Washington trong việc thực hiện các cam kết theo Hiệp định Hòa bình Paris năm 1973.
Mặc dù Hiệp định được thiết kế nhằm tạo ra một khuôn khổ hòa bình với những điều khoản bảo đảm an ninh cho Việt Nam Cộng Hòa, nhưng việc thiếu các cơ chế thực thi và việc Hoa Kỳ ngày càng không giữ trách nhiệm bảo đảm thi hành hiệp định đã khiến nó trở nên mong manh. Khi Bắc Việt mở các cuộc tấn công quy mô lớn trong giai đoạn 1974–1975, VNCH nhận ra mình không còn nhận được sự hỗ trợ thiết yếu như đã được bảo đảm trong hiệp định.
Vì vậy, sự sụp đổ của quan hệ đối tác Hoa Kỳ–VNCH không nên được hiểu như một kết cục không tránh được , mà là kết quả cuối của sự không đối xứng trong cấu trúc, tầm nhìn chiến lược không phù hợp, sự xói mòn lòng tin và cuối cùng là việc không giữ lời hứa về những bảo đảm mà chính quyền Nixon đã cam kết liên quan đến việc thực thi Hiệp định Paris. Hoa Kỳ có sức mạnh rất lớn nhưng thiếu cam kết chính trị bền bỉ; VNCH có động lực sinh tồn để chiến đấu nhưng thiếu quyền tự chủ và nguồn lực để tồn tại nếu không có sự hỗ trợ đáng tin cậy từ bên ngoài. Những mâu thuẫn này là trung tâm điểm của liên minh và vẫn là những lập luận căn bản để diễn giải về cuộc chiến cho đến ngày nay.
Điểm mạnh và điểm yếu của liên minh
Những điểm mạnh và điểm yếu của quan hệ đối tác Hoa Kỳ–VNCH gắn chặt với nhau, thường xuất phát từ cùng một đặc điểm cấu trúc của liên minh. Năng lực kinh tế và quân sự to lớn của Hoa Kỳ đã giúp VNCH chống đỡ được nhiều đợt tấn công liên tiếp của quân đội Bắc Việt, từ cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân năm 1968 đến cuộc tổng tấn công Mùa Xuân năm 1972. Nếu không có viện trợ của Hoa Kỳ, thật khó hình dung VNCH có thể cầm cự trước một phong trào cộng sản được trang bị mạnh mẽ và được quốc tế hậu thuẫn trong thời gian dài như vậy.
Viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ tài trợ cho hàng loạt cải thiện cơ sở hạ tầng quan trọng, từ xa lộ, hải cảng đến các chương trình phát triển nông thôn. Các cố vấn Mỹ đóng vai trò chủ chốt trong các nỗ lực trong lãnh vực y tế công cộng, cải cách nông nghiệp và phát triển chương trình giáo dục.
Tuy nhiên, những điểm mạnh này không cho thấy các yếu điểm cố hữu. Viện trợ của Hoa Kỳ vừa trao quyền cho VNCH vừa tạo ra sự lệ thuộc. Dù sự hỗ trợ của Mỹ giúp VNCH xây dựng một bộ máy quân sự và hành chính có chức năng, nó đồng thời hạn chế quyền tự chủ của Việt Nam. Trên thực tế, Washington có ảnh hưởng không tương xứng trên lãnh vực chiến lược quân sự, cải cách chính trị và ngay cả về những quyết định lãnh đạo. Sự can thiệp của Hoa Kỳ trong năm 1963 góp phần dẫn đến sự sụp đổ của Tổng thống Ngô Đình Diệm là một trong những ví dụ quan trọng nhất cho thấy sự dín líu của Mỹ có thể gây bất ổn thay vì củng cố đồng minh của mình.
Một điểm yếu cốt lõi khác của liên minh nằm ở sự khác biệt trong chánh sách chống nổi dậy và bình định. Các viên chức VNCH thường nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì an ninh tại nông thôn, kết hợp chiến lược quân sự với các chương trình chính trị và xã hội, đồng thời dựa vào hiểu biết địa phương. Ngược lại, các nhà hoạch định quân sự Mỹ thường đặt ưu tiên vào các cuộc giao tranh quy ước và các chỉ số định lượng thành công/thất bại như “đếm xác”, vốn không phản ánh chánh xác tiến triển trong những hành quân chống nổi dậy. Khác biệt này cản trở sự phối hợp cần thiết để đạt được sự kết hợp mạch lạc chiến lược.
Quá trình “Mỹ hóa” chiến tranh bắt đầu từ năm 1965 càng làm quan hệ đối tác phức tạp hơn. Việc đưa vào một lực lượng bộ binh Hoa Kỳ khổng lồ, dù nhằm ổn định tình hình quân sự, lại có hệ quả ngoài ý muốn là làm lu mơ vai trò của Quân lực VNCH trong nhận thức công chúng và một số nhà hoạch định chính sách. Hình ảnh người lính Mỹ, chứ không phải binh sĩ Việt Nam, trở thành biểu tượng của nỗ lực chiến tranh, làm suy yếu nhận thức về vai trò chủ thể của VNCH. Đồng thời, sự hiện diện của quân đội Mỹ gây ra những xáo trộn xã hội và kinh tế, tạo thêm áp lực cho xã hội Việt Nam.
Khía cạnh ngoại giao của liên minh cũng bộc lộ những mâu thuẫn riêng, tạo nên sự mất lòng tin sâu đậm khi phía Nam Việt Nam phản đối việc “Mỹ hóa” tiến trình tìm kiếm hòa bình cho Việt Nam. Trong các cuộc đàm phán dẫn đến Hiệp định Paris tháng 1 năm 1973, lãnh đạo VNCH thường bị gạt ra bên lề, bị che giấu tin tức, chỉ được thông báo vào phút chót về các thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt, rồi bị ép phải chấp nhận, dù các thỏa thuận đó có ảnh hưởng sâu rộng đến sự tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa.
Vì muốn đạt được một giải pháp thương lượng nhanh chóng — phần lớn do áp lực chính trị nội bộ — Washington đã chấp nhận những nhượng bộ làm suy yếu an ninh của VNCH. Mặc dù Hiệp định chính thức công nhận VNCH là một quốc gia có chủ quyền và hứa hẹn tiếp tục hỗ trợ của Hoa Kỳ, nhưng các cơ chế thực thi lại yếu kém và phụ thuộc vào ý chí chính trị vốn tỏ ra ngắn ngủi.
Sự suy thoái của quan hệ đối tác trong những năm cuối chiến tranh cho thấy tính mong manh của các liên minh dựa trên cấu trúc quyền lực bất cân xứng. Trong khi VNCH đã đầu tư rất nhiều vào việc xây dựng một quốc gia lâu dài, thì Hoa Kỳ ngày càng nhìn cuộc chiến qua lăng kính nhu cầu chính trị nội địa. Việc Quốc hội cắt giảm viện trợ quân sự và kinh tế năm 1974 (xem Ghi chú về Viện trợ của Hoa Kỳ), cùng với lịnh cấm tiếp tục yểm trợ không quân theo Tu chính án Case–Church giữa năm 1973, đã cho Hà Nội và Saigon thấy rõ rằng các cam kết của Hoa Kỳ không còn đáng tin cậy.
Hệ quả là thế phòng thủ của miền Nam Việt Nam tan rã nhanh chóng khi đối đầu với cuộc tổng tấn công của Bắc Việt năm 1975.
Vì vậy, những điểm mạnh của liên minh — bao gồm nguồn lực dồi dào, chuyên môn kỹ thuật và mục tiêu chống cộng sản chung — rốt cuộc vẫn không đủ để khắc phục các yếu điểm cấu trúc của nó. Những yếu điểm này bao gồm sự lệ thuộc, sự không phối hợp giữa các chính sách, sự ủng hộ chính trị thiếu đồng nhất và việc không phác họa được một chiến lược dài hạn thống nhất đủ khả năng duy trì Việt Nam Cộng Hòa sau khi Hoa Kỳ rút lui.
Ảnh hưởng đối với Quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam ngày nay
Di sản của quan hệ đối tác Hoa Kỳ – VNCH tiếp tục định hình quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam ngày nay theo những cách sâu sắc và thường không được nhận diện đầy đủ. Mặc dù việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao năm 1995 đã mở ra một chương mới trong hợp tác song phương, ký ức lịch sử về chiến tranh — với những liên minh, sự phản bội, hy sinh và các tính toán chiến lược sai lầm — vẫn còn ín sâu trong tư duy chính trị của Việt Nam cũng như trong các cuộc tranh luận về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.
Từ góc nhìn của Việt Nam, các sự kiện giai đoạn 1973–1975 cho thấy rủi ro của việc phụ thuộc quá mức vào một cường quốc mà các cam kết của họ có thể thay đổi theo biến động chính trị nội bộ. Cách diễn giải này nhấn mạnh lại sự thận trọng chiến lược vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến phương cách lấy quyết định của Việt Nam ngày nay. Ngay cả khi Việt Nam đã mở rộng hợp tác an ninh với Hoa Kỳ — đặc biệt trong bối cảnh Biển Đông — Hà Nội vẫn đồng thời đa dạng hóa quan hệ với nhiều quốc gia khác, bao gồm Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và cả Nga. Mục tiêu tối hậu và quan trọng trên hết là tránh sự lệ thuộc vào bất kỳ một thể chế ngoại quốc nào hay một tác nhân bên ngoài đơn lẻ nào.
Đối với Hoa Kỳ, lịch sử của liên minh này góp phần định hình các nỗ lực hiện nay nhằm tăng cường quan hệ với Việt Nam trong khuôn khổ chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương rộng lớn hơn. Các nhà hoạch định chính sách nhận thức rõ vị trí địa chiến lược của Việt Nam, sự năng động ngày càng gia tăng của nền kinh tế và sự sẵn sàng khẳng định chủ quyền trước các áp lực trong vùng. Tuy nhiên, giới chức Mỹ cũng hiểu rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn hết sức nhạy cảm trước những trải nghiệm quá khứ về sự thiếu nhất quán của Hoa Kỳ. Do đó, các nỗ lực làm mạnh thêm hợp tác đòi hỏi sự hiểu biết những ký ức lịch sử cũng như sự minh bạch về các cam kết dài hạn.
Quan hệ kinh tế đã tăng trưởng mạnh mẽ kể từ khi bình thường hóa. Việt Nam hiện là một trong những đối tác thương mại quan trọng nhất của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á, hưởng lợi từ sự tái cấu trúc hệ thống cung ứng toàn cầu, gia tăng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Các mối quan hệ kinh tế này tạo nền tảng ổn định cho hợp tác song phương, dù những khác biệt chính trị — đặc biệt về nhân quyền và cách cai trị đất nước – vẫn tiếp tục là chủ đề tranh luận.
Các chương trình trao đổi giáo dục và văn hóa cũng mở rộng đáng kể, góp phần hình thành một thế hệ mới gồm các chuyên gia, học giả và nhà hoạch định chính sách Việt Nam có kinh nghiệm trực tiếp tại Hoa Kỳ. Sự quen thuộc ngày càng tăng này hỗ trợ cho hợp tác dài hạn, thu hẹp khoảng cách tâm lý từng định hình mối quan hệ trong quá khứ. Đồng thời, các trao đổi này cũng tạo ra những kỳ vọng mới trong giới trẻ Việt Nam về cai trị, minh bạch và hội nhập quốc tế.
Cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đóng vai trò đặc thù và đa diện trong việc định hình quan hệ song phương. Với hàng triệu người có bản sắc gắn liền với trải nghiệm lưu vong và ký ức về VNCH, cộng đồng này có ảnh hưởng đáng kể trong chính trường Mỹ. Các lãnh đạo, nhà hoạt động, trí thức và dân cử gốc Việt thường xuyên bày tỏ quan điểm về Việt Nam phản ánh những bất bình lịch sử, quan ngại về nhân quyền và khát vọng cải cách dân chủ. Sự tham gia của họ bảo đảm rằng Việt Nam vẫn là một chủ đề thảo luận tại Quốc hội, các cơ quan lập pháp liên bang, tiểu bang và chính quyền địa phương.
Sự khác biệt thế hệ trong cộng đồng hải ngoại làm cho động lực này thêm phần phức tạp. Thế hệ lớn tuổi thường duy trì mối liên hệ cảm xúc và chính trị sâu sắc với VNCH, được định hình bởi mất mát, đau thương và trải nghiệm định cư tị nạn. Thế hệ trẻ hơn, dù nhận thức rõ lịch sử đó, có thể tiếp cận Việt Nam với sự cởi mở hơn và mong muốn tái kết nối văn hóa. Những bản sắc đang chuyển biến này khiến cộng đồng người Việt hải ngoại trở thành một tiếng nói tích cực, đôi khi phân hóa nhưng luôn có ảnh hưởng trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam.
Tóm lại, tác động của quan hệ đối tác Hoa Kỳ – VNCH đối với quan hệ ngày nay không chỉ mang tính lịch sử mà còn đang tiếp diễn. Nó ảnh hưởng đến các tính toán chiến lược, tranh luận chính trị, hợp tác kinh tế và các mối liên kết văn hóa gắn kết cộng đồng xuyên biên giới.
Các yếu tố định hình một Quan hệ Đối tác Hoa Kỳ – Việt Nam lành mạnh ngày nay
Trong thế kỷ 21 một quan hệ đối tác Hoa Kỳ – Việt Nam thành công và bền vững phải vừa đối diện với sức nặng của quá khứ, vừa thích ứng với các thực tế địa chính trị mới. Yếu tố quan trọng nhất định hình hợp tác hiện nay là lợi ích chung trong việc duy trì ổn định tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Sự quyết đoán ngày càng gia tăng của Trung Quốc — đặc biệt tại Biển Đông — đã thúc đẩy sự hội tụ chiến lược giữa Washington và Hà Nội. Đối với Việt Nam, việc cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc đòi hỏi phải nuôi dưỡng nhiều quan hệ đối tác đồng thời bảo toàn tính độc lập. Đối với Hoa Kỳ, việc tăng cường quan hệ với Việt Nam là một phần trong nỗ lực rộng lớn hơn nhằm củng cố một trật tự khu vực tự do và mở rộng.
Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế là một trụ cột khác của quan hệ hiện đại. Quá trình chuyển đổi của Việt Nam sang nền kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu đã tạo điều kiện cho tăng trưởng nhanh chóng, thu hút các doanh nghiệp Mỹ tìm kiếm các trung tâm sản xuất đáng tin cậy ngoài Trung Quốc. Sự dịch chuyển này củng cố khả năng chống chịu kinh tế của Việt Nam, đồng thời tạo ra các động lực mới cho hợp tác song phương trong những lĩnh vực như công nghệ và phát triển hạ tầng.
Trao đổi văn hóa và giáo dục đã mở rộng đáng kể, với Việt Nam trở thành một trong những nguồn sinh viên quốc tế lớn nhất tại Hoa Kỳ. Các trao đổi này nuôi dưỡng những kết nối các nhân dài hạn vượt lên trên các chu kỳ ngoại giao. Các sáng kiến nghiên cứu chung, quan hệ đối tác giữa các trường đại học và các chương trình văn hóa tiếp tục làm mạnh thêm qua sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai xã hội.
Một quan hệ đối tác hiện đại lành mạnh phải tránh lặp lại những bất cân xứng đã làm suy yếu liên minh Hoa Kỳ – VNCH trước đây. Điều này đòi hỏi sự minh bạch đối với nhau, trao đổi nhất quán và tôn trọng các ưu tiên chiến lược của mỗi quốc gia. Việt Nam tìm kiếm những bảo đảm rằng các quan hệ đối tác sẽ ổn định và không dễ bị tổn thương trước những biến động nhanh chóng do chính trị nội bộ chi phối. Hoa Kỳ chủ tâm hỗ trợ năng lực của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền, đồng thời khuyến khích Việt Nam thực thi những cải cách về cai trị đất nước và nhân quyền.
Những lãnh vực có thể gây căng thẳng — như khác biệt về hệ thống chính trị, cách tiếp cận đối với xã hội dân sự và các quan ngại về tự do báo chí — cần được giải quyết qua đối thoại bền bỉ thay vì đụng độ. Một cuộc đối thoại mang tính xây dựng, vừa thừa nhận những nhạy cảm lịch sử của Việt Nam vừa khẳng định các nguyên tắc cai trị đất nước phổ dụng, là điều thiết yếu để duy trì sự tin cậy dài hạn.
Tóm lại, một quan hệ đối tác thành công ngày nay phụ thuộc vào việc cân bằng giữa nhu cầu chiến lược và sự gắn kết có nguyên tắc, giữa hợp tác kinh tế và sự nhạy cảm chính trị, giữa nhận thức lịch sử và chính sách hướng tới tương lai.
Những lời khuyên cho các nhà lãnh đạo hiện nay
Với kinh nghiệm từ nhiều năm trong chính phủ và ngoại giao, và kinh doanh tôi xin đưa ra một số lời khuyên cho các nhà lãnh đạo hiện nay của cả Việt Nam và Hoa Kỳ. Những lời khuyên này bắt nguồn từ các bài học của liên minh Hoa Kỳ – VNCH — đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự minh bạch, sự tôn trọng lẫn nhau và tính nhất quán chiến lược.
Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam, tiến bộ quốc gia bền vững đòi hỏi tiếp tục thúc đẩy cải cách thể chế. Cải thiện cách cai trị đất nước, phát huy sự minh bạch và hiện đại hóa năng lực hành chính là những yếu tố cốt lõi cho ổn định dài hạn. Thành công kinh tế của Việt Nam đã giúp hàng triệu người thoát nghèo, nhưng các bước tiến trong tương lai phụ thuộc vào đổi mới sáng tạo, giáo dục và phát triển nguồn nhân lực. Đầu tư vào thế hệ trẻ — trong khoa học, công nghệ, tinh thần và khả năng kinh doanh, và giáo dục công dân — là những điều then chốt.
Quan trọng không kém là vấn đề hòa giải dân tộc. Hàng triệu người Việt ở nước ngoài vẫn duy trì mối liên hệ cảm xúc và lịch sử sâu sắc với VNCH. Đóng góp của họ cho xã hội Hoa Kỳ và văn hóa Việt Nam toàn cầu rất lớn. Để hòa giải có tính thuyết phục, Việt Nam cần thể hiện không chỉ sự cởi mở về mặt biểu tượng mà còn thực thi tác động cụ thể nhằm công nhận cộng đồng hải ngoại là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam. Điều này bao gồm việc tạo ra các cơ hội văn hóa, học thuật và kinh tế nhằm đón nhận tham gia của cộng động người Việt hãi ngoại.
Đối với các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ, bài học quan trọng nhất là sự đáng tin cậy. Sự sụp đổ của VNCH cho thấy hệ quả của những cam kết chính trị thiếu nhất quán. Do đó, sự cộng tác ngày nay với Việt Nam phải được đặt trên nền tảng hoạch định chiến lược dài hạng chứ không phải trên các tính toán chính trị ngắn hạn. Điều này bao gồm việc bảo đảm rằng hợp tác an ninh, hợp tác kinh tế và quan hệ ngoại giao đủ vững chắc trước sự thay đổi của các chính quyền.
Ngoài ra, Hoa Kỳ cần cân bằng giữa lợi ích chiến lược và sự vận động dựa trên nguyên tắc đứng đắn. Sự ủng hộ bền vững về cách cai trị đất nước tốt, pháp quyền và nhân quyền tại Việt Nam cần được kết hợp — chứ không tách rời — khỏi tổng thể quan hệ song phương. Điều này không có nghĩa là áp đặt những mô hình bên ngoài, mà là khuyến khích các cải cách tăng cường khả năng tự cường dài hạn của Việt Nam.
Cả hai quốc gia cần xây dựng một quan hệ đối tác dựa trên tôn trọng lẫn nhau thay vì lệ thuộc. Điều đó đòi hỏi sự khiêm tốn, hiểu biết lịch sử và thừa nhận những thiếu sót trong quá khứ. Đồng thời, nó cũng đòi hỏi tầm nhìn hướng tới tương lai, vượt qua những ràng buộc của di sản Chiến tranh Lạnh.
Vai trò của Cộng đồng Người Việt Hải ngoại
Cộng đồng người Việt hải ngoại tại Hoa Kỳ và trên toàn thế giới vẫn là một trong những cộng đồng người Việt có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, đặc biệt trong đời sống chánh trị Hoa Kỳ. Sự hình thành của cộng đồng này gắn liền với việc Saigon thất thủ năm 1975, trải nghiệm định cư của người tị nạn và ký ức tập thể về VNCH. Vì vậy, “bản sắc hải ngoại” bao gồm những kích thước chánh trị, văn hóa, và cảm xúc đang tiếp tục ảnh hưởng quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam ngày nay.
Hiện nay có gần 6 triệu người Việt sinh sống tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ (theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ), gửi về khoảng 16 tỷ Mỹ Kim trong năm 2024, tương đương khoảng 20.2% tổng thu ngân sách nhà nước Việt Nam – cỡ 79.24 tỷ Mỹ Kim tức gần một phần năm tổng nguồn thu ngân sách Việt Nam.
Chúng ta cần phân biệt rõ hai nhóm trong cộng đồng người Việt hải ngoại: thứ nhất là cộng đồng mang tính chính trị, chủ yếu tại Hoa Kỳ với hơn hai triệu ba tram ngàn người Việt–Mỹ, tiếp theo là tại Anh, Úc và Canada; thứ hai là lực lượng lao động hợp đồng tạị Á Châu, chủ yếu ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.
Trong năm 2024, lực lượng lao động hợp đồng gởi về khoảng 8.6 tỷ Mỹ Kim— tương đương khoảng 11% nguồn thu ngân sách nhà nước Việt Nam — trong khi cộng đồng chính trị tại Hoa Kỳ gởi về khoảng 4.6 tỷ Mỹ Kim — tương đương khoảng 5–7% nguồn thu ngân sách nhà nước Việt Nam.
Sự chênh lệch này có thể được tính đến trong những tính toán của giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay, khi họ cho rằng cộng đồng hải ngoại mang tính chính trị có thể không phải là động lực chính trong các cuộc đối thoại về hòa giải dân tộc. Họ có thể lập luận rằng, trong khi lực lượng lao động hợp đồng — những người không đặt nặng vấn đề hòa giải- gởi về nhiều tiền hơn cộng đồng hải ngoại mang tính chánh trị, cỡ 11% của ngân sách nhà nước Việt Nam, thì đóng góp 5–7% từ cộng đồng người Việt hải ngoại mang tính chính trị tại Hoa Kỳ sẽ không còn là đòn bẩy mà cộng đồng này từng có. Điều này thay đổi cơ bản cục diện quyền lực và làm cho khả năng hòa giải thực sự càng khó xảy ra hơn trước, đồng thời khuyến khích những người cầm quyền ở Việt Nam tiếp tục giam giữ tù nhân chính trị, duy trì chế độ độc đảng và đưa ra những tuyên bố hòa giải trống rỗng mang tính hình thức.
Lời lẽ hòa giải trống rỗng mang tính hình thức giờ đây có lý do – đó là những lời nói trống rỗng, không tốn gì cho các nhà lãnh đạo Việt Nam, trong khi vẫn có thể đem lại một số lợi ích ngoại giao và kinh tế ít ỏi. Hòa giải thực sự – thả tù nhân, thừa nhận những sai trái trong lịch sử, cho phép đa nguyên – sẽ tốn kém về mặt chính trị và mang lại lợi ích tài chính giảm dần.
Những tính toán đó có thể không phục vụ lợi ích chiến lược dài hạn của Việt Nam. Những người cầm quyền nên nhận ra rằng ảnh hưởng chính trị của cộng đồng hải ngoại là đáng kể. Các thành viên cộng đồng này nắm giữ các vị trí được bầu ở cấp liên bang, tiểu bang và địa phương. Quan điểm của họ về Việt Nam – thường bị định hình bởi ký ức chiến tranh, cam kết với các lý tưởng dân chủ và các mối quan hệ cá nhân sâu sắc – đảm bảo rằng Việt Nam vẫn là một chủ đề thường xuyên trong những đàm luận chính trị Mỹ. Các phiên điều trần Quốc hội, dự thảo luật của Lập pháp và nghị quyết của chính quyền địa phương thường phản ánh những quan tâm cộng đồng về cách cai trị đất nước, nhân quyền và hòa giải.
Đồng thời, cộng đồng hải ngoại không phải là một khối đồng nhất. Sự khác biệt thế hệ định hình thái độ đối với Việt Nam và ý nghĩa của “bản sắc Việt”. Những người tị nạn thế hệ đầu thường nhìn Việt Nam hiện đại qua lăng kính của trải nghiệm chiến tranh và sự mất mát VNCH. Ngược lại, các thế hệ trẻ người Mỹ gốc Việt có thể hướng tới kết nối văn hóa, hợp tác học thuật hoặc kinh doanh với Việt Nam. Những định hướng khác nhau này tạo ra các cuộc tranh luận nội bộ trong các tổ chức cộng đồng, tổ chức văn hóa và nhóm vận động chính trị.
Bất chấp những phức tạp nội bộ này, cộng đồng người Việt hải ngoại có tiềm năng phi thường để đóng góp vào sự gắn kết tích cực giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Các thành viên của cộng đồng đóng vai trò như đại sứ văn hóa, lãnh đạo doanh nghiệp, học giả và nhà vận động. Các sáng kiến do cộng đồng dẫn dắt trong giáo dục, từ thiện, công nghệ và văn hóa đã nối kết hai quốc gia ngay cả khi quan hệ ngoại giao chính thức căng thẳng. Khả năng đa ngôn ngữ, mạng lưới xuyên quốc gia và hiểu biết văn hóa sâu sắc của cộng đồng hải ngoại giúp họ trở thành cầu nối tự nhiên, có khả năng thúc đẩy sự hiểu biết lâu dài.
Hòa giải giữa Việt Nam và cộng đồng hải người Việt ngoại vẫn là một dự án chưa hoàn thành. Hòa giải thực sự đòi hỏi nhiều hơn những tuyên bố hòa giải trống rỗng mang tính hình thức của các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Nó cũng đòi hỏi nhiều hơn các cử chỉ mang tính biểu tượng; cần có sự mở cửa thể chế, bảo vệ pháp lý cho các thành viên hải ngoại trở về và công nhận những đóng góp lịch sử của họ. Nó cũng đòi hỏi cộng đồng người Việt hải ngoại tham gia vào Việt Nam không chỉ qua lăng kính ký ức mà còn qua ý thức tham gia vào việc định hình tương lai của đất nước.
Thách thức đối với cộng đồng người Việt hải ngoại mang tính chính trị, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, là phải xây dựng một mặt trận thống nhất và tận dụng nó để gây áp lực với những người cầm quyền ở Việt Nam nhằm tiến hành các cuộc đối thoại thực chất về hòa giải dân tộc.
Sau đó chúng ta có thể thảo luận về những thiếu sót then chốt mà các nhà cầm quyền ở Việt Nam cần khắc phục để làm cho “hòa giải dân tộc” trở nên đáng tin cậy đối với cộng đồng người Việt hải ngoại chính trị, đặc biệt tại Hoa Kỳ. Những thiếu sót đó bao gồm:
• Thả tù nhân chính trị và chấm dứt đàn áp chính trị,
• Cho phép lập hồ sơ đầy đủ về các binh sĩ từng chiến đấu cho VNCH và tìm kiếm các anh hùng VNCH, tôn vinh họ trang nghiêm tại Nghĩa trang Biên Hòa,
• Ngừng việc đồng hóa hợp tác kinh tế với hòa giải chính trị – giao dịch để kiếm tiền trong khi vẫn duy trì thù địch chính trị cho thấy sự rỗng tuếch của lời lẽ hòa giải,
. Chấm dứt các hạn chế đi lại và quấy rối các thành viên người Việt hải ngoại,
• Cho phép đa nguyên chính trị và xã hội dân sự, ngừng coi các nhóm ủng hộ dân chủ là tổ chức khủng bố,
• Thẳng thắn giải quyết những bất công lịch sử, như thừa nhận chính sách phân biệt hệ thống sau 1975 đối với binh sĩ QLVNCH và công chức miền Nam trong các trại tù cải tạo, biến lời lẽ hòa giải trong Nghị quyết 36 năm 2004 thành hiện thực.
Sau cùng, cộng đồng người Việt hải ngoại mang tính chính trị vừa là lời nhắc nhở về quá khứ vừa là một lực lượng mạnh mẽ trong việc định hình tương lai quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam.
Kết luận[NB1]
Quan hệ đối tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa vẫn là một chương định hình trong lịch sử hiện đại của Việt Nam và Hoa Kỳ. Những thành tựu, mâu thuẫn và thất bại của liên minh này mang đến những bài học vượt ra ngoài chi tiết của Chiến tranh Việt Nam. Chúng làm sáng tỏ những thách thức của các liên minh bất cân xứng, tầm quan trọng của các cam kết ổn định và hậu quả của sự thiếu nhất quán chiến lược.
Khi Hoa Kỳ và Việt Nam tăng cường hợp tác trong thế kỷ 21, cả hai quốc gia phải rút ra bài học lịch sử để tránh lặp lại những sai lầm trước đây. Một quan hệ đối tác bền vững đòi hỏi minh bạch, nhất quán và đánh giá đúng ưu tiên chiến lược của quốc gia. Nó cũng đòi hỏi phải gắn kết với cộng đồng người Việt hải ngoại như một cầu nối quan trọng kết nối hai xã hội, một cộng đồng mà ký ức và khát vọng của họ tiếp tục định hình các cuộc thảo luận chính sách.
Bằng cách hiểu rõ quá khứ với sự minh bạch và khiêm tốn, và tiếp cận tương lai với tầm nhìn xa và sự tôn trọng lẫn nhau, Hoa Kỳ và Việt Nam có thể xây dựng một quan hệ đối tác tôn trọng lịch sử đồng thời thúc đẩy các mục tiêu chung về hòa bình, ổn định và thịnh vượng.
Ghi chú về viện trợ của Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cộng hòa
• Tháng 8 năm 1973, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Tu Chính án Case–Church, cấm tất cả các hoạt động chiến đấu của Hoa Kỳ tại Đông Dương sau ngày 15 tháng 8 năm 1973.
• Cắt giảm ngân sách trong Tài khóa (FY) 1974: Đối với FY 1974, chính quyền Nixon ban đầu yêu cầu khoảng 1.6 tỷ Mỹ Kim viện trợ quân sự. Quốc hội cuối cùng đã phê duyệt khoảng 1 tỷ Mỹ Kim cho viện trợ quân sự trong giai đoạn này.
• Cắt giảm lớn trong FY 1975: Mức cắt giảm mạnh nhất xảy ra tron tài khóa 1975 (bắt đầu từ 1 tháng 7, 1974). Tổng thống Nixon yêu cầu 1.45 tỷ Mỹ Kim viện trợ quân sự. Quốc hội ban đầu cho phép mức tối đa 1 tỷ Mỹ Kim nhưng cuối cùng chỉ cho 700 triệu Mỹ Kim .
Tóm lược chiều hướng viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng Hòa: Mức viện trợ thay đổi như sau:
•Mức cao nhất của viện trợ quân sự: Trong thời kỳ cao điểm tham gia của Hoa Kỳ (ví dụ FY 1973), viện trợ quân sự khoảng 2.27 tỷ Mỹ Kim.
•Cắt giảm cuối cùng: Trong Quốc Hội khóa 93, viện trợ quân sự giảm từ mức 1 tỷ Mỹ Kim của FY 1974 xuống còn 700 triệu Mỹ Kim của FY 1975.
•Từ chối viện trợ bổ sung: Đầu năm 1975, Tổng thống Gerald Ford yêu cầu một khoản bổ sung khẩn cấp 300 triệu Mỹ Kim (sai biệt giữa 1 tỷ Mỹ Kim được chấp thuận trước đây và 700 triệu Mỹ Kim được cấp) nhằm củng cố quốc phòng Việt Nam Cộng hòa đang sụp đổ. Quốc hội đã từ chối yêu cầu này, và một yêu cầu lớn sau đó tổng cộng 722 triệu Mỹ Kim viện trợ quân sự khẩn cấp cũng không được thông qua.
Viện trợ kinh tế và nhân đạo theo chiều hướng giảm tương tự, với yêu cầu gần 750 triệu Mỹ Kim cho FY 1975 được cứu xét kỹ lưỡng nhưng chuyển sang chương trình tái thiết hậu chiến và cứu trợ tị nạn Việt Miên Lào.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét