I-Tết Nguyên Đán
Tết nguyên Đán hay còn gọi là Tết Cổ Truyền, Tết Ta, Tết Âm Lịch, là lễ hội quan trọng nhất trong văn hóa Việt Nam, đánh dấu sự khởi đầu của năm mới theo Âm Lịch (lunar calendar). Đây là dịp để gia đình đoàn tụ, tưởng nhớ tổ tiên, cầu mong một năm mới bình an, thịnh vượng, và gắn kết cộng đồng. Tết Nguyên Đán thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Năm nay Xuân Bính Ngọ 2026 là ngày 17 Tháng 2 năm 2026.
<!>
1.1-Nguồn gốc và lịch sử
Nguồn gốc của Tết Nguyên Đán ở Việt Nam vẫn còn là một số tranh luận giữa các nhà nghiên cứu, nhưng có hai quan điểm chính được đề cập rộng rãi từ các nguồn đáng tin cậy như Wikipedia, các mạng xã hội và các bài nghiên cứu lịch sử về Tết Nguyên Đán.
Tết có nguồn gốc từ nền văn minh lúa nước bản địa Việt Nam: Tết gắn liền với chu kỳ nông nghiệp (24 tiết khí), đặc biệt là tiết khởi đầu mùa vụ mới (Tiết Nguyên Đán). Đây là dịp tạ ơn trời đất, cầu mùa màng bội thu sau một năm lao động vất vả. Theo truyền thuyết Bánh chưng - Bánh dày (dưới thời các vua Hùng, khoảng thế kỷ thứ 13 đến thế kỷ thứ 2 Trước Công Nguyên, hoặc sớm hơn), vua Hùng tổ chức cuộc thi nấu ăn để chọn người kế vị, và Lang Liêu làm bánh chưng (hình vuông tượng trưng đất) và bánh dày (hình tròn tượng trưng trời). Truyền thuyết này cho thấy người Việt đã có tập tục ăn Tết từ thời Hồng Bàng -trước 1000 năm Bắc thuộc- với các nghi lễ cúng tế, sum vầy, và biểu tượng "trời tròn đất vuông".
1.2-Tết Nguyên Đán ảnh hưởng từ văn hóa Đông Á và thời Bắc thuộc:
Do hơn 1000 năm dưới sự cai trị của các triều đại Trung Hoa phương Bắc (từ 111 Trước Công Nguyên đến thế kỷ thứ 10), Tết chịu ảnh hưởng từ Lễ hội Xuân Tiết (Chinese New Year), bao gồm Lịch Âm với 12 con giáp (với một số khác biệt như mèo thay thỏ, trâu thay bò), và một số phong tục.
Tuy nhiên, người Việt đã Việt hóa mạnh mẽ: tên gọi "Tết" (từ "Tiết" nghĩa là tiết khí, thời tiết), các món ăn đặc trưng như bánh chưng/bánh tét, cây nêu, hoa đào/hoa mai, và trọng tâm là gia đình - tổ tiên thay vì chỉ có lễ hội công cộng.
Nhiều nhà sử học xác định Tết Nguyên Đán đã tồn tại ở Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ nhất Sau Công nguyên, với chữ "Tết" và ý nghĩa phổ biến từ thời đó. Nhiều nguồn sử liệu hiện đại nhấn mạnh Tết là sản phẩm của văn hóa lúa nước Việt Nam, dù có giao thoa văn hóa với Trung Hoa.
1.3-Ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết
Ngày Tết là ngày đầu tiên của Mùa Xuân, mùa tái sinh và khởi đầu năm mới: Kết thúc chu kỳ năm cũ, đón năm mới với hy vọng mưa thuận gió hòa, sức khỏe, tài lộc: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp”.
1.4-Tôn kính tổ tiên và đoàn tụ gia đình:
-Cúng ông bà, mời tổ tiên về ăn Tết, con cháu sum họp dù ở xa và nhất là dịp thuận lợi nhất để hóa giải những bất đồng trong gia đình và đại gia đình giòng họ.
-Cộng đồng và nhân văn: Trả nợ cũ, xóa bỏ hiềm khích, chúc tụng, mừng tuổi (lì xì), thể hiện lòng biết ơn và hy vọng.
-Bản sắc văn hóa: Phân biệt "Tết Ta" với "Tết Tây" (Dương lịch 1/1), giữ gìn truyền thống qua bao biến cố lịch sử (chiến tranh, hiện đại hóa).
1.5-Phong tục chính của ngày Tết:
-Trước Tết: Lau dọn nhà cửa, mua sắm, gói bánh chưng/bánh tét, cúng ông Công ông Táo lên chầu Trời, tường trình trung thực trước Thượng Đế những việc xảy ra trong từng bếp gia đình và xã hội vào ngày 23 tháng Chạp. Đây cũng là ý nghĩa giúp con người xét mình, từ bỏ thới hư tật xấu, “ăn hiền ở lành” để được hưởng phúc đức Trời ban.
-Giao thừa: Đón năm mới lúc nửa đêm 30 Tết, cúng tất niên để tưởng nhớ công cha nghĩa mẹ, tổ tiên.
-Mùng 1 Tết: Ăn mặc quần áo mới đẹp, chúc Tết, kiêng kỵ (không quét nhà, không xin lửa... để giữ may mắn trong năm mới).
-Những ngày sau: Thăm viếng họ hàng, đi chùa, nhà thờ, chơi hội làng, đến mùng 7 thì hết Tết. Hạ Cây Nêu.
1.6-Tết Nguyên Đán đã tồn tại hàng nghìn năm
Trải qua bao thay đổi nhưng vẫn giữ hồn cốt y nguyên: sum vầy, biết ơn, và hy vọng. Các Cộng Đồng Cộng Đoàn Việt Nam phiêu bạt khắp nơi trên thế giới vẫn giữ phong tục Tết Nguyên Đán rất đậm đà với chợ Tết, múa lân, và các buổi sum họp gia đình.
II-Tết Nguyên Đán Miền Bắc và Tết Nguyên Đán Miền Nam
Từ ngày người viết di cư từ Miền Bắc xuống Miền Nam năm 1954 và biết thêm các phong tục về Tết Nguyên Đán tại Miền Nam, thì thấy đồng bào thân thương Miền Nam có những đặc trưng chân chất, hiền hòa, giản dị, không quá lễ nhi khuôn phép như Miền Bắc.
2.1-Phong tục Tết miền Nam
Phong tục Tết miền Nam mang đậm bản sắc phóng khoáng, ấm áp, gần gũi với thiên nhiên sông nước và khí hậu nhiệt đới. Khác với miền Bắc nặng về nghi thức, trang nghiêm, với hoa đào và bánh chưng bánh dày. Tết miền Nam thường vui tươi, rộn ràng, ít kiêng kỵ hơn, tập trung vào sum vầy gia đình, chúc tụng và cầu mong tài lộc, đầy đủ trong năm, không mong giàu sang phú quý. Có lẽ vì thổ nhưỡng Miền Nam được thiên nhiên ưu đãi, làm ít công sức và hưởng hoa lợi nhiều. Không giống như Miền Bắc “đất chật người đông”, gió bão, vỡ đê mất trắng mùa gặt, làm ăn vất vả, “hai sương một nắng” mà vẫn không đủ sống: “Ai ơi ăn bát cơm đầy, dẻo thơm từng hạt đắng cay muôn phần”. Trong hoàn cảnh đó, Người dân Miền Bắc kể cả những năm được mùa cũng vẫn phải tằn tiện, không dám hoang phí như người Miền Nam. Tục ngữ có câu” “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, nó có nghĩa đơn giản là khi mình ăn khỏe, ăn nhanh nhưng cũng nên nhìn vào nồi cơm còn đầy hay vơi để tự nguyện bớt ăn nhường phần cho các thành viên khác trong gia đình.
2.2-Mời khách ăn cơm
Nhân dịp này thiết tưởng cũng nên nói về cách mời khách ăn cơm, khác nhau giữa MIền Bắc và Miền Nam:
-Miền Bắc theo lề thói lễ nghĩa thời phong kiến, muốn mời khách ăn cơm, ăn tiệc thì phải hẹn ngày giờ trước. Và mâm cơm mời khách bắt buộc phải thịnh soạn hơn nhiều bữa cơm xoàng xĩnh trong gia đình hàng ngày. Chứ không dám mời khách bất chợt tới nhà lúc gia đình đang ăn cơm, dám mời khách cùng ăn cơm với con cháu trong nhà. Vì cho đó là thất lễ, là coi khách của ông bà cha mẹ đồng hàng với con cháu. Còn khi mời khách đến nhà ăn cơm, thì chỉ có ông bà cha mẹ ngồi ăn với khách. Còn con cháu ăn sau hoặc ăn ở nhà dưới chứ không được phép đồng bàn với khách của ông bà cha mẹ.
Vì những lý do đó, khi có khách bất chợt tới nhà vào lúc gia đình đang ăn cơm, thì câu “mời Bác xơi cơm” chỉ có nghĩa là: “Chào Bác, chúng tôi đang dở dùng bữa” chứ nó hoàn toàn không có nghĩa là “Mời Bác ngồi xuống ăn cơm cùng với gia đình chúng tôi”. Vì những lẽ đó, nó chỉ là một lời mời chào xã giao mà cả chủ và khách cùng hiểu như thế. Câu “Mời Bác xơi cơm” đó, có thể coi là kiểu cách, nhưng nếu nghĩ đó là “mời rơi”, “mời giả dối”, “thiếu trung thực” thì không đúng.
2.3- Khác với Miền Nam
Được thiên nhiên ưu đãi từ thời Nam Tiến, lại là thuộc địa của Pháp hơn sáu mươi năm, nên ít chịu ảnh hưởng lề thói lễ nghĩa phong kiến. Và có cuộc sống sung túc phóng khoáng hơn Miền Bắc Miền Trung. Bằng cứ là chỉ có người Miền Bắc, Miền Trung vào Nam sinh sống, chứ ít có trường hợp ngược lại.
-Đã có hồi tôi ở Long An, sáng đi hành quân, qua nhà một người miệt vườn, thấy có hai người đang nhậu, lúc chiều về đã thấy đông người nhậu như một đám giỗ, đám cưới. Có người nông dân mua máy cày để đi cày, mỗi ngày có tiền công tới ba bốn ngàn, cũng thấy đang ngồi nhậu mút chỉ, bỏ máy cày nằm trơ trên ruộng.
-Tôi thầm nghĩ, có lẽ đàn bà phụ nữ Miền Nam chiều chồng hơn các miền khác -miễn là đừng có lăng nhăng- còn muốn ăn nhậu, kết thân bạn bè sáng tối, hết ngày này qua ngày khác cũng không sao.
2.4-Các phong tục đặc trưng
Dưới đây là các phong tục đặc trưng nhất, dựa trên truyền thống lâu đời và vẫn được giữ gìn ở các tỉnh miền Nam và các Cộng Đồng Việt Nam trong nước và ngoài nước.
2.5-Chưng hoa mai vàng – Biểu tượng rực rỡ của Tết miền Nam
Hoa mai vàng (Ochna integerrima) nở rộ vào dịp Tết nhờ khí hậu ấm áp, tượng trưng cho sự may mắn, phú quý, tài lộc và khởi đầu mùa xuân mới tươi sáng.
Người miền Nam thường chưng cành mai hoặc cây mai bonsai trong nhà, đặt ở bàn thờ tại phòng khách để đón tài lộc.
2.6-Mâm ngũ quả – Ước mong: "Cầu vừa đủ xài"
Mâm ngũ quả miền Nam thường gồm 5 loại trái cây tươi, chọn theo ý nghĩa phát âm:
-Mãng cầu (cầu)
-Dừa (vừa đủ)
-Xoài (xài)
Thêm sung (hoặc hoa đỏ) để hoàn thiện "Cầu vừa đủ xài" – mong một năm mới đủ đầy, sung túc.
-Tránh chuối (vì âm "chúi" nghĩa là xui xẻo hoặc "chúi đầu"). Mâm đặt trên bàn thờ tổ tiên, thể hiện lòng biết ơn và cầu bình an cho gia đình, chòm xóm, xã hội.
2.7-Bánh Tét – Món ăn truyền thống thay thế bánh chưng
-Bánh Tét hình trụ dài, gói bằng lá chuối, nhân đậu xanh, thịt mỡ, trứng muối hoặc chuối.
-Gia đình thường quây quần gói bánh từ 27 đến 29 tháng Chạp, giáp Tết, luộc qua đêm để ăn dần trong những ngày Tết. Bánh tét tượng trưng cho sự gắn kết và no đủ.
2.8-Chợ hoa Tết và trang trí nhà cửa
Chợ hoa Tết miền Nam nhộn nhịp từ ngày 25 đến ngày 30 Tết: Như chợ hoa đường Nguyễn Huệ ở Sài Gòn, hoặc Chợ Nổi Cái Răng ở miền Tây. Người dân mua mai, dưa hấu đỏ biểu tượng may mắn, dừa tươi, và các loại hoa tươi.
Nhà cửa được dọn dẹp sạch sẽ, treo đèn lồng, câu đối đỏ, và chưng cây Kim quất tượng trưng tài lộc. Không khí sôi động, nhiều người đi chợ đêm, mua sắm đến khuya.
2.9-Mâm cỗ ngày Tết và các món ăn đặc trưng
Mâm cỗ miền Nam thường nhiều món nguội, do thời tiết nóng:
-Thịt kho tàu (hoặc kho hột vịt)
-Canh khổ qua nhồi thịt (ước mong "khổ qua" – khó khăn năm cũ qua đi)
-Gỏi ngó sen, chả giò, tôm khô, củ kiệu
-Bánh tét, cơm rượu nếp (tráng miệng)
Ăn uống thoải mái, mời khách nhậu nhẹt, thể hiện sự hiếu khách.
2.10-Các nghi thức chung nhưng mang nét miền Nam
-Cúng ông Công ông Táo (23 hoặc 24 tháng Chạp): Cúng chay hoặc mặn, tiễn ông Táo (vua bếp) về trời.
-Thăm mộ tổ tiên (trước 30 Tết): Quét dọn, cúng mời về ăn Tết.
-Giao thừa và mùng 1 Tết: Cúng tất niên, đón giao thừa, chúc Tết, lì xì (bao lì xì đỏ cho trẻ em và người lớn).
-Tục ngữ có câu: Mùng 1 Tết Cha, mùng 2 Tết Mẹ, mùng 3 Tết Thầy: Thăm viếng họ hàng thân quen.
-Không khí cởi mở: Ít kiêng kỵ nghiêm ngặt như miền Bắc. Thí dụ: Có thể quét nhà mùng 1 Tết nếu cần, không kiêng cữ như người Miền Bắc, phải đợi hết ba ngày Tết mới đổ rác vì sợ quét đi mất tài lộc năm mới, theo một câu chuyện kể.
2.11-Tết miền Nam phản ánh lối sống lạc quan
Tết miền Nam phản ánh lối sống lạc quan, gần gũi thiên nhiên, và tinh thần ăn chơi hào phóng – sum vầy vui vẻ. cộng đồng Người Việt hải ngoại thường tổ chức chợ Tết, múa lân, và sum họp gia đình với mai vàng, bánh tét để giữ hồn cốt truyền thống, Ở Nam Cali hải ngoại -Thủ Phủ của Người Việt tỵ nạn- còn có múa lân, đốt pháo, Hội Chợ Tết và Diễn Hành Tết để chung vui theo truyền thống dân tộc và cũng để tưởng nhớ lại quê cha đất tổ, nơi “chôn nhau cắt rốn của mình” và cầu mong cho đồng bào trong nước sớm được hưởng tự do hạnh phúc trong chân lý, đời sống, đức tin của mình.
Diễn Đàn Kitô-hữu -một lần nữa- xin kính chúc Quý Độc Giả một năm mới Bính Ngọ an khang hạnh phúc và được mọi sự như ý trong chân lý sự thật, giữa một thế gian có nhiều hoang mang xáo trộn, thật giả lẫn lộn, rất khó phân định!
Nguyễn Xuân Tùng
Diễn Đàn Kitô-hữu
26-02-17

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét