Đạo mà nói ra được không còn là Đạo Thường. Đạo là để HÀNH chớ không để THUYẾT (nói). Nhưng anh Thái là một nhà báo nên đã đặt nhiều câu hỏi về Phật Pháp để tìm những giải đáp, những sự giảng giải thông thường cho người nghe hiểu phần nào về Phật Pháp. Công Án Thiền do các Thiền sư (ngộ đạo) chỉ dành riêng cho người đệ tử mà vị Thiền sư nhận thấy vẫn còn một vướng mắc mà thể chưa Giác Ngộ. Qua Công án người đệ tử phải nhập Tâm mà sống với Công án cho để khi nhận ra yếu nghĩa chính là tức thì NGỘ. Quá trình này có thể nhanh, lâu tùy Duyên của người đệ tử.
<!>
Công án chỉ dành riêng cho người đệ tử do người Thầy nhận rõ để chỉ cần một sự gỡ bỏ chướng ngại giúp người đệ tử Giác ngộ. Công án Thiền không áp dụng cho bất cứ ai. Khi nhận Công án do Thầy thì người đệ tử phải tự sống với, chớ không tìm hiểu sự giải đáp của bất cứ ai dù là với Ông Phật. Thiền Công Án là thiền ĐỐN NGỘ. Là Giác Ngộ ngay tức thì không qua bất cứ Kinh điển nào. Trong một buổi dạy Pháp, Phật tự đưa ra một nhánh hoa sen. Ngay lúc mà các đệ tử đang ngỡ ngàng không HIỂU ý Phật thì Ông Đại Ca Diếp bước lên đón nhận cành hoa sen từ tay Phật. Khi đó Phật mới cho chúng đệ tử biết là đã truyền Pháp môn "Tâm Truyền Tâm", chẳng cần văn tự cho Ông Đạt Ca Diếp Giáo Ngoại biệt truyền, Bất lập Văn tự, Trực chỉ Nhân Tâm, Kiến Tánh Thành Phật. Động tác đưa ra cành hoa sen mà không nói gì là Phật đã khai sáng ra một Pháp môn tạm gọi là Thiền Đốn Ngộ dùng Công án Thiền là phương pháp đánh thức Phật Tánh của người Phật tử. Trong khi các hàng đệ tử đang dùng Tri thức để suy nghĩ, để tìm hiểu ý nghĩa Phật muốn gì. Trong hàng ngàn ý nghĩ đang trổi dậy thì Ông Đại Ca Diếp chẳng một ý nghĩ gì, không nói một lời mà khi thấy Phật đưa ra một cành hoa sen thì Ông Đại Ca Diếp tự nhiên lên đón nhận.
Rất tự nhiên như hít vô thì thở ra. Vậy thôi. Phật pháp không phải để tìm hiểu như tìm hiểu một hiện tượng, mà phải sống để nhận ra Phật tánh, là sự thật như nó là như vậy. Tìm cách tìm hiểu, giải thích, giải mã Công án Thiền sẽ chỉ đi vào Hý Luận, làm vô vị hóa ý nghĩa tối thượng của Thiền. Khi ông Thầy đưa cho học trò một bài toán. Người học trò phải tự tìm cách giái. Có thể một ngày, một tuần, một tháng cho đến khi tự giải được thì người học trò sẽ có cảm giác sung sướng, thích thú và sự thông minh được nâng cao. Còn nếu người học trò đem bài toán nhờ một vị Thầy khác giái đáp giúp thì sẽ thấy bài toán dễ quá, tuy biết đáp số nhưng chẳng học hỏi được gì. Vì đáp số là do vị Thầy tìm ra chớ không phải do chính mình tìm. Anh Thái chính là người học trò đi tìm hiểu Công án Thiền qua sự giải đáp của một vị Thầy để phục vụ vì nghề nghiệp chớ chẳng giúp ích gì cho ai, kể cả với anh Thái. Cách nay hơn 40 năm, tình cờ đọc " Biện chứng Giải thoát trong Tư tưởng Trung Hoa " của Nghiêm Xuân Hồng trong phần nói về Thiền của Nhựt Bổn có ghi lại một vị Thiền sư khi lên bục giảng chỉ nói : " Hãy lắng nghe tiếng vỗ của một bàn tay " rồi đi vào trong. Hết.
Muốn nghe tiếng vỗ của một bàn tay thì phải có người biết vỗ với một bàn tay chớ? Ai có thể?Chỉ một câu hỏi đơn giản vậy mà phải mất gần 30 năm sau, vào một buổi nghĩ trưa dưới bóng mát của tàng cây trong sân chùa sau những giờ làm công quả. Câu hỏi đó được gợi lên trong nhiều trường hợp như vậy. Nhưng lần này khi gợi lại thì BỔNG NHIÊN trước mắt bầu trời chợt tối rồi bừng sáng và hiện ra rất nhiều vị Phật cùng những TIẾNG VỖ CỦA MỘT BÀN TAY rồi biến mất. Thì ra VỖ TAY với MỘT BÀN TAY là NHƯ VẬY. Còn DỄ HƠN hàng triệu lần vỗ tay VỚI HAI BÀN TAY. Đó là Công Án Thiền, không nằm trong Kinh điển nhà Phật, nhưng là cốt lõi của Phật Pháp. Tương tự nếu ai hỏi: 3+2 = ? không được trả lời là 5 . Khi còn nhỏ chưa có nhiều hiểu biết thì những được biết là do cha mẹ, xã hội bảo cho biết. Đó là cái biết do bên ngoài đem lại, biết bằng cái đầu của người khác (núi là núi, núi của bên ngoài đem vào). Đến khi trưởng thành biết suy nghĩ thì nghi ngờ những cái đã biết có phải nhự vậy không ( núi không hẵn là núi). Khi tuổi đã chín chắn tự nhận thức thì khi đó mới nhận thức bằng chính cái đầu của mình (núi vẫn là núi, núi của mình). Đơn giản thôi. Trong Đạo Phật, nên dùng Tâm Phật tức là Tâm GIÁC có sẵn trong TÂM để nhận thức ngoại giới nó thế nào, thì nó y như vậy. Không để Ngoại giới chi phối Tâm thì Tâm Thanh Tịnh, còn Tâm bị ngoại giới lôi cuốn thì đó là TÂM VỌNG. PHẬT là GIÁC, là sự nhận thức chân thực không bị đời lôi cuốn làm nổi THAM, SÂN thì đời biển KHỔ trầm luân trở thành đời AN VUI, là CỰC LẠC HIỆN TIỀN. Đạo Phật luôn tích cực trong cuộc sống vì giúp người theo Phật, tức là sống TĨNH THỨC, để sống AN LẠC cho bản thân, cho gia đình và Xã hội.
Hùng M. Nguyễn
(08 Dec, 2025)
NGHIỆP không còn là vấn đề Tâm linh. NGHIỆP là những hành động, những ý tưởng, trong quá khứ và hiện tại, Tốt hoặc Xấu, tạo thành NHÂN. Khi những yếu tố, những điều kiện hội tụ mà nhà Phật goi là DUYÊN sẽ chuyển NHÂN thành QUẢ.
Một cá nhân hay một tập thể một khi đã tạo NGHIỆP, tức là đã làm một việc có thể Tốt hoặc Xấu thì sẽ chịu chi phối bởi luật NHÂN-QUẢ và khi DUYÊN hội tụ thì sẽ nhận QUẢ Tốt hoặc Xấu do NGHIỆP đã tạo ra.
NHÂN-QUẢ là quy luật tự nhiên trong vũ trụ. NHÂN-QUẢ dù được công nhận hay không nó vẫn hiện hữu và NHÂN-QUẢ đâu có quan tâm đến ai đó công nhận hay không. Cũng như vì chịu sức hút của Mặt trời là NHÂN, Trái Đất muốn sinh tồn buộc phải quanh quanh Mặt Trời là QUẢ. Việc Trái Đất quay quanh Mặt Trời đâu có liên quan đến ai phải công nhận hay không mà nó quay vẫn cứ quay (như lời khẳn định của Giordano BRUNO, hay GALILEO dù phải bị nướng sống hay bị dọa nướng sống)
Chúng ta đang sống từng giây từng phút trong Nhân Quả một cách tự nhiên mà tưởng rằng Nhân Quả không hiện hữu. Một thí dụ nhỏ để thấy luật Nhân-Quả luôn hiện tiền. Nếu HÍT vào là Nhân thì THỞ ra là Quả. Hoặc THỞ ra là Quả thì HÍT vào là Nhân. Nếu Hít vào mà không Thở ra hay Thở ra mà không Hít vào, tức là đoạn Duyên thì ... ai biết. Duyên ở đây là sự Sống.
Tương tự, Nhắm mắt để Mở mắt. Mở mắt để Nhắm mắt. Nhắm mà không Mở hoặc Mở mà không Nhắm thì nguy rồi.
Đấy, Nhân Quả đấy.
Nếu Tĩnh Tâm nhận diện Thế giới và bản thân (cũng là một nhân tố của Thế giới) thì NHÂN-QUẢ là quy luật của mọi vạn vật vũ trụ đang vận hành như hơi thở.
Chính vì nhận thức được quy luật NHÂN-QUẢ mà con người chúng ta cần phải suy tưởng, hành động tốt, tức là tạo NGHIỆM THIỆN, NGHIỆP LÀNH. Đó là MÌNH nên vì MỌI NGƯỜI (lòng TỪ BI) là tinh thần VÔ NGÃ, tinh thần KHOAN DUNG.
Tuy nhiên cũng cần biết là để NHÂN thành QUẢ phải đủ DUYÊN. DUYÊN là yếu tố then chốt, quyết định. Nếu không đủ DUYÊN thì NHÂN chưa thể thành QUẢ. Chính vì vậy DUYÊN là MẸ sinh ra VẠN VẬT, sinh ra VẠN PHÁP. DUYÊN chính là TRỜI, là THƯỢNG ĐẾ, là Đấng TẠO HÓA, là THIÊN CHÚA nếu muốn gọi như vậy cũng được.
Nhân chuyển thành Quả khi có DUYÊN, Nhân chưa chuyển thành Quả khi DUYÊN chưa đủ.
Một kẻ ác vẫn còn sống nhỡn nhơ mà chưa đền tội vì Duyên, tức là những điều kiện kết tội, chưa hội đủ. Một khi hội đủ chứng cớ, đủ điều kiện thì Hậu QUẢ sẽ đến, chạy sao cho khỏi.
Một điều cũng nên biết :
NHÂN chẳng khác QUẢ,
QUẢ chẳng khác NHÂN,
NHÂN chính là QUẢ,
QUẢ chính là NHÂN.
Mọi hiện tượng cũng đều như vậy.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét