Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

Hiểu biết thêm với GS Huỳnh Chiếu Đẳng

Kính thưa quí bạn
Hôm nay xin đến cùng các bạn vài chuyện ngày xưa
1. Tranh Đông Hồ: “Trạng Chuột Vinh Quy”
2. Đọc báo xuân 1936: Bàn Về Thơ Củ Và Thơ Mới “Có Thấy Cái Hay” cái đẹp của thơ củ, mới thấy chỗ ngu chỗ dốt của bọn thơ mới
3. Đọc báo xuân 1918: “Hai Đồng Xu” Nguyễn Khắc Hiếu
4. Góc đố vui và lời giải
HCD 25-Feb-2026
Nếu các bạn không thấy hình chỉ thấy cái khung trống không hình, thì nên dọc Microsoft Word attached.
<!>

Tầng trên (Cảnh dâng lễ cho Mèo):
Dòng bên phải (gần con mèo): Thử bối tống ngư trí trí mưu (鼠輩送魚智智謀).
Dịch nghĩa: Lũ chuột biếu cá, dùng mưu trí (để cầu thân/yên ổn).
Dòng bên trái (sau lưng các con chuột): Miêu nhi thủ lễ mưu mưu mưu (貓兒取禮謀謀謀).
Dịch nghĩa: Chú mèo nhận lễ, toan tính mưu kế.
-----=-----
Tầng dưới (Cảnh rước Trạng về làng):
Chữ trên kiệu/lọng: Thường có chữ Tác nhạc (作樂 - chơi nhạc) và các danh xưng như Phu nhân (夫人), Trạng nguyên (狀元).
-----===<oOo>===-----
Dòng chữ dài bên trái: Đây là các câu thơ ca ngợi sự vinh hiển, đại ý nói về việc đỗ đạt cao, ngựa xe lộng lẫy trở về quê hương.
Cột 1 (phải):
坤 坤 坤 坤 邑 国 雕
(Thân thân thân thân ấp quốc điêu)
Cột 2 (trái):
杜 高 慨 潘 啃 淫 登
(Đỗ cao khái phan khẳng dâm đăng)
HCD: Hình in trong báo Xuân tiếng Pháp xuất bản ở Việt Nam ngày xưa.
Tôi không biết chữ Nho, tấm tranh Đông Hồ chứa nhiêu ý nghĩa lắm, kính nhờ quí Ông Đồ giải thích cho bà con thưởng thức
-----===<oOo>===-----
Trích “1936 Saigon - so dac biet At Hoi (23-1-1936), Nguyen duc Nhuan (Sai Gon).pdf”
có thể download trong Quán Ven Đường


Đây là bản chuyển chữ (OCR) từ hai trang báo. Tôi đã giữ nguyên cách trình bày (tựa đề, cột, gạch ngang), từ vựng, và cả những lỗi chính tả hoặc cách dùng dấu đặc trưng của thời kỳ 1936 (ví dụ: bít-qui, trăng-trở, bủa bửa, kuông, lằng ra...).
BÀN VỀ THƠ CỦ VÀ THƠ MỚI
CÓ THẤY CÁI HAY
cái đẹp của thơ củ, mới thấy chỗ ngu chỗ dốt của bọn thơ mới
Dử cái nhà tranh xịch xạc đi để làm nhà ngói, sự ấy ta thấy thường, chớ dở cái nhà ngói tốt đẹp đi để làm nhà tranh, sự ấy ta chưa thường thấy.
Nay nếu có người vì lẻ không vừa bụng cái nhà ngói ấy dòi đạp đổ đi để lấy chỗ dựng lên một cái nhà tranh khác, thì ta sẽ bảo rằng người ấy là đồ điên.
Lại ví như cái nhà quí kia vì lâu đời quá không thể ở được nữa, chúng ta cần tu bổ lại hay là phá hoại đi, thì ít ra ta phải có đủ tài liệu để dựng ra một sở nhà ngói khác. Nếu sức ta không đủ, tức là tự phụ bụng người xưa nay là tự ta bày tỏ cái chỗ bất lực của ta mà thôi.
Đại-đề về vấn-đề thơ củ với thơ mới bây giờ cũng thế.
Với một hạng người chực đem thơ mới để thay cho thơ củ tôi bảo là bọn điên cuồng hết sức.
Nếu theo thể thơ củ bây giờ mà bọn thời-nhơn không thể nắn đúc ra những bài thơ kiệt tác được, đó là tự bọn thời-nhơn hèn chớ mắc gì đến thơ củ.
Nói rằng cái thứ về không ra về đó là tươi mới, và có thể lấy nó mà thay thế cho lối thơ củ được, thì cái giá trị của thơ phải chết, mà rồi bọn bán cà-na, cảnh-chỉ, bọn bán hộp bít-qui đều thành ra thi sĩ được cả.
Nhưng trong đời có người tỉnh, tất có người mê, có người khôn tất có người dại, thì trong làng thơ có đẻ ra một hạng người mê dại, sự ấy cũng sự thường.
Tuy vậy ta há không nên tìm coi tự sao ở đời nầy lại có hạng người điên dại ấy mọc ra, hạng người thức-giả trong nước lại để cho bọn ấy khua môi múa miệng mãi, không là rầy họ.
Không nhiều thì ít, cái dầu óc người mình, ai cũng như nấy đều có sự ham muốn về thơ và sùng thượng người làm thơ.
Nhưng thơ không phải là vật dễ làm. Muốn nổi danh về thơ, ít nữa người đó, nho học phải súc tích, tư-tưởng phải cao siêu, thế cố nhơn tình phải lịch-duyệt cho lắm. Núi rộng sông dài phải trải qua cho nhiều, có lúc phải sống trong cảnh hiu tịch, đánh bạn với gió trăng, có lúc phải sống trong cái cảnh nghèo nàn, làm quen cùng đói rách. Con là người thế ấy thì thơ làm ra mới là hay được.
Bọn thi-sĩ bây giờ, chỉ một cái chữ nho, cầm sách đã lộn đầu rồi còn nói gì đến sự súc tích. Đã vậy mà tuổi tác còn nhỏ, dầu óc còn non, ra với đời thì như tên mọi ở núi xuống châu-thành, đến sự sống, thì như con chuột sa vào chỉnh nếp. Cảm giác đã kém, lịch duyệt lại non, sung sướng quen đời, cựu học không có thì thế nào làm thơ được.
Nhưng dầu óc họ đã có sẵn cái khuynh hướng về thơ, mà cái tánh háo danh của họ lại hừng hực như ngọn lửa đương cháy, thế là họ muốn có đồ tống cái lâu dài thơ cũ một dạp để họ có chỗ mọc ra.
Họ bảo rằng: lối thơ của khuôn khổ chật hẹp, không để cho họ biểu diễn cái ý tứ của mình. Họ bảo rằng: thể cách của lối thơ cũ nghiêm khắc, làm khổ cho người làm thơ, họ càng nói, họ càng bày ra cái dốt nát, cái ngu xuẩn của họ ra mà thôi.
Thơ có lối tứ tuyệt có lối bát cú, có lối trường-thiên có thể, nào phải chỉ vỏn vẹn có thứ tám câu hay bốn câu mà thôi sao?
Mà đừng nói là cái phạm vi trong bốn câu hay tám câu, là không đủ chỗ cho mình nói. Không đủ chỗ nói là tự mình không biết xếp câu, dùng chữ mà thôi.
Nầy nhá, tả cái khổ tâm của người vợ trong lúc xa chồng như bốn câu:
Tiệc rượu đưa chồng em cứ say
Em say, chàng tỉnh, thế mà hay
May ra say tít nghiêng trời đất đất
Để thấy khi anh trở gót giày
thì nghe nó làn lỵ thống thiết biết chừng nào.
Vỏn vẹn trước sau có 28 chữ, mà cái ruột gan tương nát tơi chia của người thiếu phụ bày vẽ ra như không còn sót một chỗ. Nào ai bảo là lối thơ cũ phạm vi hẹp không đủ cho người làm thơ miêu tả?
Nầy nhá, tả tấm lòng hoài cổ của mình đi qua chốn cũ, như 8 câu:


Bích-thành gạn bước buổi ban chiều
Quản cũ tân theo cảnh quạnh hiu
Con én chẳng chìu lầu tía lạnh
Cành dương tha thướt bóng vàng xỉu
Cửa thơ chấp nối chen từng lá
Nét vẽ mơ hồ ấn dấu rêu
Ai ở, ai về lòng vẫn nhớ
Đầy thềm hoa rụng khách buồn thiu
thì nghe nó cảm động tới đâu. Đáng lẽ tôi không nên bình giải bài nầy ra làm chi, vì lạc mất dấu dề, nhưng đã nói nó là hay, thì tôi phải chỉ từ chỗ hay ra luôn thể.
Bích-thành đó tức là chỗ tác-giả lúc trước đã trú ngụ, vì dưới cả thừa có hai chữ lối « cũ » đi theo.
Dưới bóng trời chiều, cái cảnh nó đã rầu rồi mà lại đi qua chốn cũ mình đã ở, thì lòng khách cảm khái bế đâu. Thế nào mà cất bước di cho mau được?
Một chữ «gạn» ở câu đầu thật đã là hay dáo dẻ để khó tả được nỗi buồn khuân của lòng khách.
Đi qua Bích-thành, mắt khách thấy những gì? Chỉ trước mắt mình một cái cảnh quạnh hiu. Đã đáng buồn hay chưa.
Lầu tía kia, phải chăng là chỗ người thân yêu của mình đã ở? Buổi dương kia phải chăng là tự tay người thân yêu của mình đã trồng? Thế mà ngó lại lầu tía thì bóng người vắng ngắt, chỉ có bầy én làm tổ ở; ngó tới buổi dương thì buổi dương tha thướt chỉ có bóng vàng xiu. Một chữ «lạnh» một chữ «xỉu» đã tả ra biết bao nhiêu nỗi việc người thay đổi, cuộc thế bề dâu, đã vậy mà khách lại khéo dùng con «én» thứ chim sắc lông tía, để ảnh tả đến chữ lầu tía, cảnh «dương» thứ cây sắc lá vàng, để ảnh tả với chữ bóng vàng thì nó hay không chỗ nói.
Cái phong cảnh Bích-thành ngó thoáng qua thì đã thấy cái cảnh lạnh lùng như vậy rồi, bây giờ mới đi lại cái chỗ dể thơ, về cảnh lúc trước thăm coi ra sao thì:
Lá cây vì không người tỉa cắt mà che mất câu thơ, dấu rêu vì không người lau chùi mà phải mất nét vẽ.
Cảnh Bích-thành tan thương đến thế là tột.
Khách với Bích-Thành không phải là người lạ, chủ nhân của Bích-Thành với khách hẳn là người thân, bây giờ đứng trước Bích-Thành tự nhiên là khách phải cảm nhớ cái người chủ của Bích-Thành:
«Ai ở ai về lòng vẫn nhớ
Ai ở, khách nói vào mình. Ai về, khách nói vào người chủ Bích-thành, nát ở ý câu: sanh ký tử qui, lòng vẫn nhớ, khách tả cái tâm sự của khách.
(Coi tiếp qua trương 7)
-----=-----
(tiếp theo trương sáu)
Rồi kết thúc bằng câu:
Đầy thềm hoa rụng khách buồn thiu.
Ra mà tả cái cảnh tang thương của Bích-Thành, lại vừa tả ra luôn lòng thương cảm của mình nữa.
Tóm lại mà nói, bài nầy khéo từng chữ, đẹp từng câu, hay từng lời, êm từng vần, thật là một bài thơ kiệt tác trong buổi gần đây.
Ấy thơ 8 câu như thế ai bảo là không đủ chỗ miêu tả cái ý muốn của mình.
Dốt không chịu là dốt lại vì cái dốt của mình mà chực đạp đổ một cái nền thơ đã xây dựng từ mấy trăm năm để lại.
Họ lại bảo thơ xưa buồn, dường như họ coi sự buồn ấy là cái bổn tanh của thơ.
Phải biết rằng thơ xưa không buồn, không vui, chỉ có nhà thơ buồn vui mà thôi.
Thơ là từ trong tình cảm mà đi ra.
Người cảm buồn, thì thơ làm ra buồn, người cảm vui thì thơ làm ra vui. Như bài chúc Tết năm Giáp-Tuất mà báo nay đã đăng:
Đem cái xuân về trả núi sông
Đa tình chi mấy tới đông phong
Trước thềm cười múa hoa em cái
Trên trịnh vui bay én vợ chồng.
Nêu ém ma vương cao ngất nghểu
Pháo kêu tổ quốc nổ đùng đùng
Mừng xuân chén rượu ta xin chúc:
Ta chúc muôn năm giống Lạc Hồng.
Thì có buồn bã gì đâu. Họ lại nói rằng thơ củ chỉ lần quẩn trong mấy câu sáo củ thì cái đó là tự ngươi vụng thơ, không biết cách dụng chữ.
Cứ như bài «hòn vay hòn trả»:
Hỏi thăm giàu có mấy năm nay
Qua lại người đời trả với vay
Chòm cá vốn kia cao chất mãi
Chơi cây lời nọ nhảy ra hoài
Hẹn hò ngày tháng chim năn nỉ
Tờ khế nam mùa lá dổi thay
Cái nợ tang bồng như chẳng trả
Chứng cho còn có đất trời hay
Đã trên 30 năm trời mà bây giờ đọc lên nghe cũng vẫn còn mới. Nào ai dám bảo thơ xưa chỉ lẩn quẩn trong ba chữ sáo cũ.
Họ còn nói nữa rằng:
Thơ xưa yếu đuối quá, thì rõ bọn họ là người không có mắt, không có tai, không có đầu óc.
Lời thơ xưa có lắm câu như búa bửa vào đầu, như máu trào ra miệng, khiến cho người đọc đến dương mê cũng phải tỉnh, dương dại cũng ra khôn. Nhưng tiếc thay thứ thơ ấy lại không phải là thứ thơ chép vào đây để làm chứng cho họ thấy được.
Đến như họ đem sự thể cách nghiêm nhặt mà buộc tội cho thơ thì vô lối hết sức.
Đã gọi là thơ, tự nhiên là phải có qui củ, phải có thể cách, phải có tiết-tấu, phải có niêm luật. Không vậy thì gọi là thơ sao được?
Ví như một người con gái sanh-thực-khi phải khác của người đàn ông đã đành, đến như xương vóc cũng phải nhỏ hơn một chút, tấm thước cũng phải thấp hơn một chút, lông mày cũng phải lợt hơn một chút, con mắt cũng phải dài hơn một chút, tay chơn cũng phải mềm hơn một chút, đã vậy mà nước da phải mịn hơn, miệng mũi phải nhỏ hơn, tướng đi, tướng đứng phải dịu dàng hơn. Có vậy mới ra người con gái chớ.
Sao mà tạo-hóa không sợ phiền công, đúc lằng ra người con gái khác xa người đàn ông như thế? Sao lại không cho họ chỉ khác bộ sanh-dục để họ làm tròn cái phận sự đẻ chửa của người đàn bà, còn những cái khác như mày cũng mày rồ, mắt cũng mắt ốc, cũng râu ria, lông ngực, cũng kịch cợm tay chơn, cũng ò dề lưng nách có được không?
Hẳn là không được rồi, vì con gái mà như thế, chỉ có cọp thường vồ.
Thơ cũng vậy, đã gọi là thơ, mà không có thể cách, không có niêm luật, không có tiết tấu, không có qui củ thì còn gọi thơ nỗi gì?
Mà cũng lạ thật! Bước vào cái nhà, thấy cột kèo chạm trổ khéo biết khen, nghe tới cung đờn, thấy những nhụy hay biết thích, mà với thơ lại đi chê là nghiêm khắc, là tốn công phu là nghĩa làm sao?
Hay là vì cái khéo của cây cột chạm trổ dễ thấy, cái hay của cung đờn êm ái dễ nghe hơn cái khéo và cái hay của thơ chăng?
Tóm lại mà nói chỉ có người dốt làm tội cho lối thơ cũ, và người điên đi công kích lối thơ cũ mà thôi.
Nhưng sao kẻ thức-giả lại không có một lời gì là rầy họ, cứ để mặc họ khua môi, uốn lưỡi là vì sao?
Cũng có một cái lẻ ở trong đó. Ta thấy người nghèo không có áo mặc, ta có thể cho họ tiền để sắm áo, hay là cho họ áo để họ che thân, chớ ta không bao giờ đi điên của đem áo hay tiền ra cho những người dương mặc áo tốt trong mình xé dể mà không biết tiếc.
Cùng một lẻ đó mà người thức-giả đương thời tiếc lời không muốn nói, làm thinh chẳng hở môi, để mặc họ muốn nói gì đó thì nói làm gì?
Thế sao tôi lại viết ra cái bài nầy làm gì?
Tôi viết ra cái bài nầy là để tạ lại cái lời của một người bạn yêu dấu đã khuyên tôi nên bước lên diễn đàn để phát biểu cái tinh thần của thơ cũ ra và nhân tiện, muốn vì độc-giả bàn qua cái hay, cái đẹp mà thôi.
P.T.T.
-----===<oOo>===-----


Tết
Tuồng đời khéo diễn lắm trò hay
Tết nhứt làm chi, thật quá rầy
Bít ngịt hơi hương bay sớm tối
Đì đùng tiếng pháo nổ đêm ngày
Quan cao lễ vật thâu không hết
Dân khổ cơm tiền cứ mãi vay
Dám hỏi ông Xanh sao chẳng biết:
Xuân chung non-nước há riêng ai?
-----===<oOo>===-----
Đọc báo xuân “1918_ Nam Phong so Tet Mau Ngo (Ha Noi).pdf”
có thể download trong Quán Ven Đường


Đây là bản chuyển tự (OCR) chính xác từ hình ảnh. Tôi đã giữ nguyên các đặc điểm chính tả cũ, cách dùng dấu câu, khoảng cách và các lỗi in ấn (như chữ "kkông" hay dấu phẩy sát chữ) để bảo đảm đúng nguyên bản của cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.
Hai đồng su
Sách tây có bài học nói về hai đồng su, vậy thời hai đồng su có thể làm thành văn, nay cũng làm bài văn hai đồng su.
Nhớ khi ở chơi tỉnh Hòa-bình, đứng chơi cửa hiệu khách,thấy một người đàn bà mường, tuổi đã già, gánh hai sọt lá gai đi qua, người vợ khách hỏi mua, giả hai su, người kia không bằng lòng, đã đi xong, giở lại lại bán. Mình ý lấy làm rẻ, nhân hỏi qua về sự bán rẻ ấy. Người bán giả lời bằng một cách khốn nạn rằng : « Nếu không bán bữa chiều không có ăn ». Song, nghe truyện các người đứng chơi cùng nói, thời lại hiểu thêm được rằng từ chỗ làng người đàn bà mường ấy ra đến tỉnh, vừa đi vừa về hơn ngày đường. Vậy thời sức hơn ngày đường của người bán lá gai, giá hai đồng su ấy.
Lạ thay ! hai đồng su trong tay người đàn bà mường chiều hôm ấy, cùng với hai đồng su trong tráp quan phủ, huyện, trong túi quan phán, ký, cũng cùng là hai phần trăm 2$%$ của đồng bạc, thời đố ai biết hai đồng su trên thế-giới, nhiều hay ít ? to hay bé ? là trọng hay là khinh ? Cho nên sấm sét trên từng kkông, vang giời dậy đất, nhưng không tiếp đến thân thể, ta không lấy làm to ; một hột bụi vào con ngươi ta không dám lấy làm nhỏ. Lợn to bò nhơn vào đám giỗ nhà quan, ta không lấy làm trọng,giầu héo cau khô lúc giời mưa quãng vắng, ta không dám lấy làm khinh. Người đồng sàng đồng tịch mà ra dạ bắc nam, ta không lấy làm gần ; kẻ ngàn dặm xa xôi mà hình ảnh như ở mắt, ta không dám lấy làm xa. Khéo thay ! hai đồng su có lỗ tròn, hoặc đủ làm bộ kinh hiển-vi để xem sét nhân-tình vật-lý.
Nguyễn Khắc-Hiếu.
-----===<oOo>===-----



Tính quá 30 giây là thua.


From: nang huynh <nlehuynh@
Sent: Tuesday, February 24, 2026 8:58 SA
Subject: Giải đáp các câu đố
Câu 1: x = 150 cm
Câu 2: diện tích = 6
Câu anh Hoài: tổng số các góc của hình 8 cạnh lồi = 360°
Tính nhanh: cho là hình nội tiếp : 8 × 45° (cũng là tổng quát vì không cần thiết phải nội tiếp; đã thảo luận trong bài hình sao 5 góc)
Còn chứng minh theo cách tính góc thì kéo dài CH, DG cắt nhau tại M.
Sau đó tính tổng các góc trong hai tam giác nhỏ đỉnh A và E sẽ dẫn đến:
180 + 180 = A+B+.....+ H. ( góc M bị loại)
Với hình sao 5 cạnh : S = 180 = ( 5 - 2×2 ) 180 đỉnh này đi 2 đỉnh để đến đỉnh kế tiếp .
Với hình sao 8 cạnh.: S = 360 = ( 8 - 2×3 ) 180 đỉnh này đi 3 đỉnh để đến đỉnh kế tiếp.
Suy ra : Với hình n cạnh lồi: Tổng số góc đỉnh S = ( n - 2đ)180
với đ là số đỉnh cần thiết để đỉnh này đến đỉnh kế tiếp.
Cảm ơn Anh, chúc Anh mạnh khỏe
Năng
HCD: Cám ơn anh Năng.
Xin giải thích thêm cách tính nhẩm câu đố diện tích tam giác hồng dưới câu trả lời của anh Hoài.
-----=-----
From: Hoai Vu <hoai.hvu@
Sent: Tuesday, February 24, 2026 5:06 CH
Subject: Re: [quanvenduong] Bang huu thac mac ve xe dien, gop ý ve UFO, tinh than A Fistful of Dollars, goc do vui va loi giai
Kính thưa anh Đẳng,
Xin gửi anh lời giải cho mấy câu đố


Tính nhẩm thì thấy X = 150 cm. Cách tính nhẩm cho thấy "chó trừ chim bằng 20 cm".

Tính quá 30 giây là thua.
6
Kính anh,
Hoài
HCD: Cám ơn anh Hoài.
-----===<oOo>===----
Tôi xin giải thích thêm cách tính nhẩm câu đố diện tích tam giác hồng

Chưa tới 30 giậy phải không.



Khỏi cần đặt phương trính phải không Vì kéo độ cao hai bên xuống thì chúng ta loại bỏ độ cao của con gà và con cho ra rồi.
-----===<oOo>===-----


--
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "Tình Thân".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến tinh-than+unsubscribe@googlegroups.com.
Tranh Dong Ho, bài Ban ve tho moi va tho cu, bai Hai dong su, goc do vui va loi giai.doc
image018.jpg
image019.png
image020.jpg
image021.jpg
image022.jpg
image023.jpg
image024.jpg
image025.jpg
image026.jpg
image027.jpg
image028.jpg
image029.jpg
image030.jpg
image031.jpg
image032.jpg
image033.jpg
image034.jpg





Không có nhận xét nào: