Không biết từ bao giờ, chiếc áo poncho đã trở thành chiếc áo đi mưa của người lính VNCH. Thời chiến tranh Việt – Pháp, người lính Pháp dùng áo đi mưa bình thường như ta vẫn dùng, nhưng màu sắc là màu kaki. Bộ đội Việt Minh thì dùng “tơi” làm bằng lá cọ, rất bất tiện. Về sau họ được trang bị bằng tấm vải nylon được lén lút mua từ vùng “Tề”. Trong những món quân trang được cấp phát cho người lính, có tấm poncho màu ô liu, dùng để làm áo đi mưa. Ý nghĩ đấu tiên của người lính giản dị chỉ có thế. Nhưng khi vượt sông, người lính được chỉ cách dùng tấm poncho, gói tất cả ba lô, quân trang quân dụng, cột túm lại để trở thành cái phao mà vượt qua dòng nước.
<!>
Khi đi hành quân, với hai tấm ponchos nối lại với nhau, một sợi dây căng dùng làm đòn dong, người lính đã có một “túp lều lý tưởng của anh và của em”, của ba người lính, hay ba chàng “ngự lâm pháo thủ”. Vì cần thêm một người lính nữa chung vào, tấm poncho thứ ba làm tấm drap trải nền. Người lính đi hành quân dài ngày, ngoài ba lô quân dụng, phải mang một cấp số rưởi đạn dược, nhiều trái lựu đạn, hành trang thường nặng trên 20 ki lô, nên ít ai mang theo chăn mền. Do đó tấm poncho thứ ba, khi đêm khuya lạnh lẻo giữa nơi núi non, hay vùng đồng không mông quạnh, đã trở thành chiếc mền cho ba người lính đắp chung. Ba người lính cùng dựng “túp lều lý tưởng”, cũng là tổ “Tam Tam” trong cơ chế quân đội, là đơn vị nhỏ nhất: tổ Tam Tam, Tiểu đội, Phân đội, Trung đội, Đại đội,…Khi đi vào những vùng khan hiếm nước, hay không có nước như mật khu Hắc Dịch thuộc tỉnh Phước Tuy chẳng hạn, người lính đào một cái hố cạn, phủ poncho lên trên, tạo thành một cái giếng cạn để hứng những giọt sương đêm, hay gặp may, có một cơn mưa nào bất ngờ chợt đến để hứng nước. Sau cùng, khi người lính hy sinh nơi chiến địa, tấm poncho đã trở thành chiếc áo quan “phủ kín thân xác của người chiến sĩ”.
Bảo Định
Mùa hè đỏ lửa năm 1972, Tiều đoàn 2/43 cùng Đại đơn vị Sư đoàn 18BB nhảy vào An lộc thay thế Sư đoàn 5BB, trấn giữ Thị xã này của “Bình Long Anh Dũng”.
Ngày 12 tháng 6 năm 1972, khi lá cờ vàng ba sọc đỏ phất phới tung bay trên đỉnh đồi Đồng Long, người hùng An Lộc, Tướng Lê Văn Hưng tuyên bố với phái viên VTVN: “Thành phố An Lộc đã được hoàn toàn giải tỏa”. Sau hơn hai tháng giao tranh, lực lượng tấn công cộng sản xâm lăng Bắc Việt với quân số đông gấp 4 lần lực lượng của QLVNCH, nhưng quân trú phòng đã gây cho chúng thiệt hại ít nhất là 30 ngàn quân trong tổng số 4 sư đoàn quân CSBV. Tổn thất về phía QLVNCH cũng khá nặng nề. Nhưng điều quan trọng là họ đã giữ vững được Thị xã. Mặc dù An lộc đã trở thành một địa ngục của trần gian! Mưu đồ của CSBV mong chiếm được An Lộc để đặt làm Thủ đô của cái gọi là “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”, con đẻ của Hànội, và làm bàn đạp tiến đánh Thủ đô Sàigòn hoàn toàn bị bẻ gãy. Cuối cùng bọn đầu lĩnh Bắc Bộ Phủ đành phải chọn Lộc Ninh, một quận nhỏ của tỉnh Bình Long, nằm cách biên giới Việt – Miên vài cây số để làm thủ đô! Thật là khôi hài!
An Lộc đứng vững là nhờ sức chịu đựng, tinh thần chiến đấu dũng cảm, và lòng hy sinh vô bờ bến của người lính VNCH. Họ là những chiến sĩ Nghĩa Quân, Địa Phương Quân tỉnh Bình Long của Đại tá Trần Văn Nhựt, Sư đoàn 5 của Tướng Lê Văn Hưng, vài đơn vị của Sư đoàn 9, Sư đoàn 18, Sư đoàn 21, Biệt Động Quân, và lực lượng Nhảy Dù. Hai câu thơ của một cô giáo An Lộc, được viết lên trên một tấm gỗ của thùng đạn pháo binh, cắm trước Nghĩa trang Biệt Cách Dù, ngay giữa khu phố chợ Bình Long:
“An Lộc Địa, sử ghi chiến tích,
Biệt Cách Dù, vị quốc vong thân”
đã nói lên lòng biết ơn sâu xa của người dân địa phương đối với sự hy sinh cao cả của người lính VNCH.
An lộc đã đứng vững, các ngọn đồi chung quanh như Đồi Đồng Long, Đồi Gió, Đồi 169,…đã được tái chiếm. Quân CSBV bị thua nặng, bị kiệt quệ, nên thôi mở những cuộc tấn công thiêu thân. Nhưng vòng vây bao quanh thị xã vẫn xiết chặt. Không đũ khả năng hay không còn dám mở những cuộc tấn công bằng bộ chiến, chúng tấn công bằng trận địa pháo. Những trận mưa pháo liên tục trút lên thị xã nhỏ bé, ngày cũng như đêm. Những người lính VNCH tử trận không có phương tiện để mang về Hậu cứ trong hoàn cảnh súng phòng không dày đặc, đường bộ thì bị cắt tại Tàu Ô trên QL13, đành phải “vùi nông một nấm” tại chỗ. Nhưng mỗi tấc đất của An Lộc là một tấc lãnh đạn pháo của địch. Do đó chuyện “người chết hai lần, thịt xương nát tan” như lời một bài ca của Trịnh Công Sơn là chuyện thường tình. Tại An Lộc, Tiểu đoàn 2/43 đã có những người lính chết ba lần, bốn lần, thậm chí năm lần! Thử hỏi thịt xương còn gì? Không chỉ là nát tan!
Sư đoàn 18BB của Đại tá Lê Minh Đảo, sau khi nhảy vào An Lộc, để cùng với Trung đoàn 52 và một Tiểu đoàn của Trung đoàn 48 tăng phái cho Sư đoàn 5, đã có mặt tại đây ngay từ những ngày đầu của trận chiến, liền cấp tốc mở những cuộc hành quân tái chiếm những vùng đất bị mất, nới rộng vòng đai phòng thủ, hầu giảm thiểu những trận mưa pháo của địch. Phi trường Quản Lợi nằm cách xa thị xã An lộc lối 10 cây số về hướng Đông – Bắc. Trong thời kỳ quân đội đồng minh còn tham chiến ở VN, nơi đây là căn cứ của một Lữ đoàn Quân đội Hoa Kỳ. Người bạn đồng minh đã xây dựng tại đây những pháo đài, những bunkers rất là kiên cố để bảo vệ sân bay. Khi trận chiến An Lộc xảy ra, đây là địa điểm tốt để đặt sở chỉ huy của chúng, nhất là những dàn đại pháo để bắn vào An Lộc. Do đó, Tư lệnh Mặt trận Lê Minh Đảo quyết định bằng mọi giá, phải tái chiếm Phi trường Quản Lợi.
Vào một ngày đầu thu năm 1972, Sư đoàn 18BB đã mở cuộc hành quân cấp Trung đoàn để tái chiếm Phi trường Quản Lợi. Đây là vùng đồn điền cao su Đất Đỏ (Terre Rouge) của người Pháp. Từ An Lộc đi về hướng Đông theo con đường 303. Trước khi đến Phi trường, phải vượt qua một thung lũng hẹp. Đây là thung lũng mà những người lính của Tiểu đoàn 2/43 gọi là “Thung lũng Tử thần”. Chính cái thung lũng nhỏ hẹp này đã cướp mất biết bao nhiêu là sinh mạng của các chiến sĩ Tiểu đoàn 2/43.
Từ sáng sớm, những phi cơ chiến đấu thay nhau trút bom đạn lên đầu giặc; tiếp theo là những tràn đạn pháo 105ly, 155ly. Những khẩu pháo này đã hoạt động liên tục trong suốt trận chiến, nòng súng bị nở rộng, đường khương tuyến bị mòn, nên bây giờ tác xạ không còn chính xác. Độ sai số có thể lên đến 500 mét! Sau những đợt mưa bom và đạn pháo, Tiểu đoàn 2/43 của Đại úy Nguyễn hữu Chế, khóa 13 Võ khoa Thủđức, và Tiểu đoàn 3/43 của Thiếu tá Lê Thanh Quang, khóa 16 Võ bị Đàlạt bắt đầu mở cuộc tấn công. Trước khi mặt trời lặn, hai tiểu đoàn đã tiến chiếm được một đầu phi đạo. Trận chiến diễn ra rất ác liệt, sự thiệt hại của cả hai bên đều khá cao! Nhưng quân bạn đã lập được đầu cầu, xua quân địch về bên kia và về cuối phi đạo! Cuộc hành quân chỉ tiến đến được ngang đó. Bên kia phi đạo là một dãy pháo đài và bunkers kiên cố của quân đội Mỹ để lại. Sức chống trả của địch thật mãnh liệt, quân bạn không thể tiến xa hơn. Sau nhiều ngày tạm nghỉ ngơi, một trận đánh quyết liệt đã diễn ra mà nổ lực chính là Tiểu đoàn 2/43 để giải quyết trận địa.
Tiểu đoàn được tăng phái Đại đội Trinh sát 43 của Đại úy Nguyễn Tấn Chi, khóa 12 Võ khoa Thủđức. Từ sáng sớm, bom và đạn pháo thay nhau trút xuống mục tiêu. Thời gian của cơn mưa bom đạn kéo dài gần suốt ngày. Trước khi tấn công, một màng khói nhân tạo, do những trái đạn khói pháo binh tạo thành, dày đặc, làm màng che cho bộ binh tiến lên. Trận đánh kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ để vượt qua một phi đạo không rộng lắm. Nhưng quân bạn không thể nào chiếm được những pháo đài và bunkers. Cộng quân với các khẩu súng cộng đồng 12ly7, đại liên, trung liên, SKZ, B40, B41 đã chống trả quyết liệt. Một vài toán quân tiến được qua bên kia phi đạo, nhưng không thể nào xâm nhập vào bên trong, đành phải bỏ cuộc, rút lui. Con số thương vong khá cao. Trời vừa tối, trước mặt vị Tiểu đoàn trưởng là 19 chiến sĩ QLVNCH nằm ngay hàng với tấm poncho phủ kín:
“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại?
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở về chiều hoang trốn nắng,
Poncho buồn liệm kín hồn anh.
Anh trở về bờ tóc em xanh,
Chít khăn sô lên đầu vội vã…Em ơi!”
(Kỷ Vật Cho Em – Phạm Duy)
Còn nỗi buồn nào hơn nỗi buồn này. Chỉ trong một cuộc tấn công ngắn ngủi, con số thiệt hại đã lên quá cao! Nhiệm vụ chưa hoàn thành. Mục tiêu vẫn chưa bị thanh toán. Bóng đêm đến nhanh. Ta và địch đều phải bận rộn lo việc tản thương và tiếp tế. Địch bên kia phi đạo. Ta ở bên này, mặt đối mặt, tất cả đều mệt mỏi rã rời! Không ai buồn bắn pháo vào nhau. Một đêm yên tĩnh trôi qua. Trời thu ảm đạm, mây đen vần vũ. Cơn mưa chợt đến. Gió núi từng cơn thổi qua. Người lính VNCH áo quần ướt nhẹp, co ro trong cái lạnh đầu mùa. Nhưng súng không rời tay, mắt đăm đăm nhìn về hướng địch đang cố bám bên kia phi đạo, để theo dỏi động tĩnh của đối phương.
Ngày hôm sau, trận đánh lại tiếp tục. Nhưng lần này Tiểu đoàn được tăng cường Trung đội Hỏa tiễn TOW của Chuẩn úy Phương, vị sĩ quan tốt nghiệp Trường Fort Benning bên Mỹ. Khi đưa Trung đội Hỏa tiễn TOW vào, Tư lệnh cho biết mỗi trái đạn trị giá 7 triệu đồng (vàng lúc đó là 20 ngàn/lượng). Hỏa tiễn TOW là loại vũ khí chống xe tăng ra đời vào khoảng năm 1945. Nhưng hình như chưa được tung ra mặt trận thì cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ hai chấm dứt. Không biết trong trận chiến tranh Cao Ly, quân đội đồng minh đã có dịp xử dụng loại hỏa tiễn này chưa. Trong chiến tranh Việt Nam, loại hỏa tiễn này chỉ mới trang bị cho QLVNCH từ hồi mùa hè đỏ lửa năm 1972, và chỉ mới xuống đến cấp Trung đoàn Bộ binh. Mỗi Trung đoàn có một Trung đội gồm hai khẩu, gắn trên xe jeep. Tầm bắn của viên đạn là 3000 mét. Khi viên đạn rời nòng súng, nó kéo theo một sợi dây kim tuyến. Chính nhờ sợi dây kim tuyến này mà ta có thể điều khiển viên đạn đến mục tiêu theo ý muốn. Trên ống nhắm có một chữ thập. Ta chỉ cần đưa chữ thập vào mục tiêu thì nhất định viên đạn phải trúng mục tiêu. Khi nổ, sức nóng tõa ra trên 3000 độ. Đặc biệt viên đạn có thể luồn lách qua những hàng cây như cây cao su. Đây là loại vũ khí chống xe tăng rất hữu hiệu. Chỉ tiếc rằng người bạn đồng minh đã viện trợ cho ta quá trể. “Mất bò rồi mới làm chuồng!” Cũng giống như hồi Tết Mậu Thân năm 1968, khi quân CSBV xâm lăng xử dụng AK47 để tấn công trên toàn cỏi VNCH thì người bạn đồng minh mới cung cấp cho ta súng M16. Sau này khi bộ đội CSBV xử dụng xe tăng T-54, ta mới được ông bạn quý nhượng lại cho M48, do họ rời chiến trường VN, nặng quá không tiện mang theo! Có lẽ ông bạn Mỹ không muốn ta thắng VC, chỉ muốn ta thủ huề! Họ sợ ta thừa thắng rồi mở cuộc Bắc tiến! làm mất thế cân bằng toàn cầu của họ. Ôi! Thương thay cho thân phận người lính của một nước nhược tiểu.
Vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/43 hân hạnh được bắn phát đạn đầu tiên. Viên đạn chạm trúng mục tiêu, vị trí của khẩu thượng liên 12ly7. Viên đạn nổ, khẩu súng câm họng ngay. Hàng mấy chục tên bộ đội bỏ chạy tán loạn. Chúng tìm cách nhào xuống triền đồi, lủi nhanh vào rừng sâu. Thêm hai viên đạn nữa rời nòng súng. Những ổ kháng cự mạnh nhất của cộng quân bị vở. Tiểu đoàn trưởng cho lệnh tấn công. Chỉ trong một khoảnh khắc, toàn bộ trận địa của địch đã bị quân bạn chiếm lĩnh. Xác địch nằm la liệt. Nhiều tên bị xiềng vào chân súng, vào bunkers. Nhiều tiếng rên, nhiều tiếng khóc la. Nào là “Bác ơi! Đảng ơi! Con chết mất. Tuyệt nhiên không có tiếng “Bố ơi! Mẹ ơi!” hay “Trời ơi! Phật ơi!” như ta vẫn thường thốt lên mỗi khi đau đớn hay gặp cơn nguy biến. Khói súng, và mùi da thịt cháy khét lẹt của giặc tõa ra cả một vùng. Súng cá nhân, súng cộng đồng vất bỏ ngổn ngang. Kết quả ta thu được 1 súng thượng liên 12ly7, 1 súng cối 82ly, 2 khẩu 61ly, nhiều AK, B40 và B41. Bên ta hoàn toàn vô sự! Phi trường Quản Lợi đã được tái chiếm.
Nhưng chiến thắng này Tiểu đoàn đã phải trả cái giá quá đắc! Đó là mười chín sinh mạng của các Chiến sĩ Tiểu đoàn 2/43. Những người lính dũng cảm, ra đi không hẹn ngày về. Họ đã nằm lại trên mảnh đất quê hương, đã hy sinh thân xác để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam được ĐỘC LẬP, TỰ DO, và mang lại HẠNH PHÚC, ẤM NO cho toàn dân. Họ đã hy sinh thân xác để chống lại làn sóng đỏ tràn vào từ phương Bắc. Nhưng cuối cùng, vì sự ngu dốt của bọn người “ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản”, bọn người ngây thơ và nhẹ dạ, và vì sự phản bội của đồng minh; sự hy sinh của những người lính VNCH xem ra có vẻ oan uổng! Họ đã bỏ phí đời trai trẻ. Khi nằm xuống, những tấm ponchos đã phủ kín đời họ. Là những chiếc áo quan buồn, ra đi giữa vùng lửa đạn. Nhưng cũng là cái may! Họ đã chết vinh quang! Họ không phải sống nhục sau ngày 30/4/1975, để phải chứng kiến cảnh “nước mất nhà tan”. Chỉ có những người còn lại là phải sống nhục, sống trong nỗi đau triền miên!
Michigan, ngày cận Xuân
BẢO ĐỊNH
CỜ VÀNG RỰC RỠ TRÊN NÚI ĐỒI MÙA XUÂN
Bảo Định Nguyễn Hữu Chế
Sau Tết Mậu Thân năm 1968, các phe lâm chiến tại Việt Nam rủ nhau tới Paris, thủ đô của nước Cộng hòa Pháp quốc để bàn chuyện ngưng chiến. Một cuộc chiến tương tàn do Cộng sản Bắc Việt chủ xướng từ nhiều năm nay, ngay khi Hiệp định đình chiến Genève tháng 7 năm 1954 được ký kết chưa ráo mực. Và cuộc chiến trở nên qui mô hơn kể từ khi cái gọi là “Mặt trận Dân tộc Giãi phóng miền Nam”, con đẻ của Cộng sản Bắc Việt ra đời năm 1960. Các phe đến phó hội đều mang một chủ đích riêng, khó có thể dung hợp, nếu đối phương không chịu nhượng bước. Nội chiếc bàn để ngồi họp mà cũng bàn thảo ròng rã mấy năm trời! Từ bàn tròn, bàn vuông, đến bàn bầu dục. Toàn bàn những chuyện tào lao, cố kéo dài thì giờ để chờ một chiến thắng trên chiến trường làm lá bài áp đảo đối phương. Nhưng rồi cuối cùng một văn kiện ngưng bắn cũng đã được ký kết. Toàn dân, toàn quân đã thở phào nhẹ nhỏm. Những tưởng phen này người dân Việt có thể sống trong thái bình, dù có bị thiệt thòi đôi chút. Nhưng bất hạnh thay, dù ta có thiện chí, dù người bạn đồng minh Hoa Kỳ của chúng ta có thiện chí, nhưng thằng cộng sản là kẻ gian manh tráo trở, nên Hiệp định ngưng bắn Paris chỉ là một trò hề lố bịch, và đưa dần đến mất nước.
“Đừng nghe những gì cộng sản nói,
Hãy nhìn những gì cộng sản làm”
(Lời của cố TT Nguyễn Văn Thiệu)
Đầu xuân năm 1973, để đối phó với một cuộc ngưng bắn bất lợi mà chính phủ Việt Nam Cộng Hòa buộc phải ký kết do áp lực của người bạn lớn đồng minh Hoa Kỳ, Tiểu đoàn 2/43 của Đại úy Nguyễn Hữu Chế và Chi đoàn Thiết kỵ M113 của Đại úy Đào được điều về giữ Hậu cứ Sư đoàn tại Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh. Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm, những người lính mang khăn quàng màu tím có dịp về phố thị. Xuân Lộc tuy chỉ là một thị xã đất đỏ nhỏ bé nằm giữa những cánh rừng cao su bạt ngàn, nhưng dù sao cũng là một phố thị có đèn xanh đèn đỏ, có phố xá, có người qua lại với áo quần đẹp đẻ, có những người em gái xuân thì, mà nói như một thi sĩ trong nhóm Nhân Văn Giai phẩm:
“Tôi thấy những người con gái đến tuổi dậy thì
trông cô nào cũng đáng yêu”
Những người lính quanh năm suốt tháng làm bạn với gió núi mưa nguồn, màn trời chiếu đất, hay nói một cách thực tế, nằm võng nghe muổi đốt, bây giờ có dịp bát phố, ghé vào một quán cà phê để “bên ly cô ca đó, nghe thèm thuốc pall mall” bổng thấy đời sao đẹp lạ lùng!
Trước ngày ngưng bắn có hiệu lực, Tiểu đoàn nhận lệnh không đươc mở những cuộc hành quân, phục kích; chỉ được đặt tiền đồn, tuần tiểu và canh gác bảo vệ căn cứ.
Buổi sáng ngày ngưng bắn, Đại úy Chế thức dậy sớm, vì đêm trước là một đêm ngủ ngon, không bị đánh thức bởi những tiếng súng hay báo cáo của những toán đi phục kích bên ngoài phá giấc ngủ. Một đêm trôi qua thật yên tĩnh. Để đón chào giờ phút lịch sữ, giờ ngưng bắn có hiệu lực, vị Đại úy Tiểu đoàn trưởng cho pha một bình trà nóng, một hộp mức bánh dọn ra trên chiếc bàn đóng bằng gỗ thùng đạn pháo. Chiếc radio hiệu sony 4 băng, là phần thưởng do Quân đoàn tặng, do chính Chuẩn tướng Lê Văn Hưng trao tại sân cờ Bộ Tư Lệnh QĐ, sau những chiến thắng vang rền của Tiểu đoàn tại mặt trận An Lộc, Bình Long hồi mùa hè đỏ lữa, đang phát ra những khúc nhạc hùng. Ông cho mời tất cả cán bộ từ cấp Tiểu đội trưởng và sĩ quan trong Tiểu đoàn về uống trà, ăn bánh thưởng xuân, đồng thời đón nghe Thông điệp của Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu.
Đúng 7 giờ, khi tiếng pháo và tiếng chiêng trống vừa dứt, lời của Tổng Thống vừa cất lên chưa hết câu thì súng nổ khắp nơi, đạn pháo của VC từ các khu rừng kế cận nã vào thị xã như mưa, khói súng mịt mù. Tiếng điện thoại reo vang. Đại úy Chế nhận lệnh cho đơn vị sẵn sàng, còn ông thì lên Trung Tâm Hành quân. Khi chiếc xe jeep đưa ông đi ra đến cổng doanh trại, một trái đạn pháo nổ ngay đầu xe. Nhưng may mắn thay, tất cả đều vô sự. Tại TTHQ/SĐ, ông đã gặp Đại úy Đào, vị Chi đoàn trưởng Thiết kỵ. Hai đơn vị nhận lệnh đi giải tỏa ấp Bảo Vinh, một Ấp nằm sát ngay vòng đai của Thị xã vừa bị VC tiến chiếm. Thật ra chúng chỉ là những tên VC nằm vùng, phối hợp cùng đám du kích địa phương, nên sau khi bị bao vây chia cắt, chúng đã tìm cách tẩu thoát vào rừng. Nhưng trước khi bỏ chạy, chúng đã làm một hành động tàn nhẫn là đốt nhà dân, tạo màng khói cho dễ lẫn tránh. Bảo Vinh vừa xong thì Tiểu đoàn lên xe ra hướng ngả ba Ông Đồn để giải tỏa tiếp các ấp dọc theo QL1, cũng do đám địa phương lợi dụng lúc tranh tối tranh sáng tấn công. Với danh tiếng của Tiểu đoàn và đoàn xe thiết giáp hùng dũng, quân đi đến đâu là yên đến đó. Trước khi mặt trời xuống núi, hai đơn vị lại đèo nhau trở về Hậu cứ.
Lối 1 giờ sáng, Chế và Đào lại bị đánh thức cho đơn vị chuẩn bị lên đường. Hai đơn vị trưởng đi gặp Đại tá Mạch Văn Trường, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Long Khánh. Vừa bước vào phòng khách, họ đã thấy người hùng An Lộc đang ngồi đợi:
- Lợi dụng lúc ngưng bắn, một đơn vị cấp tiểu đoàn tăng cường của Trung đoàn 33 Quyết Thắng Long Khánh đã tiến chiếm ngả ba Dầu Giây. Đại đội Địa Phương Quân an ninh khu vực bị dồn vào một đầu xã. Chúng có súng phòng không và súng đại bác không giật. Toàn khu vực ngả ba đã bị chiếm cứ. Ông vừa nói vừa di động ngón tay trên tấm bản đồ trãi rộng trước mặt.
- Hai em ráng giúp qua, ông nói tiếp, lệnh trên bảo chúng ta phải khai thông trục lộ trước 12 giờ trưa!
Hai vị Đại úy nhìn nhau, chỉ biết tuân lệnh. “Muôn sự tại Nhân, thành sự tại Thiên!” Trước khi đứng lên từ biệt vị Đại tá Tỉnh trưởng, họ còn được biếu mỗi người một chai rượu martel để khao quân.
Ngả ba Dầu Giây, đoạn bắt đầu của QL20, đường đi Đà Lạt, với QL1. Đây là một thị trấn nhỏ nhưng sầm uất, là nơi dừng chân của các chuyến xe đò, xe hàng từ miền Trung, và từ Đà Lạt đổ xuống. Chung quanh là rừng cao su bao bọc. Lợi dụng lúc ngưng bắn, VC cộng đã tiến chiếm và đóng chốt ở đây trên một tuyến dài cả cây số. VC trà trộn trong nhà dân. Các ổ súng cộng đồng thì được bố trí trên các cao điểm. Tương quan lực lượng thì gần như ngang nhau. Địch thủ sẵn trong những hầm hố kiên cố. Ta có lợi thế là quân sĩ can trường, đoàn xe thiết giáp hùng hậu. Kể như một chọi một.
Sau khi quan sát trận địa, và mở những cuộc đánh thăm dò. Đại úy Tiểu đoàn trưởng cho mở cuộc tấn công trực diện với đội hình hàng ngang. Nhưng cuộc tấn công lần thứ nhất thất bại. Một chiếc M113 bị bắn cháy, cả đoàn xe de lui. Một đại đội vượt được qua đường, bị kẹt ở tấm biển quảng cáo mì ăn liền. Lên không được mà rút lui cũng không xong. Đành phải nằm chịu trận, hứng mọi loại đạn pháo của địch quân.
Nhưng thua keo này thì bày keo khác. Đại úy Chế thề quyết thanh toán mục tiêu trước 12 giờ. Ông cho mời vị Chi đoàn trưởng, các Đại đội trưởng, và Sĩ quan tiền sát viên gặp mặt. Một cuộc họp hành quân bỏ túi diễn ra gấp rút. Ông ban lệnh:
- Tất cả thiết giáp bố trí theo đội hình hàng ngang, bộ binh xen kẻ. Pháo binh tác xạ tập trung vào các ổ súng cộng đồng của địch. Khi có lệnh tiến quân, pháo chuyển xạ xa dần. Nếu có thương vong hay xe nào bị bắn cháy, cứ để đó, sẽ có Đại đội Chỉ huy và Yểm trợ lo. Tất cả cứ tiến, càng nhanh càng tốt. Nếu ai bất tuân, tôi sẽ truy tố ra trước tòa án quân sự.
Lúc đó đã gần 11 giờ. Đúng 11 giờ, ông cho lệnh tấn công. Các chiến sĩ khăn quàng tím cùng đoàn thiết giáp M113 hơn 20 chiếc hùng dũng tiến lên như vũ bão. Súng nổ rền vang, khói lữa mịt mùng. Vài chiếc xe bị bắn cháy, vài binh sĩ bị ngã gục. Nhưng đoàn quân vẫn tiến mà không hề chùn bước. Chỉ trong chớp mắt, đơn vị tấn công đã làm chủ trận địa. Địch quân bị bất ngờ trước lối đánh táo bạo của đối phương - giống như những con thiêu thân lao vào ngọn đèn - chúng tốc hầm bỏ chạy về hướng Tây – Bắc, xuyên qua ấp Nguyễn Thái Học, trốn vào rừng sâu. Cộng quân chỉ kịp mang theo những khẩu súng cá nhân, các ổ súng cộng đồng bị bỏ lại, gần như nguyên vẹn. Tin tức sơ khởi cho biết, quân ta tịch thu 1 khẩu thượng liên 12 ly 7, 1 súng đại bác không giật 107 ly, 1 súng cối 82 ly, và nhiều tù binh địch bị bắt sống, trong đó có tên B trưởng, tức Trung đội trưởng. Đúng 12 giờ, Đại úy Chế đứng ngay ngả ba đường cùng người lính mang máy truyền tin, bên dưới tấm biển quảng cáo mì ăn liền, báo cáo:
- Trình Hằng Minh, con đường đã được khai thông.
Chính Đại úy Chế lúc đó trở thành người cảnh sát chỉ đường, điều khiển cho xe cộ lưu thông. Những ổ bánh mì, những hộp mức bánh, những tờ báo Xuân tới tấp liệng xuống đường, với những lời hoan hô, lời cám ơn người lính cộng hòa cùng những nụ cười tươi, những nụ hôn gió của các cô gái xuân. Xe từ Đà Lạt thì liệng trái cây, trà và rượu. Tất cả là cử chỉ tri ân, lòng biết ơn của người hậu phương gửi cho lính trận. Tình quân dân như cá với nước. Ôi! Không còn gì cảm động và đẹp đẻ hơn.
Buổi chiều, Tiểu đoàn 2/43 cùng Chi đoàn Thiết kỵ của Đại úy Đào lui về ấp Trần Hưng Đạo nghỉ quân. Nhưng thời chiến, người lính chiến không có thì giờ để nghỉ ngơi. Sáng sớm ngày hôm sau, Tiểu đoàn đã lên xe thiết giáp trực chỉ quận Định Quán trên QL20. Sau khi thất bại trong mưu toan cắt đứt QL1 và QL20, cộng quân chuyển qua cắt đứt QL20 tại Phương Lâm, giáp ranh với Madagui của quận Bảo Lộc.
Địa thế tại Phương Lâm rất thuận lợi cho việc phục kích và đóng chốt. Hai bên đường là đồi núi chập chùng, sâu bên trong là rừng rậm. VC đã bố trí một khẩu thượng liên 12ly7 trên một mỏm núi cao có thể khống chế được một đoạn đường. Những khẩu súng cối 61 ly và 82 ly được dấu đàng sau những ngọn đồi. Lực lượng địch tham chiến không rõ là bao nhiêu, nhưng ít nhất cũng là cấp Tiểu đoàn tăng cường. Khi Tiểu đoàn 2/43 và Chi đoàn Thiết kỵ đến, một đoạn đường đã bị cộng quân chiếm giữ. Lưu thông đã bị gián đoạn. Nhưng lần này công việc khai thông trục lộ không phải là một việc làm dễ dàng!
Cuộc ngưng bắn lần này là một cuộc ngưng bắn da beo. Theo tinh thần bản hiệp định, trước giờ ngưng bắn có hiệu lực, quân của phe bên nào ở đâu là vùng đất thuộc quyền kiểm soát của phe đó. Do đó VC đã từ rừng sâu, gấp rút tiến quân ngay trong giờ phút ngưng bắn để nới rông phạm vi ảnh hưởng của chúng. Đối phó với hành động gian xảo của địch, người lính cộng hòa được lệnh mang theo nhiều cờ vàng ba sọc đỏ bên mình để khi tiến đến đâu thì cắm cờ đến đó. Chính những lá cờ vàng ba sọc đỏ này đã làm rực rỡ núi đồi mùa xuân, và cũng đã tiết kiệm được nhiều xương máu của quân sĩ.
Cây cầu ngắn nối liền với đoạn đường đang bị VC đóng chốt bị khống chế bằng một khẩu thượng liên 12 ly 7, nhiều khẩu B40, B41. Đã hơn một ngày đoàn quân giải tỏa bị dậm chân tại chỗ, không tiến lên được chút nào, nhưng nhiều quân sĩ cũng đã bị hy sinh tại cây cầu.
Đại úy Chế quyết định phải khống chế khẩu thượng liên trước khi cho quân vượt qua cây cầu để nhổ chốt. Đại đội 1 của Trung úy Nguyễn Trung Chánh được lệnh tiến đánh mỏm núi, nơi cộng quân đặt khẩu thượng liên. Ông chỉ thị:
- Không cần quân của anh đến được mỏm núi, vì như vậy rất gay go và nguy hiểm. Nhưng tôi cần quân của anh tiến đến đâu thì cắm cờ đến đó. Cắm càng nhiều càng tốt. Và cứ nhứ nhứ cho chúng sợ mà bỏ đi.
Trong lúc đó, các đại đội khác cũng rãi quân ra khắp núi đồi làm công việc tương tự. Chỉ trong vài tiếng đồng hồ, khắp núi đồi vùng Phương Lâm cờ vàng nở rộ như mai vàng khoe sắc trước mùa xuân tới. Những lá cờ vàng nở ra mỗi lúc một nhiều, như nước thủy triều dâng. Cộng quân thấy khí thế của đối phương mỗi lúc một dâng cao, chúng bắt đầu nao núng. Cánh quân Đại đội 1 dù không đến được mỏm núi, nhưng tiếng súng từ khẩu thượng liên đã ngưng bặt.
Khi biết chắc khẩu thượng liên đã bị khóa họng, đoàn quân bắt đầu tiến. Cây cầu bây giờ không còn là trở ngại đáng ghét, mà đã giúp đoàn quân tiến nhanh thanh toán mục tiêu. Quân tiến đến đâu, cờ vàng theo đến đó, màu vàng loan đến tận biên giới Madagui của quận Bảo Lộc, tỉnh Lâm đồng.
Khắp nơi là cả một rừng cờ vàng, trông như một rừng mai vàng nở rộ trong gió sớm mùa xuân, đáng lẽ là một mùa xuân thanh bình của đất nước, nhưng lại là một mùa xuân của chiến cuộc tràn lan, cho đến một ngày thì mùa xuân không còn nữa, thay vào đó là một mùa đông băng giá đang bao phủ khắp trời Nam./.
Michigan,
Bảo Định
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét