Ở cái đất Xẻo Nhum nầy ai mà không biết trại xuồng của Ba Nhị, ông nầy đúng là một nông dân nhà nòi, nhà chỉ có hơn 10 công đất ruộng nhưng lại có đầu óc tính toán làm ăn không thua kém ai. Nhận thấy vùng sông nước chằng chịt ở nông thôn phương tiện di chuyển chủ yếu là xuồng ghe (thuở mà giao thông đường bộ và xuồng ghe làm bằng chất liệu composite chưa phát triển như bây giờ) ông bèn lập trại đóng xuồng mời một số thợ ở Ngã Năm có tay nghề về làm việc và huy động con cháu bà con thân thuộc học nghề, ông lại có xe đò chạy tuyến Cần Thơ-Sóc Trăng nên phương tiện chuyên chở mua sắm ít tốn kém và thuận lợi hơn người khác.
<!>
Trại xuồng Ba Nhị nằm ở vị trí đầu một doi đất, một nhánh sông rẽ ra lộ cái xuôi về Phụng Hiệp, một nhánh rẽ về Ngã Sáu của Châu Thành, đường thủy thuận lợi là thế còn đường bộ cũng dễ dàng vì cách quốc lộ chưa đầy 1 km nên xuồng ghe của trại được khách thương hồ đến mua nhiều, sản phẩm làm ra được đưa đi tiêu thụ khắp nơi nhất là vào mùa nước nổi, xuồng ghe làm tới đâu tiêu thụ hết tới đó, nên lúc cậu Ba đưa Ngàn đến học việc được chủ xuồng nhận ngay. Học việc có cái giá của học việc, chỉ được nuôi cơm ngày ba bữa, cuối tuần được phát cho chút đỉnh tiền tiêu vặt coi là cà phê hay mua ít đồ dùng cá nhân như xà bông bột giặt gì đó. Sau 6 tháng học việc, người thợ cả sẽ đánh giá tay nghề, sự chăm chỉ và thái độ làm việc của học viên báo cáo với ông Ba Nhị định lương cho. Đối với thằng bé mới 15 tuổi, không cha không mẹ được như thế là đã mừng lắm rồi, có chỗ ăn chỗ ở lại được học nghề còn đòi gì hơn nên Ngàn ở lại đó. Trước khi ra về cậu Ba dúi vào tay Ngàn ít tiền buồn rầu nói:
– Mẹ con mất đi, nhà ta không còn ai thân thiết, hoàn cảnh cậu, con cũng thấy rồi đó, nghèo không thể cưu mang cho con ăn học đến nơi đến chốn như người ta được, cậu đành có lỗi với mẹ con vậy. Thôi! từ nay con cố gắng chăm chỉ học nghề sau nầy no ấm tấm thân, được vậy là cậu mừng rồi.
Ngàn không nói gì chỉ nhìn cậu với ánh mắt buồn buồn đưa cậu xuống ghe, nhìn theo bóng dáng liêu xiêu của người cậu trên chiếc tam bản mỏng manh mỗi lúc một xa dần khuất sau bụi trâm bầu mà lòng trống vắng quạnh hiu. Thế mà thoáng chốc cũng qua 5 năm kể từ ngày ấy, từ một cậu học việc không biết gì, cầm cây cưa, cây đục, cái bào còn lóng ngóng không biết sử dụng thế nào cho đúng, Ngàn đã trở thành một người thợ đóng ghe xuồng thành thạo nhất nhì của trại xuồng Ba Nhị. Có lẽ một phần nhờ sự siêng năng cần mẫn của Ngàn, một phần nhờ sự hướng dẫn tận tình của chú Được – người thợ cả của trại xuồng, chú nhận thấy thằng bé sáng dạ lạ thường, chỉ cần chỉ dẫn thao tác một hai lần là thằng nhỏ nắm bắt ngay được bí quyết của nghề. Nghề đóng ghe xuồng cũng giống như bao nghề thủ công khác muốn hàng bán chạy có uy tín với khách đòi hỏi người thợ phải có tay nghề cao, khéo tay, lại có kỹ thuật riêng, không phải nhìn người ta làm gì bắt chước làm theo mà được, chiếc xuồng khi hoàn thiện phải vừa chắc vừa đẹp vừa phải cân bằng tuyệt đối khi di chuyển trên sông nước.
Để hoàn thành một chiếc xuồng đạt yêu cầu, phải qua nhiều công đoạn khác nhau, vất vả từ việc cưa ván, bỏ mực, rọc dọn, vô vỏ, ráp cong, dằn... trong các khâu đó khâu ráp cong là khâu quan trọng nhất quyết định đến chất lượng của sản phẩm. Vì sao vậy? Cũng dễ hiểu thôi, chú Được, người thợ cả giải thích cho Ngàn: Dàn cong quyết định hình dáng của chiếc xuồng, nếu lọng dàn cong đẹp thì chiếc xuồng sẽ đẹp bằng không thì coi như hỏng. Tất cả mọi công đoạn như thế Ngàn chỉ thao tác trong vòng 3 tháng là đã thuần thục có thể tự mình làm được một chiếc xuồng hoàn chỉnh, nên ngay tháng thứ tư chú đã đề nghị ông Ba Nhị trả lương cho Ngàn. Ngàn cũng quí chú vì ở nơi xa lạ nầy chú chỉ bảo Ngàn tận tâm, hơn nữa ở lại trại ban đêm chỉ có hai chú cháu còn cánh thợ nhà cũng gần đâu đó nên tan việc mạnh ai nấy về nhà mình. Ngàn nghe bạn thợ kể lại quê chú miệt Sông Đốc Cà Mau gì đó, chú là con của một chủ trại xuồng có tiếng, phải lòng cô thôn nữ xuôi ngược thương hồ cha mẹ không chấp nhận, cả hai dắt díu nhau đi tha phương, không ngờ cô thôn nữ lại mãn phần sớm, ông Ba Nhị thương tình cho miếng đất chôn cất ở phía sau vườn, chú buồn không muốn về quê nữa, sẵn có tay nghề chú ở lại làm cho trại xuồng ông Ba Nhị và ở luôn đến bây giờ cũng hơn 10 năm rồi, cuộc đời của chú buồn vậy nên Ngàn rất thương chú.
Một đêm hai chú cháu ngồi chờ nước rong cất vó tìm con tôm con cá đặt ở cuối trại ghe, nhìn con nước lững lờ trôi từ sông cái vào, mấy cụm lục bình bập bềnh theo con nước vô định, Ngàn chợt buột miệng:
– Con nhớ sông quá chú ơi.
Tiếng của chú Được như trôi theo dòng nước:
– Mầy nói lạ, sông đang ở trước mặt mà nhớ cái nỗi gì?
Ngàn gãi đầu:
– Chú không biết đâu, con nhớ thiệt mà. Nhớ từng dòng sông bến nước hồi nhỏ đã đi qua, nhớ từng buổi họp chợ đông đúc, tiếng rao hàng mua bán trên sông, tiếng cười ồn ã chất phác, nhớ những bữa cơm chiều đơn sơ nhưng thật ấm áp bên cạnh người thân, nhớ ba mẹ, dì Tư, cái Trâm…
– Mầy nói làm chú cũng nhớ nhà quá, không biết bây giờ ông bà già tao có còn sống không nữa.
– Sao chú không về thăm?
– Về làm gì. Hôm tao quyết đưa thím mầy đi tìm hạnh phúc, ổng già còn nói vói theo:
– Mầy mà đi thì tao coi như đứt luôn không có đứa con như mầy.
Ngàn an ủi chú:
– Chắc ba chú giận mà nói vậy thôi mà.
– Tao cũng nghĩ vậy nhưng thím mầy mất rồi tao không muốn về nữa, phải chi lúc đó ông già tía tao không làm căng có lẽ thím mầy không phải chịu nhiều vất vả phong sương mà chết sớm.
Câu nói của chú làm Ngàn nghĩ đến má mình. Người đàn bà hiền hậu từng được xem là người đẹp nhất nhì của đất Cái Trâm ngọt phù sa sông Hậu phải lòng một anh thương hồ rày đây mai đó trên sông nước vấp phải sự ngăn cản của người bà ngoại. Không phải ngoại không ưng vì cha nghèo khó mà vì sợ mẹ không kham nổi sự vất vả của kiếp sống thương hồ nên má đành rađi theo tiếng gọi của con tim và Ngàn đã ra đời ngay trên nhánh sông mà má tía xuôi ngược hằng ngày mưu sinh. Nhưng những ngày tháng hạnh phúc êm đềm ấy chỉ được 5,7 năm ngắn ngủi thì tía mất. Má không lên bờ mà nối nghiệp tía rày đây mai đó. Ngoại xót lòng gọi má về nhưng má sợ người ta nói ra nói vào buồn lòng ngoại nên từ chối. Từ ngày ấy đằng sau những buổi chợ đông vui, tấp nập, phía sau những lời chào hỏi mua bán nói cười rôm rả là những nỗi nhọc nhằn khổ đau của người phụ nữ góa bụa thiếu hơi ấm tiếng cười bờ vai của người đàn ông mạnh mẽ. Ngày đó Ngàn còn nhỏ quá làm sao hiểu hết nỗi cô đơn nhọc nhằn của má.
Rồi ngoại cũng mất, má về chịu tang rồi về lại với sông, có lẽ chỉ sống với sông má mới cảm thấy hạnh phúc, má cho ghe hàng bông xuôi theo những nơi ngày xưa hai vợ chồng đã đi qua để giữ mãi hình ảnh thân thương của người chồng đã mất. Rồi má lại theo tía bỏ lại Ngàn trong một đêm mưa gió. Người ta đưa Ngàn về cho cậu Ba em má, nhưng làm sao Ngàn ở được với người đàn bà không có chút tình cảm, mở lòng đón nhận đứa cháu côi cút của cậu, may mà có dì Tư, mẹ của Trâm nghe tin xin cậu đón nhận Ngàn, dì Tư cùng là bạn hàng bông của mẹ, gặp nhau trên sông nước, những lúc tụ thuyền nghỉ đêm ở một bến sông nhận làm chị em với nhau.Lúc đó Ngàn mới 14 tuổi, sáng chiều Ngàn lại lang thang trên sông nước cùng chiếc ghe hàng bông của dì Tư, khi thì qua Cái Sâu, Mái Dầm, Phú Hữu, khi thì ngược lên Vàm Xáng, Phong Điền, Cầu Nhiếm, Ba Xe, có lúc lại trẩy lên Ô Môn,Thới Lai Cờ Đỏ, nơi nào có khách thì thuyền cứ đi, nơi nào có bến thì thuyền neo đậu lại.Có thể nói đây là khoảng thời gian Ngàn cho là đáng nhớ vui vẻ nhất của đời mình, tuy ăn uống kham khổ nhưng trên ghe luôn ấm áp tình người và đầy ấp tiếng cười.Dì Tư xem Ngàn như con trai của mình, còn Trâm con bé mới hơn 13, suốt ngày lủi thủi sống một mình trong ghe, làm bạn với mấy món đồ chơi cũ kĩ mà má lượm lặt hay người ta cho ở đâu đó trên những nhánh sông chiếc ghe thương hồ đi qua, bây giờ có thêm bạn, nó vui hẳn lên và luôn tíu tít với Ngàn, ngược lại Ngàn cũng quí nó không kém nên luôn tìm cách làm cho nó vui.
Ngàn tuy nhỏ cũng giúp cho dì Tư nhiều việc từ việc mua bán, lên bờ xách hàng hay bổ thêm hàng cho dì, những lúc ghé lại đâu đó Ngàn tranh thủ lên bờ mua cho Trâm tấm bánh hay cái kẹo mà Trâm thích, thậm chí Ngàn còn mua cả cái gương, tấm lược, nơ cài tóc cho Trâm, con bé ngắm nghía trước gương mãi còn đi khoe với dì Tư: Má ơi, anh Ngàn mua cho con cái nơ cài đầu nè, mẹ xem con cài có đẹp không? Dì Tư nhìn Ngàn cười hiền hậu làm Ngàn thấy đỏ cả vành tai. 2 năm sau cậu Ba nhắn tin cùng dì xin đón Ngàn về học nghề lo cho tương lai. Dì Tư nghĩ cũng phải nên để Ngàn đi, hôm chia tay tự tay con bé ngắt một rổ bông điên điển bên triền sông rồi làm nồi canh chua thật ngon, cùng ơ cá rô kho tộ món ăn mà Ngàn thích để tiễn Ngàn lên bờ, con bé cứ thút thít mãi dì Tư dỗ dành miết cũng không chịu nín. Ngàn cũng buồn lắm, hứa với nó có dịp sẽ về thăm, thế mà cũng đã 5 năm rồi còn gì, không biết giờ má con dì Tư, người đã cưu mang nó trong thời gian khốn khó đang xuôi ngược ở những ngã sông nào cũng không biết hay họ đã bỏ sông lên bờ cũng không chừng.
***
Buổi trưa hôm ấy nhóm thợ trại xuồng dừng tay giải lao khi Út Thơm, cô con gái út của ông chủ trại xuồng bưng một rổ khoai luộc rõ to còn bốc khói cho thợ ăn giữa buổi cùng với thùng trà đá mang theo. Út Thơm lựa một củ khoai to đưa cho Ngàn:
– Anh Ngàn ăn khoai nè, củ khoai nầy lớn nhất đó nghe.
Đám thợ cười vang, Út Thơm lừ mắt:
– Cười cái gì, ai cũng có phần mà, mấy anh siêng năng như anh Ngàn tui cũng quý chứ bộ.
Nói là nói vậy ai mà không biết Út Thơm có cảm tình với Ngàn, mà thằng Ngàn cũng tốt số thiệt nghe, được con ông chủ để ý tới là nhứt rồi còn gì. Ngàn giả đò như không biết, lột vỏ củ khoai mà Út Thơm đưa cho ăn một cách ngon lành.
Bỗng ngoài kia sông có tiếng rao hàng, một chiếc ghe hàng bông đang trờ tới, Út Thơm lên tiếng gọi, bước xuống bến nước để mua hàng. Đám thợ nhìn theo xem ghe hàng bông bán cái gì, quen hay lạ. Ghe tấp bến, cô gái cầm dây cột vào cái cọc ở bến nước, Út Thơm chọn mấy thứ cần thiết, một vài nhà kế bên thấy vậy cũng chạy ra tấp vào để mua. Một anh thợ trẻ chợt nói với Ngàn:
– Nầy Ngàn, con bé hàng bông trông xinh không thua Út Thơm đấy nhỉ?
Ngàn đưa mắt nhìn anh bạn thợ, người ta xinh thì mắc mớ gì đến mình chứ. Tuy vậy Ngàn cũng ngước nhìn ra bến sông, khi cô gái ngẩng đầu lên trao hàng cho khách. Ngàn chợt giật nẩy mình, ai giống cái Trâm quá nhỉ? Mà chắc không phải đâu, ghe hàng bông của Dì Tư có bao giờ đi qua ngõ sông nầy đâu, 5 năm rồi chắc cái Trâm giờ đã là một cô thiếu nữ rồi còn gì. Tự dưng Ngàn thấy nôn nao trong bụng, chờ lúc thưa khách ghe sắp buông dây Ngàn gọi lớn:
– Chờ tôi một chút.
Ngàn đi ra bến nước nhờ cô hàng lấy cho mình gói thuốc lá, người thiếu nữ quay vào ghe lấy hàng, Ngàn nhìn kĩ cô gái lòng không khỏi kích động. Đúng là Trâm rồi, má lúm đồng tiền, đôi mắt to, gương mặt quen thuộc làm sao Ngàn quên được chỉ khác là cái mái tóc mượt dài. Ngàn trao tiền cho cô gái, hỏi nhỏ giọng hồi hộp:
– Em có phải là Trâm con dì Tư không?
Cô gái sững sờ nhìn Ngàn run run:
– Anh là ai mà biết vậy…
Ngàn mừng trong bụng giọng lắp bắp:
– Anh là Ngàn đây mà. Trâm không nhận ra anh sao?
– Anh Ngàn? Ôi! đúng là anh Ngàn rồi.
Ngàn ngó vào khoang ghe:
– Dì Tư đâu sao anh không thấy?
Trâm buồn bã:
– Má em mất đã 2 năm rồi anh Ngàn ơi. Em đem hỏa táng rồi gởi hài cốt má vào một ngôi chùa ở Cầu Nhiếm,trên đường em thường cho ghe dừng lại ghé thăm má.Trước khi mất má cứ nhắc anh mãi. 5 năm qua anh đi những đâu sao không tìm thăm má con em.
– Cậu đưa anh về đây học nghề đóng xuồng. Anh nhớ dì Tư và Trâm lắm nhưng không biết đi đâu để gặp, đời sông nước tăm cá biệt mù biết đâu mà tìm hả em?
Trâm rân rấn nước mắt:
– Gặp được anh ở đây em mừng quá.
Ngàn cũng ngậm ngùi:
– Anh cũng vậy, em đừng khóc Trâm ơi làm anh buồn thêm. Vậy em đi hàng bông với ai, chồng con thế nào rồi?
– Chồng con gì đâu anh, em vẫn sống một mình.
– Trời đất! Vậy em lênh đênh sông nước khắp nơi chỉ có một mình sao, nguy hiểm lắm em biết không? Thân gái một mình em không sợ sao, mấy tên cướp cạn, mấy thằng quỷ sứ làm hỗn sao?
Giọng Trâm không vui:
– Em cũng quen rồi anh Ngàn, em cũng biết giữ mình anh đừng lo. Má không còn, anh cũng ở xa, em còn biết nương tựa vào ai bây giờ hở anh.
Lòng Ngàn cảm thấy thương cho cô bạn nhỏ một thời của mình:
– Tối nay ghe em đậu ở đâu?
– Em dự định ghé chợ xã bên kia cầu, bổ thêm một số hàng bông cần thiết, đợi con nước xuôi về Tân Bình Rạch Gòi rồi đi tiếp.
– Em chờ anh đến được không? Gặp anh rồi hãy đi, nhất định phải gặp. Dì Tư mất rồi anh không thể để Trâm một mình thân gái dặm trường như vậy.
Trâm nói lí nhí, ánh mắt reo vui:
– Vâng! Em sẽ chờ.
Trâm tháo dây cột dùng sào đẩy ghe ra giữa sông cho mũi quay về phía trước, nổ máy đi. Ngàn nhìn theo lòng chua xót, lững thững bước về trại xuồng, chú Được thấy hơi lạ bèn hỏi:
– Mua có gói thuốc mà lâu qua vậy Ngàn? Người quen à?
– Thưa chú, người quen.
– Phải con bé mà mầy thường nhắc không?
Ngàn nhìn chú gật đầu không nói.
***
Sáng hôm sau không ai thấy Ngàn đâu, nháo nhác hỏi thăm, chú Được thủng thẳng nói:
– Thằng Ngàn xin phép về thăm cậu nó rồi, nghe nói bệnh nặng gì đó, gấp quá nên nó không kịp chào từ biệt ai hết chỉ nhờ tao chuyển lời lại, chắc vài bữa nó lên, mà không có nó công việc của trại vẫn suôn sẻ phải không? Thôi làm việc đi.
Nói vậy nhưng trong thâm tâm chú biết lần nầy Ngàn đi là đi luôn, nó nghe theo tiếng gọi của dòng sông, của kiếp thương hồ gắn bó từ trong máu thịt từ hồi còn đỏ hỏn lận mà, đi để trả nợ ân tình cho dòng sông và cho những người đã cưu mang cuộc đời nó, từ đây trên những nhánh sông đâu đó của miền Tây sẽ có thêm đôi vợ chồng trẻ vui kiếp sống thương hồ. Chú buồn nhưng ủng hộ quyết định của Ngàn, giống như chú ngày xưa quyết định đi theo tiếng gọi của tình yêu vậy mà.
Còn có một người cũng buồn như chú, Út Thơm con chủ trại xuồng Ba Nhị nhưng biết làm sao được. Đời người ta cũng lạ, khi người ta sống trôi nổi trên sông nước lại muốn bỏ sông lên bờ, nhưng cũng có người sống trên bờ lại muốn bỏ bờ về lại với sông nước. Cuộc đời là thế, chỉ có sông muôn đời vẫn vậy, vẫn chảy miên man không ngơi nghỉ, mang theo bao niềm vui và bấy nhiêu nỗi buồn, những hạnh phúc và những thống khổ của 1 kiếp người in dấu trên bao nhánh sông mình đã đi qua làm sao nói hết được.
Sông mà.
NGUYỄN AN BÌNH
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét