Nobel Văn Chương thường là giải thưởng cao quý nhất trên thế giới cho cả sự nghiệp văn chương của cho toàn bộ tác phẩm (hoặc tác phẩm tiêu biểu) đóng góp văn chương của tác giả. Mỗi năm, Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển thông báo hàng ngàn đề nghị ứng cử viên được gửi đi trên thế giới. Các đề cử tác giả phải được gửi đến Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển trước ngày 1 tháng 2, sau đó một ủy ban sẽ xem xét các đề cử kỹ lưỡng. Từ tháng 4, giới hạn số ứng cử xuống còn khoảng 20, đến mùa hè thì chỉ còn khoảng 5 tác giả nằm trong danh sách đề cử.
<!>
Các tháng tiếp theo, viện sĩ của Viện bắt đầu nghiên cứu kỹ tác phẩm của những ứng cử viên cuối cùng… Giải thưởng thường công bố vào tháng 10.
Hàn Lâm Viện Thụy Điển (The Swedish Academy - Svenska Akademien) tuyển chọn Nobel Văn Chương có 18 thành viên: Eric M. Runesson (luật sư), Bo Ralph (ngôn ngữ học), David Hakansson (ngôn ngữ học), Anders Olsson (nghiên cứu văn học, nhà văn), Ingrid Carlberg (nhà văn, nhà báo), Tomas Riad (ngôn ngữ), Ellen Mattson (nhà văn), Peter Englund (nhà sử học), Mats Malm (nhà nghiên cứu lịch sử văn học), Per Wästberg (nhà văn), Anne Swärd (nhà văn), Steve Sem-Sandberg (nhà văn, nhà phê bình), Jila Mossaed (nhà văn), Anna-Karin Palm (nhà văn), Horace Engdahl (nhà phê bình, nhà nghiên cứu văn học), Anna Hallberg (nhà thơ, nhà phê bình văn học).
Với 18 thành viên tuyển chọn Nobel Văn Chương cho thấy giá trị của Ban Giám Khảo.
Thủ tục đề cử Giải Nobel Văn Chương: Nhà văn không thể tự nộp đơn ứng cử; người đề cử phải thuộc tổ chức được công nhận đủ tư cách. Chọn ứng viên là nhà văn, tác giả giới thiệu. Gửi hồ sơ bằng thư bưu điện đến The Swedish Academy’s Nobel Committee, giới thiệu sự nghiệp, các tác phẩm tiêu biểu và những tài liệu giúp Hàn Lâm Viện Thụy Điển đánh giá ứng viên.
Nomination for the Nobel Prize in Literature. To: The Swedish Academy’s Nobel Committee.
Thành phần đề cử: Các giáo sư văn học và ngôn ngữ học tại các trường đại học. Những người từng đoạt giải Nobel Văn Chương trước đây. Chủ tịch của các hiệp hội nhà văn đại diện cho hoạt động sáng tác văn học tại quốc gia của họ.
Chẳng hạn tại miền Nam Việt Nam, nhà văn, nhà báo Hồ Hữu Tường (1910-1980): Nhà văn, nhà báo, được đề cử vào năm 1969 bởi nhà thơ Đông Hồ (khi đó là giáo sư tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn).
Nhà thơ Vũ Hoàng Chương được đề cử giải Nobel Văn Chương năm 1972. Học giả, giáo sư Đại Học Văn Khoa Sài Gòn là Thanh Lãng, và là Chủ Tịch sáng lập Hội Văn Bút Việt Nam. Vũ Hoàng Chương giữ vai trò Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam (giai đoạn 1969-1973).
Kể từ năm 1901, nhà thơ và nhà tiểu luận người Pháp Sully Prudhomme (1839-1907) là người đầu tiên được trao giải Nobel Văn Chương. Tính đến năm 2026, 16 trong số 123 tác giả nhận được Giải Nobel Văn Chương, phái nam có 104, phái nữ có 19 tác giả:
Selma Lagerlöf Thụy Điển 1909; Grazia Deledda Ý 1926; Sigrid Undset Na Uy 1928; Pearl S. Buck Mỹ 1938; Gabriela Mistral Chile 1945; Nelly Sachs Đức/Thụy Điển 1966, Nadine Gordimer Nam Phi 1991; Toni Morrison Mỹ 1993; Wisława Szymborska Ba Lan 1996, Elfriede Jelinek Áo 2004; Doris Lessing Anh 2007; Herta Müller Đức 2009; Alice Munro Canada 2013; Svetlana Alexievich Belarus 2015; Olga Tokarczuk Ba Lan 2018; Louise Glück Mỹ 2020; Annie Ernaux Pháp 2022; Han Kang Hàn Quốc 2024 và năm nay Anne Carson Canada 2026. Như vậy phái nữ với con số khiêm nhượng. Vì vậy, danh sách có 19 phụ nữ nhận giải tính đến năm 2026.
Pháp là quốc gia có nhiều nhà văn đoạt Nobel Văn Chương Nhất Thế Giới, từ năm 1901, với Sully Prudhomme, năm 1904 với Frédéric Mistral và lần lượt qua các thập niên, như Romain Rolland (1915), Anatole France (1921), Henri Bergson (1927) và Roger Martin du Gard (1937), André Gide (1947), François Mauriac (1952), Albert Camus (1957) Saint-John Perse (1960). Năm 1964, Jean-Paul Sartre được trao Nobel Văn Chương nhưng chủ động từ chối giải thưởng. Samuel Beckett (1969), Le Clézio (2008), Patrick Modiano (2014) và Annie Ernaux năm 2022, nhà văn nữ đầu tiên của Pháp giành được giải thưởng này.
Pháp nổi tiếng với các nhà văn nữ hơn một trăm năm qua trên thế giới nhưng chỉ có duy nhất Annie Ernaux lọt vào mắt xanh của 18 thành viên tuyển chọn Nobel Văn Chương.
*
Năm 2013, nhà văn Canada Alice Munro được giải thưởng Nobel Văn Chương với sự nghiệp truyện ngắn. Với giải thưởng Nobel Văn Chương thuộc các thể loại trong lĩnh vực sáng tác khác nhau: tiểu thuyết (truyện dài, truyện ngắn), thi ca, kịch nghệ và triết học (Henri Bergson, Jean-Paul Sartre, Bertrand Russell…). Thông thường, tác giả được Nobel Văn Chương, vài tác phẩm tiêu biểu của họ được dịch ra nhiều thứ tiếng, phổ biến trên thế giới. Điển hình như thời Việt Nam Cộng Hòa, những tác giả vừa được giải thưởng nầy được dịch sang tiếng Việt (qua bản Pháp, Anh). Trong bài viết về sách dịch ở miền Nam Việt Nam đã liệt kê tác phẩm và dịch giả.
Năm 2026, bà Anne Carson được giải thưởng Nobel Văn Chương với danh nghĩa nhà thơ, nhà biên khảo và dịch giả được vinh danh nhờ sự nghiệp sáng tác kết hợp giữa truyền thống cổ điển và văn học hiện đại. Carson kết hợp thơ, văn xuôi, biên khảo, đối thoại và dịch thuật thành thể loại tổng hợp không theo chuẩn mực nào.
Về tiểu luân, năm 1981, bà nhận bằng tiến sĩ văn học cổ điển tại Đại Học Toronto với luận án viết bằng tiếng Latin: Odi et Amo Ergo Sum (Tôi Ghét & Tôi Yêu, Vậy Nên Tôi Tồn Tại).
Năm 1986, bà viết lại luận án thành cuốn tiểu luận Eros the Bittersweet (Eros Ngọt Đắng). Chữ “ngọt đắng” bà mượn từ nữ thi sĩ Hy Lạp cổ đại Sappho, người đã ghép hai vị trái ngược ấy thành một chữ để khắc họa bản chất của tình yêu. Bà có công làm sống lại văn học cổ đại Hy Lạp.
Carson coi việc truy tìm nguồn gốc của từ ngữ cho công việc biên soạn. Các bản dịch văn học Hy Lạp cổ điển, tiêu biểu như If Not, Winter (2002), bản dịch các mảnh thơ của Sappho, cùng các bi kịch của Sophocles và Euripides, trong đó có Antigone (2015)… Cuốn Men in the off Hours, bà đặt sử gia Thucydides của Hy Lạp cổ cạnh nữ văn sĩ Anh Virginia Woolf, 2 người cách nhau hơn 2.300 năm, cùng viết về lúc cuộc chiến tranh bắt đầu.
Vở kịch Norma Jeane Baker of Troy, kết hợp câu chuyện của nhân vật “Helen Của Thành Troy” trong vở kịch “Helen” của Euripides, nhà viết bi kịch Hy Lạp, với câu chuyện của minh tinh quá cố Marilyn Monroe người Mỹ…
Về thi ca, tác phẩm Autobiography Of Red (Tự Truyện Đỏ, 1998), một tiểu thuyết viết bằng thơ (Novel in verse). Bà dựa trên những mảnh thơ còn sót lại của nhà thơ Hy Lạp cổ đại Stesichoros về Geryon, con quái vật có cánh màu đỏ bị người anh hùng Herakles tiêu diệt. Kẻ vốn chỉ là một chiến tích trong thần thoại được Carson trao cho đời sống nội tâm. Geryon trở thành nhân vật chính của một câu chuyện trưởng thành đặt trong thời hiện đại.
The Glass Essay (in trong tập Glass, Irony and God, 1995), với thể thơ dài câu chữ tựa như “tùy bút thơ”. Bài thơ kể về một người phụ nữ về thăm mẹ sau cuộc chia tay, vừa nghĩ về người tình cũ vừa đọc lại thơ Emily Brontë. The Glass Essay bài thơ - tiểu luận (Essay-poem hoặc lyric essay).
Tác phẩm Float (2016) gồm 22 tập nhỏ và Wrong Norma (2024) xen lẫn thơ, văn xuôi.
Cuốn Economy of the Unlost, bà đem Simonides, nhà thơ Hy Lạp sống cách đây 2.500 năm, đặt cạnh Paul Celan, nhà thơ Do Thái viết tiếng Đức ở thế kỷ 20 tuy hai ông không cùng thời, không cùng tiếng nói, không ai biết ai.
Tóm lại thơ của bà Carson không theo một thể thơ truyền thống cố định nào, mà thường phá vỡ ranh giới thể loại.
Trong thi ca Âu, Mỹ xưa nay có nhiều trường phái qua các thời kỳ. Thơ của bà Carson không thoe trường phái nào. Ngay cả Thơ Tân Hình Thức (New Formalism) là một trường phái thi ca xuất hiện tại Mỹ từ giữa thập niên 80 và thịnh hành vào những năm 1990… Phong trào thơ New Sincerity (tạm gọi Tân Chân Thành) tại Mỹ cũng vào thập niên 1990 do Joseph Massey, Anthony Robinson và Andrew Mister khởi xướng. Tuy nhiên ít được phổ biến “phong trào” trong thế giới thi ca.
Nhiều nhà phê bình văn học xem bà Carson với thơ ca cách tân Anh ngữ New Sincerity giữa thời cổ đại và hiện đại. Đó cũng là sự dung hòa, trước đây chỉ đề cập qua các bài viết, và chưa áp dụng trong thi ca.
*
Đây không phải là bài phê bình văn học mà là Chuyện Vãn: Nobel Văn Chương 2026 với Anne Carson, trong đó về thi ca. Nên nhân đây nói về nhà thơ Thanh Tâm Tuyền. Ông là một trong những gương mặt tiên phong và tiêu biểu nhất của phong trào thơ tự do tại miền Nam Việt Nam từ giữa thập niên 1950.
Trong bài viết Thanh Tâm Tuyền, Giữa Lòng Cuộc Đời của tôi vào thảng, 2018 đề cập đến sự nghiệp văn chương của ông; trong đó “Thanh Tâm Tuyền được nổi tiếng về thơ hơn văn vì ông là người làm sống lại thơ tự do được hình thành từ những thập niên về trước và mang làn gió gió mới trong thi ca Việt Nam hiện đại”.
Phong trào Thơ Mới tại Việt Nam khởi xướng vào năm 1932, bài thơ Tình Già của Phan Khôi được đăng trên báo Phụ Nữ Tân Văn. Phan Khôi chỉ trích lối thơ cũ, ý tưởng bị gò bó bởi niêm luật, và đòi hỏi cởi trói sáng tác thi ca.
Trải qua hơn hai thập niên, trong bài viết Nỗi Buồn Trong Thơ Hôm Nay, Thanh Tâm Tuyền cho rằng “Nhịp điệu của thơ tự do không gieo lối đồng âm, đồng thanh, mà là nhịp điệu của hình ảnh, nhịp điệu của ý thức…”. “Tôi không ca ngợi tình yêu, tôi nguyền rủa tình yêu. Mỗi tiếng, mỗi lời viết ra tôi đều thấy nó chứa đựng những hận thù, khinh bỉ, dày vò, đớn đau, tuyệt vọng, nhơ nhuốc, dối trá, hằn học, trơ trẽn, bệnh hoạn, xấc láo, thô bạo, cục cằn, tủi hổ, yếu đuối, bất lực, chết chóc, nghĩa là tất cả những gì tình yêu loại trừ”
Tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc (1956) ra đời khi tác giả mới 20 tuổi. Đây là tập tuyên ngôn của Thơ Tự Do.
“Tôi buồn khóc như buồn nôn
ngoài phố
nắng thủy tinh
tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
thanh tâm tuyền…
tôi hét tên tôi cho nguôi giận
thanh tâm tuyền…
tôi gào tên tôi thảm thiết
thanh tâm tuyền
bóp cổ tôi chết gục
để tôi được phục sinh”
(Phục Sinh)
“Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuống dòng sông
Mà lòng mình phơi trên kè đá…
Chiều không xanh không tím không hồng
Những ống khói tàu mệt lả”
(Bao Giờ)
“Tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không ra ngoài
tim mình
em biết không
lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi…
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời thơm phức những trái cây của thượng đế
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em
nguồn sữa mật khởi đầu”
(Lệ Đá Xanh)
Tập thơ Liên, Đêm, Mặt Trời Tìm Thấy (1964).
“… ở cuối đêm
em rũ tóc nói những lời mê sảng
những ám hiệu
của mặt biển đen không
tình yêu tuyệt vọng
anh xé tóc em cùng những cành lá chết”
(Đêm)
“anh là thằng điên khùng
ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới
chiếc kèn hát mãi than van
điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng
(Dạ Khúc)
Với Phan Khôi, Thanh Tâm Tuyền từ Thơ Mới đến Thơ Tự Do của thập niên 1930’ và 1950’… coi như tiên phong thể thơ riêng của Carson nhưng với óc sáng tạo của bà đưa người đọc trở về quá khứ thời Hy Lạp cổ đại, tưởng chừng mai mọt, trở lại thời hiện đại. Có lẽ Hàn Lâm Viện Văn Học Thụy Điển nhận thấy “sứ mệnh nhà thơ” và nói như William Wordswarth “Thơ là những sợi tơ rút ra từ cuộc sống và quay trở lại trang điểm trang cho cuộc sống bằng vẻ đẹp muôn màu của nó”.
Thơ của bà Carson, có bài cực ngắn như: Love Town:
“She ran in.
Wet corn.
Yellow braid.
Down her back”.
Đọc máy câu thơ nầy, liện tưởng bài thơ Sương Rơi của Nguyễn Vỹ năm 1935 với 4 câu đầu bài thơ:
“Sương rơi
Nặng trĩu
Trên cành
Dương liễu...”
Có bài thơ, chữ nghĩa dài lê thê: What Happened To New York, May 5, 2025.
Chuyện Gì Xảy Ra Ở New York:
“Trên bàn trong phòng, thuốc lá, con dao, cuốn sổ, bảy giờ tối. Tôi ngồi viết cho đầu óc khỏi nổ tung. Có lẽ bạn đã biết, bài thơ ngắn của tôi. Ừ, đã đến được chừng này rồi, giờ đây nên chờ cho ký ức chết cạn, mới bắt đầu lại.
Những ngày này, gió là kẻ thù. Bạn bị tách khỏi tòa nhà, gió sẽ lật úp bạn. Gió trên hai mươi lăm dặm một giờ thì không thể bay lên. Cảm nhận cơn gió ấy, nghĩ đến gia đình. Không có gió, trên đó là thiên đường, chỉ có bạn và những khung cửa sổ, chẳng nghe thấy gì, sự yên tĩnh, sự yên tĩnh này là một thành phố mới. Tôi thích ở trên đó, nhìn xuống những con người cả ngày ở bên trong, lách tách lách tách lách tách. Tôi từng quen người bạn cùng nghề rơi xuống chín trăm feet, dây cáp của anh ta bị đứt. Chuyện đó lẽ ra không nên xảy ra.
Gián. Làm tổ trong những phễu lọc cà phê. Lúc nào cũng cảnh giác. Chúng có thích bạn không? Bật đèn lên, chúng giật mình lao nhanh như bầy sao xẹt. Tắt đèn, chúng biến mất. Bạn biết không, những khách sạn lớn đều bí ẩn hợp đồng với những hãng diệt côn trùng.
Có lần tôi ngồi cạnh Rudolf Nureyev và bóp vào đùi ông, cứng như đá cẩm thạch. Andy cứ chớp đèn máy ảnh chụp tất cả mọi người, rồi Andy và nữ hoàng ở bàn kế bên tranh luận xem bạn trai của ai có cơ bắp ngực lớn hơn. Họ cá cả bữa ăn. Cúc áo được tháo ra. Andy thắng. Tất cả những cô gái đó bây giờ đều đã chết. Đó là một hành tinh lâng lâng, thiếu không khí thở.
Hồi mới mở cửa hàng, tôi tự tay rèn những cái móc treo thịt. Một chiếc móc thịt được làm cho đúng cách thật đẹp. Cả mái che bằng kim loại nữa, để che thịt khỏi ánh nắng. Dọc con phố này, trước kia đâu đâu cũng là lò mổ. Đây là một chuyện đùa: tôi đến đây năm 1968, khi xe tăng Liên Xô tiến vào Praha, đoán xem bây giờ ai đang đuổi tôi khỏi tòa nhà của mình? Một nhà phát triển bất động sản người Nga!
Về mặt kỹ thuật, chúng tôi là những người chiếm nhà trái phép. Howard nói: “đóa lan của sự thân mật.” Hồi ấy ngày nào Howard cũng viết một bài thơ, dường như tôi đã khơi hứng cho anh. Trước đó tôi cũng từng mê một vài người, nhưng lần này là những vì sao rơi và những con sứa. Chúng tôi thay phiên nhau tắm, đổ từng xô nước lên người nhau. Howard khó lòng rời khỏi Rick, nhưng anh nói tôi giống Jane Bowles. Về sau anh không thể tắm khi đứng nữa, tôi phải tìm một chiếc ghế gỗ có tay vịn.
Tôi bước vào đời bạn như một tia chớp, dịu dàng, lịch sự và đa tài, một nhà sử học, một người làm văn chương; dù tôi đã tạo ra một hình thức văn chương mới đầy sức sống, viết ra những thứ sẽ còn tồn tại chừng nào tiếng Anh còn hiện hữu, phải nói tôi có mùi, mỗi khi đến Knopf, họ cho tôi ngồi trên thành cửa sổ để khỏi lây rận sang ghế của họ. Thiên tài không lây, tôi nói như vậy.
Sự buồn chán không chịu nổi của loài vật. Lần theo ý nghĩa của mã lực. Bốn hoặc năm con ngựa, mỗi con đứng một bên chiếc thuyền, chạy trên một guồng quay tròn được vận hành bánh răng và bánh xe, chúng bị buộc vào đó. Bằng bước chân tiến về phía trước, chúng quay guồng, đẩy chiếc thuyền đi, lúc nào cũng nhìn về một hướng; giả sử chúng sống được mười bảy hay mười tám năm. Chúng không cười, không khóc, không nhìn thấy dòng Hudson lao nhanh. Chúng cũng chẳng chế giễu khi nghe ai đó trên boong tàu khoe hiểu biết, chuyện phiền của nhận thức.
Bây giờ tôi sợ. New York không giúp được tôi. David Byrne không giúp được tôi. Điều khiển giao thông không giúp được tôi. Bánh cupcake không giúp được tôi. Chiếc xe lai không giúp được tôi. Mỗi ngày sáu đến tám ly nước băng tan từ sông Iceland cũng không giúp được tôi. Sự thiêng liêng điên loạn, cơn điên phát cuồng mang dáng dấp thần linh của Ahab vô thần cũng không giúp được tôi. Đôi mắt trong veo của lũ heo không giúp được tôi. Món quà của lửa không giúp được tôi. Rock ’n’ roll không giúp được tôi. Trời ơi, hỡi linh hồn ta! Rock ’n’ roll giờ đây chẳng còn giúp được ai nữa.
Mặt trời tháng Mười Hai đang lặn, ngoài phố hơi tối, nhưng ban ngày bạn xuống tàu, đi theo chỉ dẫn, mọi chuyện đều ổn, rồi đến đêm, có một thứ gì đó khác đi, lệch sai khỏi chỗ, bạn có thể là bất cứ thứ gì, có thể là cảnh sát, một mục tiêu, có thể bất cứ thứ gì. Đi ngang qua tòa nhà cũ, ghé thăm người gác cửa, tên ông là Claude. Ai cũng yêu quý Claude. Điều làm người có phẩm chất là không ngừng hoàn thiện chính mình, đó là lý do khi nghe một Jeremiah nào đó than vãn về New York đang biến mất, tôi chỉ nghĩ, Này anh bạn, đời là thế, đó là cuộc mặc cả chúng ta đã chấp nhận. Nó luôn luôn là chúng ta. Người ta đã nói y như vậy từ những năm 1840.
Đó là đau và vui, cao và thấp, mềm và cứng, chuột và bánh nướng, bùm bùm bùm bùm, xin chào, chạng vạng.
Chạng vạng là gì?
Chạng vạng đưa cái mơ hồ trở lại. Phân phối những điều bạn đang ngẫm nghĩ. Hóa vật chất thành những bóng ma lang thang trong tâm trí. Khiến bạn xa lạ với chính mình bây giờ, đưa bạn vào im lặng, vào cuộc xô đẩy, vào bóng tối mà bạn có thể nương tựa”
(Bản dịch của Ngu Yên)
Bài thơ Khúc Tháng Chạp của Thanh Tâm Tuyền năm 1969, chỉ mấy đoạn trong 2 trang sách:
“Cớ sao chim tinh khôn, chim chẳng hay mùa đông chụp tới? Mùa đông, người thiếu phụ điêu ngoa vẻ u tình, người thiếu phụ hỗn hào nhẫn tâm quật thúc mê man. Người thiếu phụ không biết hổ ngươi. Mỗi ngày soi tấm gương hoen âm bầu trời đục dữ dằn, soi mắt mình trong mắt mình. Leo ngược dốc đứng, dốc trơn trùi nhọn hoắt. Rơi lăn lóc như bụi sạn.
Ôi - Chim hiếm hoi, chim lạ kỳ, chim bé bỏng. Vụt bay nỗi sầu bi, cánh hân hoan xơ xác. Hiểu không sự lênh đênh cùng thẳm? Hiểu không ngọn lao đao tuyệt tích? Hiểu không con bấc mù mất dấu trên đồng bưng mặt ngất? Hiểu không?... Hiểu không. Những thoáng chốc vi vu nứt nẻ?
Mùa đông nham hiểm. Tiếng vang âm gian tà. Chuỗi đêm mòn trắng. Cành trụi lá gẫy khô. Trong bưng bít đắm đuối, thân vang rời mài miệt... Từ đỉnh thầm, đầu ngọn cỏ, thức mây đùn. Ôi mùa đông hố bẫy, ngời đen ngươi dẫn dụ. Chút bấp bênh đùa rỡn loã lồ xuyên luồn mũi kim rỉ sét. Ôi - tiếng vang lừng rơi ngã của ham mê, tiếng vang chết yểu giữa tường vách chật bóng điên loà.
Nội không quạnh quẽ như ngàn cõi chiêm bao vượt. Đập vỗ, đập vỗ hoài con mắt buốt, con mắt vi ty rụng trụi lớp mi che, không động thức. Con mắt khờ câm căng chống. Tưởng dáng mùa hè chín ối. Tưởng nét mùa thu lung linh. Đã bay qua, bay qua nghìn mệt mỏi. Như điệu ngân hụt hẫng. Mưa buông khít chân trời, mưa rũ liệt làm sao ngớt, mưa giả lả. Những huyệt trốt cuốn, vật nài chim ngây thơ khoá cánh, vùi dập chim mỏng mảnh trong khuất khúc giá băng. Đắp điếm những mai chiều như bao giờ xỉn cũ, những canh tàn giấu cất, những khuya lên rách rưới như bao giờ. Như bao giờ, hiểu không như bao giờ?”
Trong tập thơ Liên, Đêm Mặt Trời Tìm Thấy cùa Thanh Tâm Tuyền có nhiều bài thơ viết dài như vậy.
Trong bài viết của Nguyện Đức Lực (trích):
Từ hôm bà Anne Carson được Nobel Văn Chương, nhiều người tìm sách bà đọc thử rồi kêu trời. Có người chê thẳng, rằng thơ gì mà “như học sinh tiểu học viết”…
Bài dễ đọc nhất của bà là The Glass Essay. Bài mở đầu bằng mục tên là I (tôi). “4 giờ sáng người đàn bà tỉnh dậy, nghĩ tới người đàn ông đã bỏ đi hồi tháng 9. Chị vào nhà tắm rửa mặt rồi quay lại giường. Mục ấy hết ở câu: “Ngày mai tôi sẽ đi thăm mẹ tôi”.
Mục kế tên là She (bà ấy). “Mẹ chị sống 1 mình trên vùng đồng hoang phía bắc. Chị đi tàu cả ngày, mang theo rất nhiều sách, trong đó có toàn tập Emily Bronte (nữ văn sĩ Anh thế kỷ 19, tác giả Đồi Gió Hú). Chị viết: “Đây là tác giả tôi thích nhất. Cũng là nỗi sợ lớn nhất của tôi”.
Mục thứ 3 tên là Three (3), mở bằng câu: “3 người đàn bà im lặng bên bàn bếp. Thế nhưng trong bếp chỉ có 2 mẹ con đang ngồi nhai rau diếp. Cuốn Emily Bronte thì mở sẵn, dựng vào hũ đường”. Người thứ 3 là ai, bà Carson không viết ra!
Chắc ta đã thấy phần nào vấn đề. Cả 3 mục không có chữ nào khó. Người yêu bỏ đi, bà mẹ ở quê, 1 nữ văn sĩ chết từ năm 1848, 3 chuyện đặt cạnh nhau mà không có lấy 1 câu liên kết chúng lại.
Cuốn Short Talks có một bài dài đúng 7 câu, tên là Bàn Về Chuyện Đi Giật Lùi. “Mẹ cấm mấy đứa con đi giật lùi, vì người chết đi như thế. Bà đoán mẹ nghe được chuyện ấy từ 1 bản dịch tồi (dân dịch sách có khác, nghĩ ngay tới dịch!). Rồi bà viết rằng, người chết không đi giật lùi, họ đi sau lưng mình, họ không có phổi nên không gọi được mà rất mong mình quay lại. Câu cuối là: “Họ là nạn nhân của tình yêu, nhiều người trong số họ”. Nghĩa là chỉ trong 7 câu, bà đi từ lời mẹ dặn sang chuyện dịch sách, sang người chết, rồi dừng ở tình yêu; mà giữa các chặng ấy không hề có 1 chữ vì thế hay cho nên nào.
Cuốn Economy of the Unlost thì bà đem Simonides, nhà thơ Hy Lạp sống cách đây 2.500 năm, đặt cạnh Paul Celan, nhà thơ Do Thái viết tiếng Đức ở thế kỷ 20. 2 ông không cùng thời, không cùng tiếng nói, không ai biết ai. Tại sao lại đặt họ cạnh nhau? Bà trả lời ngay ở trang đầu: “Muốn giữ cho sự chú ý được mạnh thì đừng để nó ngồi yên 1 chỗ”. Bởi quan niệm như thế, bà nói về 2 người cùng lúc, để người này không cho người kia ngồi yên. Bà còn viết: “Đôi khi muốn nhìn rõ 1 vật trên trời, ta nên nhìn sang 1 thứ khác ở cạnh nó”.
Cuốn Men in the Off Hours, mở đầu bằng bài đặt sử gia Thucydides của Hy Lạp cổ cạnh nữ văn sĩ Anh Virginia Woolf, 2 người cách nhau hơn 2.300 năm, cùng viết về lúc một cuộc chiến tranh bắt đầu. Cũng trong cuốn ấy bà cho Sappho, Tolstoy với ông Lazarus trong Kinh Thánh lần lượt lên truyền hình.
Cuốn Norma Jeane Baker of Troy thì nhập nàng Helen thành Troy với Marilyn Monroe làm 1 người, xen giữa là mấy bài học lịch sử chiến tranh.
Còn The Beauty of the Husband kể chuyện một cuộc ly hôn, mà giở phần chú thích cuối sách thì thấy Homer, Charlotte Bronte, nhà văn Nhật Oe Kenzaburo, một bản cantata của Bach với cả kinh Talmud của người Do Thái. Đọc kể chuyện vợ chồng bỏ nhau mà phải biết cả Homer lẫn Bach, bảo sao người ta không kêu trời!
Bà nói rằng, một bài thơ viết đạt là “hành động của trí óc được giữ lại trên trang giấy”. Người đọc phải bước vào mà làm lại đúng hành động ấy, ai muốn hiểu thì phải nghĩ lại từ đầu như bà, chứ bà không nghĩ hộ.
Bà dịch thơ Sappho, nữ thi sĩ Hy Lạp sống cách đây 2.600 năm, mà thơ Sappho còn lại hôm nay phần lớn là những mẩu giấy cói thủng lỗ chỗ, có mẩu bé hơn con tem. Chỗ nào giấy rách, bà đánh dấu ngoặc vuông. Trong lời chú bản dịch, bà viết: “Dấu ngoặc thú vị lắm”, vì chúng mở ra “một khoảng trống cho trí tưởng tượng phiêu lưu”.
Với The Paris Review bà nói thêm, chỗ bài thơ đứt thì có một khoảng trống mà lẽ ra ở đấy là một ý nghĩ. Theo bà, chẳng ý nào viết ra cho trọn lại hút người ta và ma mị bằng cái ý chỉ được gợi ra.
Trong cuốn Eros the Bittersweet, bà dẫn lời Aristotle (triết gia Hy Lạp sống cách đây hơn 2.300 năm), rằng ẩn dụ là đem 2 thứ khác hẳn nhau đặt lại gần để lộ ra chúng có họ với nhau. 2 thứ càng xa nhau thì người nghe càng phải nghĩ lâu mới ra…
Sách bà khó vì bà để dành một phần việc cho người đọc. Ai bỏ công ra nghĩ, tưởng tượng, kết nối thì mê, ai không muốn thì chê, cả 2 đều có lý. Còn ai bảo thơ bà như học sinh tiểu học viết thì cứ thử đếm cho ra người thứ 3 trong cái bếp kia đã!
Trong lời mở đầu cuốn Short Talks, bà viết: “Tôi sẽ làm mọi cách để tránh sự buồn chán. Đó là việc của cả đời”. Xem ra bà cũng không có ý định để người đọc được ngồi không!
Kiểu như Thanh Tâm Tuyền:
“tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
thanh tâm tuyền…
tôi gào tên tôi thảm thiết
thanh tâm tuyền”
Tôi gọi, tôi hét… vậy tôi tồn tại như Odi et Amo Ergo Sum.
Nếu có ai đó đứng giữa trời mà gọi, gào thét… có lẽ là người bị “thần kinh thương nhớ”!
Bài thơ Thanh Tâm Tuyền cũng dài lê thê:
“Có ai gọi tên tôi giữa phố, phố hoảng sợ cái tên lăn như một xác chết nhập hồn. (...). Anh không phải là một cái tên (...). Mỗi lần muốn gặp anh, em chỉ việc chọc dao thẳng vào tim, máu sẽ chảy và anh tới theo con đường máu tinh khiết ấy. Anh sẽ uống những giọt máu thơm tho của tình yêu làm anh bất tử. (...)
Có ai gọi tên tôi giữa phố, ngay sau lưng phố cụt cái tên mọc hai cánh tay chới với. Tôi dừng lại rút khí giới, con dao của em, ...
Sao không ai gọi tôi nữa? Tôi đứng im đây, vực sâu trước mắt, cái tên sau lưng (....). Cái tên chết điếng (...). Hóa ra tôi đâm tôi chết tốt.
Cũng xong”.
Little Saigon, October, 2026
Vương Trùng Dương
VTrD ChuyenvanNobel2026.docx

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét