Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2026

THẰNG BẠN LÍNH ÔNG ĐỊA - De Nguyen


Huy hiệu Địa Phương Quân Quân Lực VNCH.-  50 năm, một nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng cái “giờ thứ 25” định mệnh của mùa Xuân năm 1975 ấy vẫn là một vết cắt chưa bao giờ khép miệng trong lòng tôi. Mỗi khi gió chướng về, hay lúc bóng hoàng hôn nhập nhoạng đổ dài trên những mái lá nghèo nơi quê cũ, gương mặt hiền lành, nụ cười hở lợi của thằng bạn nối khố lại hiện về, rõ mồn một như vừa mới hôm qua. Tôi và nó, hai đứa trẻ lớn lên từ một xóm nhỏ ven sông, chia nhau từng miếng kẹo đậu phộng. Những buổi trưa hè nắng đổ lửa trốn đi bắt dế thủa tiểu học về giành nhau từng con dế than, dế lửa. 
<!>
Những ngày trung học, hai đứa lại chở nhau trên chiếc xe đạp cà tàng đến trường tỉnh, cùng mơ mộng về 1 tương lai thái bình, nơi những trang truyện chưởng của Kim Dung chứa đầy anh hùng hào hiệp và chính nghĩa, không vương mùi thuốc súng. Nó học giỏi hơn tôi, tâm hồn lãng mạn, nhưng chiến cuộc khắc nghiệt đã bứng hai đứa ra khỏi giảng đường.

Ngày đi lính, tôi chọn vào binh chủng Hải Quân xa nhà, còn nó, nó kiên quyết xin vào Địa Phương Quân. Nó bảo tôi bằng cái giọng chân chất, rưng rưng: “Tao không sợ đi xa, nhưng nhà tao chỉ còn mình mẹ. Hai anh tao đã nằm lại dưới màu cờ Nhảy Dù ở Hạ Lào và Quảng Trị rồi. Giờ tao mà đi nữa, lỡ có bề gì, ai lo chén cơm, hớp nước cho mẹ lúc trái gió trở trời?”

Thế là nó thành người lính “áo thun đại hàn”, chân đi giầy “bố”, canh gác chính mảnh đất, nơi nó lớn lên. Đêm đêm, nó vác súng đi tuần trên những bờ đê, những lối mòn mà chính chúng tôi từng chạy nhảy thời đi bắt cào cào nuôi gà đá. Nó chọn ở lại để được gần mẹ, để mỗi chiều ra khỏi đồn có thể ghé ngang nhà, thấy khói bếp của mẹ còn bay là nó an lòng.

Nhưng sự nghiệt ngã của định mệnh lại ập xuống đúng vào cái giờ phút mà người ta ngỡ rằng tiếng súng sẽ ngưng hẳn. Giờ thứ 25, cái giờ mà ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh và vô nghĩa đến khác thường. Trong khi người ta đang hoang mang, tan hàng, thì ở một góc nhỏ nơi quê nhà, nó và những người anh em Địa Phương Quân vẫn đứng đó, giữ gìn một nút chặn cuối cùng. Nó ngã xuống khi mặt trời đã lên cao, khi niềm hy vọng về một ngày trở về nguyên vẹn vừa mới nhen nhóm. Nó chết ngay trên mảnh đất mình sinh ra, cách ngôi nhà của mẹ chỉ một cánh đồng xa.

Cái tin nó tử trận bay về giữa lúc làng xóm đang nháo nhào trong những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến. Giờ thứ 25, khi người ta bắt đầu tháo băng cá nhân, vứt bỏ súng đạn để tìm đường sống, thì nó lại được đưa về nhà trên chiếc cáng dã chiến, phủ lên mình tấm poncho đầy bụi đất quê hương làng nó.

Tôi đã về được nhà, khi nghe tin dữ, tôi vội vã chạy sang nhà nó. Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được hình ảnh mẹ nó lúc ấy. Mẹ không gào thét, không vật vã như người ta vẫn tưởng. Khi những người lính đồng đội đặt nó nằm xuống giữa gian nhà ngoài, mẹ từ trong bếp bước ra, đôi bàn tay gầy guộc còn dính đầy tro trấu. Mẹ đứng sững lại, đôi mắt đục mờ nhìn trân trân vào đôi giày bố lấm lem cũ kỹ mòn vẹt đế lòi ra dưới tấm poncho.

Mẹ lảo đảo tiến lại gần, đôi tay run rẩy vén mép tấm poncho che mặt nó. Nhìn thấy gương mặt đứa con út còn dính vệt máu khô nhưng thanh thản như đang ngủ, mẹ bỗng đổ ụp xuống như một thân cây mục. Mẹ không khóc thành tiếng, mà là những tiếng nấc khan, khô khốc phát ra từ lồng ngực gầy yếu. Mẹ ôm lấy cái đầu của nó, áp vào lòng mình như cái ngày nó còn là đứa trẻ thơ dại, rồi mẹ thều thào: “Tổ cha mày... sao mày bảo mày đi Địa Phương Quân để ở gần tao? Mày hứa là chiều nào cũng về ăn cơm mẹ nấu mà? Sao giờ mày nằm đây lạnh ngắt vậy con ơi....”

Nỗi đau của mẹ lúc đó như lặn ngược vào trong, tàn nhẫn hơn bất cứ vết thương bom đạn nào.Hai đứa con trai trước chết ở nơi rừng xanh núi thẳm, mẹ chỉ nhận được tin báo qua những tờ giấy báo tử vô tri lạnh lùng. Còn lần này, nó nằm chết ngay trước mắt mẹ, ngay khi hòa bình tưởng chừng như đã chạm được vào đầu ngón tay.

Nhìn mẹ lui cui đi tìm bộ đồ bà ba sạch nhất để thay cho nó, đôi mắt mẹ không còn nước mắt để rơi, chỉ còn sự trống rỗng đến rợn người. Mẹ cứ vuốt ve mái tóc nó, thỉnh thoảng lại nhìn ra cửa như thể vẫn đợi nó vác súng bước vào rồi cất tiếng gọi “Mẹ ơi” như mọi khi. Hình ảnh người mẹ còm cõi, vò võ bên xác con trong cái giờ khắc đất trời nghiêng ngả ấy là một bi kịch đau đớn nhất mà tôi từng chứng kiến. Mẹ đã dâng hiến tất cả, để rồi cuối cùng chỉ còn lại một mình với 3 bát hương nghi ngút khói trong căn nhà hoang lạnh.

Tôi đứng bất động nhìn mẹ nó, trái tim tôi thắt lại. Người mẹ ấy, sau khi đã hiến dâng hai đứa con trai cho quê hương tận nơi xa xôi mây trời viễn xứ, giờ đây lại phải chứng kiến đứa con út, niềm hy vọng cuối cùng, nằm xuống ngay giữa nhà mình. Mẹ không còn nước mắt để khóc. Mẹ ngồi đó, còm cõi như một gốc cây khô héo giữa nắng cháy. Đôi mắt mẹ đục ngầu, nhìn chăm chăm vào khoảng không vô định.

Cái đau đớn của người mẹ mất con trong giờ phút cuối cùng ấy, nó không ồn ào mà âm ỉ, vò võ như ngọn đèn cạn dầu trước gió. Mẹ cứ lẩm bẩm: “Nó bảo nó đi lính ở gần nhà để lo cho tao, sao giờ nó lại đi xa nhất, mãi mãi hả con?”

Câu hỏi ấy cứ xoáy vào lòng tôi, xót xa đến nghẹn lời. Mỗi lần sang thăm, thấy mẹ lui cui một mình bên mâm cơm chỉ có một bát, một đôi đũa, tôi lại thấy hình bóng nó hiện hữu đâu đây, trong cái tiếng kẽo kẹt của võng trưa, trong mùi nhang trầm nghi ngút trên bàn thờ có 3 tấm hình thanh niên trẻ măng, mặc quân phục.

Sự mất mát này quá lớn, không gì bù đắp nổi. Nó không chỉ là sự ra đi của một người bạn, mà là sự tan vỡ của một gia đình, là nỗi đau tột cùng của người mẹ miền Nam tần tảo. Nhớ nó, tôi nhớ về một thời tuổi trẻ trong trẻo, nhớ về lòng hiếu thảo vẹn toàn và cả cái chết tức tưởi trong giờ phút giao thời.

Nằm sâu trong ký ức về những ngày trung học, có một buổi chiều mưa tầm tã mà mỗi khi nhớ lại, lòng tôi vẫn thấy thắt nghẹn. Đó là năm Đệ Nhị, khi cái bóng đen của chiến trường bắt đầu đổ dài lên những dự định tương lai của đám học trò tụi tôi.

Hôm ấy, mưa như trút nước xuống mái trường tỉnh, hai đứa không có áo mưa, đành trú lại dưới hiên lớp học cũ. Nó ngồi bệt xuống hành lang, lôi từ trong cặp táp sờn cũ ra một bọc ni-lông gói kỹ mấy tấm ảnh trắng đen đã ố vàng.Đó là ảnh hai người anh của nó trong bộ đồ rằn ri Nhảy Dù, đứng hiên ngang giữa rừng núi bạt ngàn.

Nó vuốt ve tấm hình rồi quay sang bảo tôi, giọng trầm hẳn xuống: “Mày biết không, hôm qua tao thấy mẹ lén mang mấy bộ đồ cũ của anh Hai, anh Ba ra giặt rồi gấp lại cất vào tủ. Mẹ không khóc, nhưng cái lưng mẹ cứ run bần bật. Tao định sau này thi vào Sư Phạm để làm Thầy Giáo như ước nguyện của mẹ, nhưng nhìn mẹ còm cõi vậy, tao không đành lòng đi xa. Tao sẽ xin vào Địa Phương Quân, chấp nhận làm ‘lính kiểng’, làm người lính giữ làng giữ xóm, miễn là mỗi chiều tao còn được thấy bóng mẹ tựa cửa đợi cơm.”

Nói rồi, nó cười, một nụ cười hiền lành nhưng chứa đựng bao nỗi lo toan vượt quá cái tuổi 18. Lúc đó, tôi còn trẻ con, còn đùa giỡn bảo nó “đồ nhát gan, không chịu bay nhảy”. Nó chỉ im lặng nhìn màn mưa trắng xóa, đôi mắt xa xăm như đã dự cảm trước điều gì.

Chiều hôm ấy, hai đứa về chung trên chiếc xe đạp, nó cầm lái, tôi ngồi sau che mưa bằng tàu lá chuối. Nó gò lưng đạp qua những vũng nước đục ngầu, miệng vẫn còn ngân nga câu hát về quê hương. Tôi đâu có ngờ, đó là một trong những lần cuối cùng tôi được nghe nó hát, và cái “nguyện ước gần mẹ” ấy cuối cùng lại biến thành nỗi đau truyền kiếp. Nó đã giữ đúng lời hứa là ở lại gần nhà, nhưng lại nằm xuống ngay dưới chân mẹ trong cái giờ thứ 25 nghiệt ngã, để mẹ nó phải “gần” nó qua nấm mộ đất lạnh lẽo sau vườn.

Cái kỷ niệm về buổi chiều mưa và những tấm ảnh cũ ấy cứ như một vết dao cứa vào tâm can mỗi khi tôi nhìn thấy những người mẹ già ngồi vò võ một mình bên thềm cửa.
Mày đi rồi, bạn ơi, nhưng kỷ niệm về những buổi chiều tan học, những lần chia nhau điếu thuốc lá Quân Tiếp Vụ, và ánh mắt lo âu cho mẹ của mày vẫn mãi là nỗi ám ảnh đầy yêu thương trong tao. Ngủ yên nhé, người lính Địa Phương Quân của tao, nơi ấy chắc không còn chiến tranh, và chắc chắn mày đã gặp lại các anh mình dưới bóng cờ vàng lộng gió. Còn mẹ, tao sẽ thay mày ghé qua, dù biết rằng chẳng có gì khỏa lấp được khoảng trống mênh mông mà mày đã để lại trong lòng người mẹ già vò võ ấy.

De Nguyen

Không có nhận xét nào: