Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2026

“HOÀNG HẠC LÂU” VÀ CÁC BẢN DỊCH VIỆT NGỮ - Tạp Bút Nguyễn Vĩnh Giao

Hình minh hoạ Hoàng Hạc Lâu ở Vũ Hán
Thôi Hiệu (khoảng 704–754) là thi nhân thời nhà Đường, người Biện Châu (nay là Khai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 11 (723), làm quan đến chức Tư Huân viên ngoại lang. Lầu Hoàng Hạc là một ngôi lầu được xây ở tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Lầu được xem là một trong tứ đại danh lâu của Trung Quốc và là ngôi lầu nổi tiếng được các thi nhân ca tụng. Tên gọi Hoàng Hạc của lầu này bắt nguồn từ truyền thuyết dân gian. Tương truyền Phí Vĩ 費禕 (?-253), một tu sĩ đắc đạo thành tiên thường cưỡi hạc vàng ngao du sơn thuỷ. Một hôm, tiên và hạc bay ngang Vũ Hán và dừng chân lại trên Xà sơn để nhìn ngắm, một bên là cảnh đẹp hùng vĩ của Trường Giang và bên kia là Ngũ Hồ trong khói sương diễm lệ.
<!>
Người đời sau đã từ nơi tiên cưỡi hạc vàng bay đi xây lên một tháp lầu đặt tên là Hoàng Hạc lâu. Thời xưa, đây là nơi gặp mặt của các văn nhân mặc khách. Thời Đường (618-907), các thi nhân đến đây để vừa thưởng ngoạn phong cảnh non nước mây ngàn hữu tình, vừa uống rượu làm thơ. Khi Thôi Hiệu đến viếng Hoàng Hạc Lâu, nhìn cảnh săc tuyệt mỹ chung quanh, ông nổi thi hứng viết ngay trên vách lầu một bài thơ mang cùng tên với ngôi lầu

Hoàng Hạc Lâu được xem là một trong những bài thơ hay nhất thời Đường. Tương truyền rằng, Lý Bạch khi đến Hoàng Hạc Lâu định làm thơ, đã thấy thơ Thôi Hiệu đề trên vách; ông đọc xong, vứt bút, ngửa mặt than rằng:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc (Trước mắt có cảnh đẹp mà không viết được)
Thôi Hiệu đề thơ tại thượng đầu (Vì Thôi Hiệu đã đề thơ ở đây rồi)

MÍT ĐẶC DỊCH THƠ ĐƯỜNG
CHÂN DUNG MÍT ĐẶC

Khi trường trung học công lập duy nhất của tỉnh tôi được thành lập năm 1955, học sinh đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp xong có thể lựa chọn một trong bốn Ban để học tiếp chương trình Trung Học Đệ Nhị Cấp: Ban A, chuyên về Khoa Học Thiên Nhiên (Động Vật Học), Ban B chuyên về Toán, Vật Lý và Hoá Học (Toán Lý Hoá), Ban C chuyên về Văn Chương (Việt Văn) và Ban D chuyên về Cổ Ngữ (Hán Văn). Ngay từ đầu, Ban D bị học sinh chê bỏ, còn Ban C thì cũng chỉ có lèo tèo vài cậu học trò sính văn chương. Trong những năm đầu tiên, trường chỉ có ba ban A, B, C; học sinh muốn học Hán Ngữ phải ra học ở trường Quốc Học Huế. Đến khi tôi lên Trung Học Đệ Nhị Cấp, Ban C cũng không sống lâu; học sinh muốn học hết học trình trung học của Ban nầy cuối cùng phải ra học ở trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng. Trường tôi chính yếu là chỉ có hai Ban A và B để học sinh lựa chọn. Đó là chuyện lý thuyết, làm như học sinh có tự do lựa chọn ban thích hợp với mình. Thực tế thì khác; trường cũng có hai ban: “ban giỏi Toán” và “ban...không giỏi Toán”. Học sinh giỏi Toán thì dĩ nhiên sẽ học Ban B. Tất cả học sinh còn lại, không cần biết có thích Khoa Học Tự Nhiên hay không, thì mời vào Ban A.

Tôi không giỏi Toán, cũng không thích tụng kinh gõ mỏ. Tôi chỉ thích Việt Văn. Bốn năm Trung Học Đệ Nhất Cấp, tôi học như một người mộng du, chỉ thức tỉnh khi đến giờ Việt Văn. Nhờ giỏi môn văn, tôi được thầy cô dạy Việt Văn để ý đến và yêu mến. Đặc biệt là thầy dạy Việt Văn năm tôi học Đệ Tứ. Thầy giỏi Hán Văn và rất mê thơ Đường. Cuối giờ dạy, thầy thường bỏ vài ba phút, kể về những bài thơ Đường thầy vừa đọc, hay những câu chuyện tuy bên lề nhưng đã giúp cho bài thơ cùng tác giả trở thành bất tử. Thấy tôi "trúng đài", tỏ vẻ yêu thích thơ Đường, thầy khoái chí xem tôi như một đệ tử. Thầy cho tôi mượn cuốn sách "Một trăm bài thơ Đường" (Đường Thi Nhất Bách Thủ), bảo tôi đọc (dĩ nhiên là đọc phần phiên âm tiếng Việt và phần giải nghĩa), và chỉ cho tôi thấy dẫn xuất từ thơ Đường của những dòng thơ Việt. (Một ví dụ kinh điển: "Hoa đào năm trước còn cười gió Đông" trong truyện Kiều bắt nguồn từ "Đào hoa y cựu tiếu đông phong" trong bài thơ "Đề đô thành Nam trang" của Thôi Hộ). Rồi thầy chỉ một bài thơ mà theo ý thầy là bài thơ Đường hay nhất: Hoàng Hạc Lâu, cũng như ghi ra bản dịch bài thơ nầy của Tản Đà.

Tôi đọc nguyên tác và bài thơ tiếng Việt; cả hai đều thấy hay, nhất là bài thơ lục bát của Tản Đà, có vần có điệu. Nhưng tôi cũng thú thật với thầy rằng, tôi không biết tại sao bài Hoàng Hạc Lâu nầy được thầy xem là một trong những bài thơ Đường hay nhất. Thầy cười và trả lời: "khi nào em có thể dịch bài thơ nầy sang tiếng Việt, em có thể hiểu được". Tôi lại hỏi "chữ Hán thì em mít đặc, làm sao dịch sang tiếng Việt đây?". Thầy chỉ cười nhưng không nói gì thêm.

Tôi lên Trung Học Đệ Nhị Cấp, rồi vào học ở ĐHKH Sài Gòn. Tôi cắm đầu làm quen với nguyên tử, phân tử, chuyện thơ thẩn bị xếp sang một bên. Bài thơ Hoàng Hạc Lâu thì tôi vẫn còn nhớ rất rõ, nhưng chưa từng có ý định thử dịch sang tiếng Việt.

Hơn nữa thế kỷ sau, tôi nhớ lại mẫu đối thoại với thầy và từ ngữ "Mít Đặc", liền lên mạng truy cập định nghĩa của từ ngữ nầy. Theo Oxford Languages, "Mít Đặc" là một tĩnh từ, có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là "không hiểu, không biết gì hết", còn nghĩa thứ hai là "ngu đần, thiếu thông minh". Tôi thật sự không hiểu, không biết một từ tiếng Hán, lại có ý định muốn dịch bài thơ Hoàng Hạc Lâu sang tiếng Việt. Bất giác tôi phá lên cười. Cả hai nghĩa của từ "Mít Đặc" áp dụng cho khả năng của tôi và chuyện tôi muốn làm thật không thể nào chính xác hơn được.

LUẬT THƠ ĐƯỜNG

Tôi không nhớ rõ là ở lớp nào trong học trình, thời tôi học Trung học, môn Việt Văn có bao gồm phần giới thiệu về thơ Đường. Tôi có thể lên mạng truy cập, nhưng vì đề tài của bài tạp bút nầy không phải là luật thơ Đường, nên tôi chỉ tóm tắt lại những gì tôi đã học ở trường trung học hơn nửa thế kỷ trước đây.

Thơ Đường thì dĩ nhiên bắt nguồn từ thời nhà Đường ở bên Tàu. Chung chung là có hai loại thơ tuỳ theo số chữ trong mỗi câu: thơ năm chữ (ngũ ngôn) và thơ bảy chữ (thất ngôn). Số câu trong mỗi bài thơ cũng có hai nhóm: bốn câu (tứ tuyệt) và tám câu (bát cú). Phổ quát nhất là thơ tám câu, mỗi câu có bảy chữ (thất ngôn bát cú). Thể thơ nầy được nhiều thi sĩ, xưa và nay, ưa chuộng.

Học trình của chúng tôi đa số chỉ giới hạn ở thơ thất ngôn bát cú. Chúng tôi không phải làm thơ, nhưng phải học thuộc luật của loại thơ nầy. Tuỳ theo âm vận, thơ có vần bằng (chữ không dấu hoặc dấu huyền) hay vần trắc (chữ mang dấu sắc, nặng, hỏi, ngã). Nếu chữ thứ hai của câu đầu tiên có âm " bằng", thì đây là thơ thất ngôn bát cú, vần bằng. Ngược lại, nếu chữ thứ hai mang âm trắc, thì bài thơ là thất ngôn bát cú vần trắc. Từ hai vần nầy, luật bằng (B) trắc (T) căn bản cho một bài thơ Đường được tóm tắt như dưới đây

Thất Ngôn Bát Cú vần Bằng Thất Ngôn Bát Cú vần Trắc

B-B-T-T-T-B-B   T-T-B-B-T-T-B
T-T-B-B-T-T-B   B-B-T-T-T-B-B
T-T-B-B-B-T-T   B-B-T-T-B-B-T
B-B-T-T-T-B-B   T-T-B-B-T-T-B
B-B-T-T-B-B-T   T-T-B-B-B-T-T
T-T-B-B-T-T-B   B-B-T-T-T-B-B
T-T-B-B-B-T-T   B-B-T-T-B-B-T
B-B-T-T-T-B-B   T-T-B-B-T-T-B

Thêm nữa, chữ cuối của các câu 1,2,4,6 và 8 phải đồng âm, và hai câu 3 và 4 phải đối nhau, hai câu 5 và 6 phải đối nhau. Luật Bằng Trắc khiến bài thơ Đường có một âm điệu đặc biệt. Nhưng nó cũng quá gò bó, khiến việc làm được một bài thơ Đường đúng niêm đúng luật trở thành một "mision impossible", một nhiệm vụ không thể thực hiện được. Vì vậy, luật bằng trắc được nới lỏng, chỉ có chữ thứ 2, 4 và 6 trong mỗi câu phải theo đúng luật, còn chử thứ 1, 3, 5 thì không cần ("Nhất Tam Ngũ bất luận”; Nhị Tứ Lục phân minh”). Sự nới lỏng nầy mở rộng cánh cổng cho việc sáng tác thơ. Hơn 1500 năm sau khi phong trào thơ Đường bắt đầu, nhiều bài thơ cận đại nổi tiếng ở Việt Nam cũng mang âm hưởng thơ Đường.

Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Trần Tế Xương (Thương Vợ)

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Quang Dũng (Tây Tiến)

HOÀNG HẠC LÂU VÀ BẢN DỊCH CỦA TẢN ĐÀ

Bài thơ nguyên tác của Thôi Hiệu
Nguyên Tác Âm Tiếng Việt Dịch Nghĩa (Wikipedia)

黃鶴樓 Hoàng Hạc Lâu Lầu Hoàng Hạc
昔人已乘 Tích nhân] dĩ thừa Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,
黃鶴去, hoàng hạc khứ,
此地空餘 Thử địa không dư Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc
黃鶴樓。 Hoàng Hạc Lâu
黃鶴一去 Hoàng hạc nhất khứ Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại
不復返, bất phục phản,
白雲千載 Bạch vân thiên tải Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên
空悠悠。 không du du. không
晴川歷歷 Tình xuyên lịch lịch Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây
漢陽樹 Hán Dương thụ, cối Hán Dương rõ mồn một
芳草萋萋 Phương thảo thê thê Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn
鸚鵡洲。 Anh Vũ châu. xanh tươi.
日暮鄉關 Nhật mộ hương quan Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
何處是, hà xứ thị
煙波江上 Yên ba giang thượng Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến
使人愁。 sử nhân sầu. buồn lòng người!

Đọc xong bài thơ Hoàng Hạc Lâu, độc giả có thể nhận ra ngay rằng bốn câu đầu không theo Luật Bằng Trắc. Chữ cuối câu thứ nhất (khứ) vần trắc lại không đồng âm ("âu") với chữ cuối của các câu 2,4,6,8. Câu thứ ba lại càng lạ lùng: trừ chữ đầu vần bằng (Hoàng), sáu chữ còn lại toàn là vần trắc (hạc, nhất, khứ, bất, phục, phản). Trong văn chương, người thời xưa thường khó tính giống như Nhạc Bất Quần trong "Tiếu Ngạo Giang Hồ", khư khư giữ đúng quy luật, chệch một chút là không có thể chấp nhận được. Vậy mà bài thơ "Hoàng Hạc Lâu" vẫn mãi được tôn xưng là một trong những bài thơ Đường hay nhất.

Các nhà bình thơ không gọi bài thơ nổi tiếng nầy là "Thất Luật", mà gọi là "Phá Cách", làm như thể tác giả Thôi Hiệu cố tình làm một bài thơ không đúng niêm luật để tạo một phong thái riêng cho mình. Đúng vậy không?

Tôi sinh sau đẻ muộn, chính hiệu "Mít Đặc", về thơ Đường thì cái gì cũng không biết, cho nên không có câu trả lời xác đáng. Nhưng tôi đã từng làm thơ nên tôi biết làm được một bài thơ cho ra hồn cần có ngẫu hứng. Không bao giờ có chuyện ghi trong lịch trình làm một bài thơ, rồi đúng đến ngày và giờ đã quy định phóng bút viết ra một bài. Với tôi, thơ chỉ làm được trong lúc bất ngờ nhất, tự nhiên muốn viết thì viết ra ngay, chuyện niêm luật vần điệu để tính sau. Ngày xưa, Thôi Hiệu chắc cũng vậy. Ông viết bài thơ Hoàng Hạc Lâu trong lúc tức cảnh sinh tình, lại viết ngay lên vách, muốn sửa đổi cũng không sửa đổi được. Nhưng tôi nghĩ bài thơ của ông vẫn được yêu thích, ca ngợi, tại vì ý thơ quá hay, hay đến nỗi kỷ thuật lẻ tẻ không đáng nhắc đến. Đây là lý do khiến bài thơ Hoàng Hạc Lâu trở thành bất tử, và cũng là lý do một ngàn năm sau vẫn chưa thể có được một bài thơ chuyển ngữ có giá trị tương đương.

Những khó khăn trong việc dịch thơ sang tiếng Việt
Từ truy cập trên mạng tôi đã đọc đuợc hơn năm mươi bài thơ dịch Hoàng Hạc Lâu sang tiếng Việt. Đây chỉ là con số đăng trên các Thi Viện; số người thực sự đã dịch thơ, nhưng không phổ biến dịch phẩm của mình chắc chắn là cao hơn nhiều. Bây giờ chẳng có mấy ai giỏi cả Việt Văn lẫn Hán Văn, tại sao lại có hiện tượng nầy? Theo tôi nghĩ, các nhà thơ vô danh hay đã thành danh xem chuyện dịch bài thơ của Thôi Hiệu sang tiếng Việt là một thử thách, càng cam go họ lại càng muốn làm. Và cam go thử thách khi dịch bài thơ "Hoàng Hạc Lâu" sang tiếng Việt thì không thiếu.

Thử thách đầu tiên là hiểu và giữ được ý thơ nguyên tác trong bản dịch. Điều nầy nói thì dễ, nhưng thật sự có thể nào đọc phần dịch nghĩa của mỗi câu thơ có thể khiến cho người nuôi mộng làm dịch giả hiểu được toàn ý bài thơ không?
Thử thách kế tiếp, đặc biệt cho những người dùng thể văn của nguyên tác (thất ngôn bát cú) để dịch, là bài thơ dịch phải đúng vần, đúng luật bằng trắc, đối chọi nhau.
Thử thách thứ ba bắt nguồn từ sự khác biệt âm vận và văn phạm. "Khứ" trong tiếng Hán và "Đi" trong tiếng Việt có cùng một nghĩa, nhưng khác âm vận; "Khứ" mang vần "Trắc", nhưng "Đi" lại mang vần "Bằng". Trong tiếng Hán, tỉnh từ bổ nghĩa cho danh từ đi trước danh từ ấy; trong tiếng Việt thì ngược lại. Cho nên, khi dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt, "Hoàng Hạc" trở thành "Hạc Vàng". Sự khác biệt về âm vận và văn phạm đưa đến một khó khăn nghiêm trọng cho người dich: bài thơ tiếng Việt sẽ không đúng luật Bằng Trắc.

Thử thách thứ tư, đặc biệt cho những "dịch giả" sinh sau đẻ muộn, là phải tránh dùng từ ngữ mà các dịch giả khác đã dùng để tránh bị kết án tội "ăn trộm văn chương" (đạo văn). Cho nên, những "dịch giả" như tôi không những bị trói cả hai tay mà còn bị trói cả...hai chân. Đảo đi đảo lại một vòng, tôi thấy chuyện tôi muốn dịch bài thơ Hoàng Hạc Lâu sang tiếng Việt đúng là ... "Mít Đặc”

Bản Dịch Của Tản Đà
Tản Đà mất năm 1939, không quá lâu sau khi phong trào thơ mới được bùng phát ở Việt Nam. Cho nên, có thể nói rằng bản dịch của ông là một trong những bản dịch được ghi lại và phổ biến sớm nhất trong thi đàn cận đại. Tôi dĩ nhiên là không biết rõ lý do, nhưng tôi nghĩ chắc ông cũng nhận định rõ về những khó khăn mình phải đương đầu khi dùng thể thơ Thất Ngôn Bát Cú để dịch thơ. Nên ông chọn dùng thể thơ Lục Bát. Với thể thơ nầy, miễn là giữ được ý của bài thơ nguyên tác, ông không phải chú tâm đến những niêm luật cứng nhắc, rườm rà, được tự do hơn khi chọn từ ngữ.

Hoàng Hạc Lâu

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dưong sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn.
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Sự lựa chọn dùng thể thơ Lục Bát để dịch bài thơ thất ngôn bát cú Hoàng Hạc Lâu sang tiếng Việt khiến vài nhà bình luận, thời xưa cũng như bây giờ, dùng làm lý do để so sánh và "hạ bệ" bản dịch của ông. Tôi thì nghĩ rằng ông đã thành công, vì mỗi khi đọc hai câu cuối của nguyên tác ("Nhật mộ hương quan hà xứ thị. Yên ba giang thượng sử nhân sầu"), tôi (hay các độc giả khác) nghĩ ngay đến hai câu cuối trong bản dịch của ông ("Quê hương khuất bóng hoàng hôn. Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai").

NHỮNG BẢN DỊCH TIÊU BIỂU(nguồn: Thi Viện)

Bản Dịch Từ Thế Hệ Đi Trước

Không ai biết rõ có bao nhiêu người thuộc thế hệ cha ông của tôi đã thử dịch bài thơ Hoàng Hạc Lâu sang Tiếng Việt. Các bản dịch tôi tìm thấy khi truy cập trên mạng là từ những người đã có chỗ đứng trong văn học Việt. Họ là ký giả, học giả, văn sĩ, thi sĩ... rất giỏi cả Việt Ngữ lẫn Hán Ngữ. Có phải vì danh tiếng và bối cảnh của mình khiến họ có dũng khí "trình làng" tác phẩm của mình, hay làm cho bản dịch của họ dễ được đón nhận hơn chăng? Tôi không rõ, nhưng chín người mười ý, giá trị của tác phẩm của họ đến từ cái nhìn của độc giả họ.

Cũng có người dùng thể thơ lục bát nhưng đa số dùng thể thơ thất ngôn bát cú để dịch thơ. Dù thể thơ nào đi nữa, dù dịch phẩm của họ được phẩm bình và khen ngợi, tôi vẫn thấy trong các bản dịch nầy có sự gượng gạo trong cách chọn chữ và sắp chữ. Như đã tả về những khó khăn dịch giả phải đối đầu khi chuyển thơ từ Hán Ngữ sang Việt Ngữ, sự gượng gạo nầy là một điều tất nhiên. Nhưng cho dù dịch giả có cố gắng đến mấy đi nữa, cũng chính sự gượng gạo nầy khiến dịch phẩm của họ không thể nào sánh được với nguyên tác.

Dưới đây là bản dịch của vài dịch giả đã thành danh trong suốt mấy thập niên 1930's -1970's:

Bản dịch của Ngô Tất Tố

Người xưa cưỡi hạc đã lên mây,
Lầu hạc còn suông với chốn này.
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Ngàn năm mây bạc vẩn vơ bay.
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hững
Xanh ngát châu Anh, lớp cỏ dày.
Trời tối quê nhà đâu tá nhỉ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây!

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút,
Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi
Hạc vàng một đi đã đi biệt,
Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi.
Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng,
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời.
Hoàng hôn về đó, quê đâu tá?
Khói sóng trên sông não dạ người

Bản dịch của Trần Trọng Kim

Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưu một lầu.
Hạc vàng đi mất đã lâu,
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông,
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì.
Chiều hôm lai láng lòng quê,
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.

Bản dịch của Trần Trọng San

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.
Hạc đã một đi không trở lại,
Man mác muôn đời mây trắng bay.
Hán Dương sông tạnh, cây in thắm,
Anh Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.
Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy
Trên sông khói sóng gợi buồn ai

Bán dịch cúa Đào Hữu Dương

Hạc vàng người cưỡi bay xa,
Dấu xưa để lại một toà Hạc lâu.
Hạc đi không trở lại lầu,
Chỉ còn mây trắng ngàn thâu lững lờ.
Hán Dương sông lặng cây đùa,
Cỏ thơm Anh Vũ trên bờ xanh tươi.
Chiều hôm quê khuất bên trời,
Khói mờ sông nước làm ai chạnh buồn

Bản dịch của Nguyễn Khuê

Cưỡi hạc người xưa đi đã lâu
Còn đây Hoàng Hạc chỉ trơ lầu
Hạc vàng biền biệt từ xưa ấy
Mây trắng lặng lờ đứng mãi sau
Sông tạnh Hán Dương cây lắng bóng
Bãi thơm Anh Vũ cỏ tươi màu
Chiều buồn quê cũ nơi nào nhỉ
Khói sóng trên sông giục khách sầu.

Bản dịch của Thanh Tâm Tuyền

Ngưỡi xưa rong chim hạc đi khuất
Đất cũ để trơ lầu vắng không
Hoàng hạc thưở biệt rõi tuyệt dạng
Mây nghìn kiếp trắng mãi bông lông
Tạnh quang cây bến lung linh nắng
Xanh ngát cỏ đồng thiêm thiếp hoang
Xế muộn làng quê nơi nào nhỉ?
Mặt sông khói quyện buồn lạ lùng.

Bản dịch của Đinh Hùng II

Người xưa đã cưỡi chim Hoàng Hạc,
Đất trời lầu Hạc hãy còn đây.
Hạc vàng bay qua không trở lại
Ngàn năm mây trắng nhởn nhơ bay.
Hán Dương sông sáng, cây rõ bóng,
Cỏ thơm Anh Vũ, bãi xanh dày.
Trời chiều quan tái, quê đâu nhi?
Trên sông sóng khói gợi sầu đầy...

Đa số dịch giả của các bản dịch nầy thuộc thế hệ cha ông, đúng ra tôi không dám/nên có lời nhận xét về dịch phẩm của họ. Nhưng tôi thấy rõ trong mỗi bản dịch có một sự gượng ép rõ ràng; vi muốn đúng vần, đúng điệu, họ đã phải dùng những từ ngữ không thích hợp làm bản dịch của họ nếu không nói là tối nghĩa thì cũng xa rời ý thơ nguyên tác. Cho nên, không như bản dịch của Tản Đà, những bản dịch của họ gần như không có ai biết đến hay nhớ đến. Tôi đặc biệt thấy hơi thất vọng khi đọc bản dịch của Thanh Tâm Tuyền. Ông là một nhà thơ nổi tiếng, thi phẩm của ông được nhiều người (trong đó có tôi) thưởng thức.

Tôi đọc trên mạng, thấy có nhiều "phê bình gia" nhiệt liệt khen ngợi bản dịch Hoàng Hạc Lâu của ông. Tôi thật sự không thấy được những ưu điểm khiến họ phải tấm tắc ngợi khen; bản dịch của Thanh Tâm Tuyền thì "thoải mái", không cần biết đúng luật, đúng vần, đúng ý thơ nguyên tác hay không.

Hai Bản Dịch Cách Nhau 100 năm

Tôi tìm thấy trên mạng hai bản dịch viết cách nhau đúng 100 năm. Tôi đọc hai bài thơ, có thể nhận thấy được sự chuyển biến của cách dùng từ theo thời gian; bản dịch sau tân kỳ, uyển chuyển hơn (và hay hơn?). Nhưng chung chung, tôi thấy cả hai đều từa tựa như nhau, để giữ bài thơ dịch đúng niêm luật, từ ngữ và ý thơ nếu không bị dồn ép thì cũng bị xa đề.

Bản Dịch Của Nguyễn Đôn Phục (1923)

Người tiên xưa cưỡi hạc vàng cút,
Ở đây chỉ những lầu hạc trơ.
Hạc vàng đã cút chẳng về nữa,
Mây trắng nghìn năm còn phất phơ.
Sông bọc Hán Dương cây xát xát,
Cỏ liền Anh Vũ bãi xa xa.
Ngày chiều làng cũ đâu chăng tá?
Mây nước trên sông khách thẩn thờ!

Bản Dịch Của Đất Văn Lang (2023)

Người xưa cỡi hạc về tiên cảnh
Chốn cũ trơ lầu gió đuổi chơi
Biền biệt hạc vàng bay một thuở
Chơi vơi mây trắng dạo muôn đời
Hán Dương sông tạnh cây in bóng
Anh Vũ cồn thơm cỏ lẫn trời
Chiều xuống quê nhà xa khuất dạng
Khói giăng sóng gợn giọt buồn rơi.

Trong các bản dịch theo thể thơ Thất Ngôn Bát Cú tôi đọc trên mạng, bản dịch của Đất Văn Lang được tôi ưa thích nhất. Dù có một hai lỗi nho nhỏ (một ví dụ: hai câu đối 5 và 6 không chỉnh; "cây in bóng" không đối được với "cỏ lẫn trời"), bản dịch đa số đúng vần,đúng luật, từ ngữ trau chuốt không gượng ép. Nói chung chung là tôi thấy bản dịch nầy khá hay. Với tôi, vấn đề là ở câu thứ hai. Để hợp với vần "ơi", tác giả dùng ba chữ "gió đuổi chơi" để diễn tả sự trơ trọi của ngôi lầu Hoàng Hạc khi tiên và chim không trở lại nữa.

Nhưng ba từ nầy gợi nghĩa đến sự hoang phế; ngôi lầu bị bỏ hoang, gió đuổi nhau quacác cửa chính, cửa sổ đã bị mục nát. Ba chữ nầy làm ý câu thơ và ý của tổng thể bản dịchkhác biệt với nguyên tác. Thật đáng tiếc!

Các Bản Dịch Sang Ngôn Ngữ Khác

Tôi không biết có bao nhiêu người từ các quốc gia khác cũng yêu thích và ráng dịch bài thơnổi tiếng nầy sang ngôn ngữ của họ. Từ truy cập trên mạng, tôi thấy có bản dịch sang TiếngPháp và Tiếng Anh. Dù không thích lắm, tôi vẫn ghi chúng lại cho độc giả của tôi tham khảo.

Bản dịch Tiếng Pháp của Nguyễn Hữu Viện

Un sage s'en alla sur sa grue jaune pour l'éternité
Le Pavillon de la Grue Jaune n'exista qu'ici
La grue jaune n'est jamais revenue quand elle est partie une fois
Les nuages blancs s'envole dans le ciel depuis mille ans
En beau temps, sur ce fleuve on voit les arbres au borde de Han Yang
Les herbes parfumées forment des ensembles épaisses sur l'Ile des Perroquets.
Le crépuscule tombe ici...Cela me rappelle à me demander où donc est mon pays
natal?
Sur ce fleuve, à qui sa brume et ses vagues font triste

Bản dịch Tiếng Anh của H.A. Giles

Here a mortal once sailed up to Heaven on a crane,
And the Yellow-Crane Kiosque will for ever remain;
But the bird flew away and will come back no more
Though the white clouds are there as the white clouds of yore.
Away to the east lie fair forests of trees,
From the flowers on the west comes a scent-laden breeze,
Yet my eyes daily turn to their far-away home,
Beyond the broad River, its waves, and its foam

Bản dịch Tiếng Pháp là bản dich nghĩa, không phải là thơ, nên dù giữ đúng nghĩa củanguyên tác, bản dịch nầy không có vần, có điệu. Bản dịch Tiếng Anh, từ một nhà ngoạigiao và ngữ học người Anh, cũng tựa như vậy, nhưng vì dịch giả dùng thể thơ liên vận(những cặp câu thơ mang cùng âm vận), nên buộc phải dùng từ ngữ không mang ý nghĩacủa nguyên tác.

HOÀNG HẠC LÂU VÀ BẢN DỊCH CỦA VŨ HOÀNG CHUƠNG

Mùa Hè năm 1973, giời truyền thông và văn học ở Nam Việt Nam lại bị chấn động. Nhưng khác vời Mùa Hè 1972, sự chấn động năm 1973 không đến từ lửa khói chiến tranh, mà đến tử một bản dịch bài thơ Hoàng Hạc Lâu sang Tiếng Việt.

Trong văn học cận đại, không biết bao nhiêu dịch giả và học giả cố gắng làm chuyện nầy. Nhưng trước 1973, chỉ có dịch phẩm của Tản Đà được xem là hay nhất, được biết đến nhiều nhất. Nhưng vì Tản Đà dùng thể thơ lục bát cho bài dịch, nên dù độc giả đọc dịch phẩm của ông thấy thích, thấy hay, họ vẫn cảm thấy thiếu thiếu một cài gì đó. Điều mọi người mong chờ, là một dịch phẩm dùng cùng thể thơ thất ngôn bát cú của nguyên tác để dịch bài thơ của Thôi Hiệu. Khi bản dịch mới nầy được phổ biến, đa số độc giả đồng ý rằng sự mong chờ của họ đã được thoả mản.

Xưa hạc vàng bay vút bóng người
Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc đi đi mãi
Trắng một màu mây vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa, chiều xuống đâu quê quán
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi

Bài thơ mới nầy thoả mản tất cả những đòi hỏi về niêm luật gò bó của thể thơ thất ngôn bát cú. Khác hẳn những bản dịch khác, cách dùng chữ trong mỗi câu thơ hoàn toàn tân kỳ, mới lạ, không có sự gượng ép. Và tác giả của dịch phẩm nầy là một nhà thơ nổi tiếng, một Lý Bạch của Việt Nam, một người được xưng danh là “thi bá”. Cộng tất cả lại với nhau, dịch phẩm của Vũ Hoàng Chương đã nổi tiếng ngay sau khi được phổ biến. Từ 1973 đến nay, không ít nhà phê bình, từ tư bản VNCH đến cộng sản XHCN, đã so sánh bản dịch nầy với bản dich của Tản Đà, và cùng đồng ý bản dịch của Vũ Hoàng Chương hay hơn bản dịch của Tản Đà.

Tôi ít khi viết thơ bảy chữ, nhưng cực kỳ yêu thích thể thơ nầy, có lẽ vì đã được đọc những bài thơ bảy chữ đặc sắc của Quang Dũng (Tây Tiến, Đôi Bờ), Huy Cận (Trường Giang) hay Thái Can (Anh biết em đi chẳng trở về). Nên bài thơ dịch của Vũ Hoàng Chương được tôi đón nhận nồng nhiệt. "Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản. Bạch vân thiên tải không du du" dịch thành "Vàng tung cánh hạc đi đi mãi. Trắng một màu mây vạn vạn đời" thì thật sự là phải mượn lời khen của Tào Tháo, "tuyệt diệu hảo từ", không thể nào dịch hay hơn được.

Nên ngoài bản dịch của Tản Đà, đây là bản dịch thứ hai mà tôi ghi nhớ và thuộc lòng. Một nguyên tác, hai bản dịch. Một bản dịch theo thể thơ lục bát, mộc mạc, gần gũi, đọc là thấy ngay hiểu ngay. Một bản dịch theo thể thơ thất ngôn bát cú, bay bướm, tạo hình, đọc rồi phải ngẫm nghĩ mới cảm nhận được cái hay của từng câu thơ dịch.

Khen ngợi như vậy, có phải là tôi đồng ý với các nhà phê bình, rằng bản dịch của Vũ Hoàng Chương hay hơn bản dịch của Tản Đà? Tôi thật sự không có câu trả lời, nhưng đọc đi đọc lại bản dịch của Vũ Hoàng Chương, tôi thấy có một cái gì đó níu tôi lại, không cho phép tôi nói rằng, đây là bản dịch Hoàng Hạc Lâu hay nhất mà tôi đã từng đọc. Đọc lại bản dịch của Vũ Hoàng Chương, tôi chiêm nghiệm được một điều rằng, bản dịch tuy hay, nhưng chỉ biểu trưng được ý thơ của ông. Nên dù tôi cố dụng tâm suy nghĩ, tôi chỉ có thể cảm nhận được cái hay của bản dịch, mà không cảm nhận được cái hay của bài thơ nguyên tác. Tại sao vậy?

Tại vì để đồng âm và đúng luật, Vũ Hoàng Chương, dù là một thi bá, cũng phải bị ép dùng từ ngữ khiến câu dịch trở thành tối nghĩa. Ví dụ có ngay ở câu thứ hai. "Đây lầu hoàng hạc chút thơm rơi". Chút thơm là gì? từ đâu rơi xuống? là mùi hương của hạc hay của (ông) tiên? Lại nữa, lầu hoàng hạc được xây mấy trăm năm sau khi tiên cưỡi hạc đến viếng địa phương; vậy thì sao trên lầu hoàng hạc lại có "chút thơm"?

Một ví dụ nữa ở câu thứ sáu. "Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi". Ba chữ "chẳng ai chơi", dù đúng luật đúng vần, là ba chữ mà theo ý tôi, làm hư cả một tuyệt phẩm. Ba chữ nầy rất"phàm tục", chẳng khác gì một chú bộ đội áo vét cà vạt chỉn chu nhưng chân lại mang một đôi dép râu. Tôi hiểu ý tác giả, rằng Anh Vũ là một cồn (cù lao) giữa dòng sông, nên chẳngai đến chơi. Nhưng "chẳng ai chơi" cũng gợi ý là cỏ trên cồn Anh Vũ trơ trụi, cằn cỗi, cháynám khiến du khách phải lánh xa. Lý do gì đi nữa, "chẳng ai chơi" làm mất đi vẻ đẹp chungquanh Hoàng Hạc Lâu, vậy thì có còn gì để Thôi Hiệu tức cảnh sinh tình mà nhớ nhà?

MÍT ĐẶC DỊCH BÀI THƠ "HOÀNG HẠC LÂU"

Vấn nạn của Mít Đặc
Tôi đọc lại những gì mình đã viết từ đầu bài tạp bút đến đây, bất giác giật mình. Chữ nghĩa không đầy một cái lá ... mít, vậy mà tôi dám phê bình vung vít, chỉ trích lung tung những bản dịch của những bậc tài danh đã được ghi nhận và lưu truyền. Chuyện người đời sau giỏi hơn, hay hơn người đời trước thì rất bình thường; đến thánh nhân cũng phải chào thua một đứa bé sáu tuổi mà. Nhưng đứa bé sáu tuổi Hạng Thác có lý luận vững chải khiến cho thánh nhân KhổngTử phải cứng miệng không nói nên lời. Trường hợp của tôi thì khác; tôi không phải là một nhà phê bình văn học như Hoài Thanh, Hoài Chân, để có thể phát biểu ý kiến mà không cần phải chứng minh phản hồi. Bối cảnh của tôi lại là về khoa học, nói phải có sách, mách phải có chứng. Để có thể chứng minh và tạo giá trị chonhận xét về các bản dịch của những người đi trước, chính tôi phải có một bản dich theo cùng một thể thơ thất ngôn bát cú, đúng niêm luật, không phá cách, lại diễn tả được ý thơ của nguyên tác. Nói cách khác, tôi phải làm một việc mà chưa có dịch giả nào làm được.

Nhưng nếu tôi không làm được, thì tôi chẳng khác gì một em cao thước mốt phê bình chân của hoa hậu hoàn vũ không đủ dài!!! Điều quan trọng là, nói thì nghe dễ, nhưng làm thì lại cực kỳ khó khăn. Nếu dễ, thì đâu đến phiên một kẻ "Mít Đặc" sinh sau để muộn như tôi lại có thể viết ba hoa xích đế về dịch Thơ Đường.

Nghĩa đen, nghĩa bóng

Tuy tôi không nhận được mặt chữ, nhưng qua âm tiếng Việt, tôi có thể hiểu ý khá nhiều chữ Hán (ví dụ như: "Hoàng": màu vàng, "Hạc": chim hạc, , "Khứ": đi, "Bất": không ...) cho nên khi đọc âm Việt của một bài thơ chữ Hán, tôi có thể đại khái đoán được ý của mỗi câu thơ Trước đây, tôi đã từng dịch thơ Đường sang tiếng Việt, nhưng đa số là thơ bốn câu (tứ tuyệt) mà ý từng câu góp lại có thể cho thấy ý của tổng thể bài thơ. Ví dụ như bài thơ Lương Châu Từ (khúc hát Lương Châu)

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi (Rượu nho ngon rót chén dạ quang)
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi (Chưa cạn chén thì tiếng đàn đã thúc giục lên đường)
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu (Say nằm lăn trên cát, xin bạn đừng cười)
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi (Xưa nay đi chinh chiến có mấy ai bình yên trở về)

Ý nghĩa mỗi câu thơ khác nhau, nhưng góp chung lại, chúng cho thấy sự bi tráng của cuộc đời của một chiến sĩ. Đây là ý thơ, và hiểu được ý thơ là có thể chuyển bài thơ nguyên tác sang Tiếng Việt (hay ngôn ngữ khác).

Uống chưa cạn chén rượu đào
Đàn ai đã giục người vào tử sinh
Say cho quên số phận mình
Xưa nay mấy kẻ chiến chinh trở về
(NVG dịch)

Tôi nghĩ hầu hết các dịch giả đều dùng cùng một tiến trình để dịch thơ Đường: hiểu ý của từng câu thơ, rồi dựa trên ý đã hiểu dịch câu thơ nguyên tác sang Tiếng Việt, rồi thay đổi vài từ ngữ để bài thơ được đúng âm vận cùng niêm luật. Như vậy, tại sao tôi lại thấy các bản dịch của người đi trước có vấn đề gì đó, tại sao tôi đọc các bản dịch của họ mà không cảm nhận được cái hay của bài thơ nguyên tác?

Tôi lên mạng, dùng Google Translation dịch từng chữ, rồi từng câu tiếng Hán trong nguyên tác sang tiếng Việt. Kết quả xác nhận nghĩa tiếng Việt của từng câu thơ tôi tìm thấy từ Wikipedia không có sai, nhưng hơi rườm rà, hoa lá cành. Tôi không hiểu Hán Ngữ, nhưng hiểu Anh ngữ, nên để kiểm chứng, tôi lại dùng Google Translation chuyển từng câu nguyên tác Hán Ngữ sang Anh Ngữ. (Chuyển Hán Ngữ sang Anh Ngữ, rồi từ Anh Ngữ sang Việt Ngữ để hiểu nghĩa tiếng Việt của một bài thơ chữ Hán, thế gian nầy chắc chỉ có một mình tôi!!!). Kết quả bản dịch làm tôi ngẩn ngơ.

昔人已乘黃鶴去 The ancient has gone away on a yellow crane
此地空餘黃鶴樓 Only the Yellow Crane Tower remains here
黃鶴一去不復返 The yellow crane will never return
白雲千載空悠悠 White clouds float in the sky for thousands of years
晴川歷歷漢陽樹 The clear river reveals the trees of Hanyang
芳草萋萋鸚鵡洲 Parrot Island with thick and lush grass
日暮鄉關何處是 Where is my hometown at dusk?
煙波江上使人愁 The misty river makes people sad

Qua Anh ngữ, ý của mỗi câu thơ nguyên tác rõ ràng, rành mạch và gọn ghẽ hơn là ý thơ dịch trực tiếp sang Tiếng Việt từ Wikipedia. Bản dịch Anh ngữ cho thấy chỉ có bản dịch của Tản Đà là sát nghĩa với nguyên tác nhất. Như tôi đã nhận xét, vì sự gượng gạo muốn đúng âm đúng luật, các bản dịch khác không giữ được ý thơ nguyên tác.

Vậy ý thơ nguyên tác là gì?

Ý Thơ Nguyên Tác
Từ bốn câu thơ sau của bài thơ Hoàng Hạc Lâu, tôi có thể cảm nhận đươc đôi điều. Một làcảnh vật chung quanh Hoàng Hạc Lâu rất đẹp. Hai là, tuy nhìn thấy cảnh đẹp, tác giả ThôiHiệu không thấy hân hoan thư thái mà lại thấy buồn vì nhớ nhà. Tại sao đứng trước cảnh đẹp, nhà thơ lại thấy nhớ nhà? Câu trả lời rất rõ ràng, và cũng là ý của một nữa bài thơ: tạivì trong lòng của tác giả, cảnh sắc Hoàng Hạc Lâu có đẹp đến mấy cũng không đẹp bằngquê mình. Quê hương đẹp hơn cả!

Hiểu được ý nữa bài thơ sau, thì tìm hiểu ý của nữa bài thơ đầu dễ hơn nhiều. Bốn câu thơ đầu cho thấy sự nuối tiếc về một vật gì đó, rất trân quý, nhưng đã lỡ đánh mất. Trong bốn câu thơ nầy, hạc vàng, lầu Hoàng Hạc, mây trắng chính là nghĩa đen, nhưng trong nghĩa bóng, chúng chỉ là những vật tượng hình. "Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ"; chim hạc vàng là một quê hương, một đoạn đời mà tác giả đã từng gắn bó. "Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu"; ngôi lầu Hoàng Hạc là tác giả, cô đơn, trơ trọi ở một nơi xa lạ. "Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản", một thời ở quê nhà đã xa rồi, sẽ không bao giờ sống lại được nữa cho dù có trở về. "Bạch vân thiên tải không du du"; bạch vân là thời gian, ngàn năm vẫn mãi trôi, lặng lẽ, vô tình.

Qua nghĩa đen, hai nữa bài thơ thoạt trông chẳng dính dáng gì với nhau. Nhưng theo ý của mỗi nữa bài thơ thì chúng lại rất ăn khớp với nhau. Tác giả Thôi Hiệu (và mỗi chúng ta) đã có một thời làm tuổi trẻ, một thời sống ở quê nhà, quá đẹp, quá lãng mạn. Nhưng thời gia đã vô tình mang đoạn đời ấy đi xa rồi, nên trong lòng Thôi Hiệu (và mỗi chúng ta) chỉ còn sự tiếc nuối. Cho nên, theo thời gian, cuộc đời có đẹp đến mấy đi nữa thì vẫn không thể nào sánh được với đoạn đời đã lỡ đánh mất; cuộc đời càng đẹp bao nhiêu lại càng gợi nhớ đến quê hương và đoạn đời đã mất bấy nhiêu.

Tuy đây chỉ là cảm nhận ý thơ nguyên tác của riêng tôi thôi, nhưng tôi nghĩ cảm nhận nầy chính là ý thơ nguyên tác, ý thơ đã khiến bài thơ của Thôi Hiệu trở thành bất tử. Tôi nghĩ và tin như vậy, vì chính cá nhân tôi, sau mấy mươi năm dài, vẫn còn thấy tiếc nhớ một thời làm học trò ở quê nhà. Tôi nghĩ và tin như vậy, vì tôi vẫn mãi trông thấy những người già sống ở xứ người, mỗi năm trong ngày Quân Lực vẫn còn mặc bộ quân phục của một thời làm chinh nhân đứng nghiêm chào kính lá cờ vàng ba sọc đỏ. Tôi nghĩ và tin như vậy, vì tôi biết rất nhiều người cùng thời với tôi, bây giờ tuổi đã về chiều, quên trước quên sau, chuyện mới xảy ra ngày hôm qua không nhớ rõ, nhưng chuyện xảy ra khi còn ở quê nhà hơn nữa thế kỷ trước lại nhớ rõ, rất rõ, từng chi tiết dù rất nhỏ nhoi.

NHỮNG BẢN DỊCH CỦA MÍT ĐẶC

Gần sáu mươi năm sau, tôi mới hiểu được câu nói của thầy tôi ngay xưa: "khi nào em có thể dịch bài thơ nầy sang tiếng Việt, em có thể hiểu được". Chính xác hơn, tôi có thể hiểu được tại sao bài thơ Hoàng Hạc Lâu được ca ngợi và truyền tụng chỉ khi nào tôi hiểu được, không phải nghĩa của bài thơ mà là ý của bài thơ nầy.

Ý thơ thì bây giờ có thể hiểu được rồi, đã đến lúc tôi phải bước chân vào bãi mìn, ráng dịch bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu sang tiếng Việt. Để chứng tỏ mình đã không quá ba hoa xích đế, bản dịch đầu của tôi theo thể thất ngôn bất cú "phá cách" như nguyên tác (chữ cuối của câu đầu vần trắc thay vì vần bằng, hai câu 3 và 4 không đối nhau)

Bản dịch của Nguyễn Vĩnh Giao I

Xưa người cưỡi hạc bay mờ khuất
Nay chỉ riêng lầu đứng ngóng trông
Một đi, hạc sẽ không về nữa
Nghìn năm, mây dạo mấy từng không
Nắng bến Hán Dương, cây đối bóng
Gió cồn Anh Vũ, cỏ phiêu bồng
Chiều tàn, đâu lối về quê cũ?
Khói sóng trên sông khiến chạnh lòng

Đọc thì thấy bản dịch cũng ...được đưọc, đúng âm, đúng luật, khá trôi chảy và ít gượng gạo. Tôi lên tinh thần, tự vỗ tay khen mình. Rồi, hết bắt chước Vũ Hoàng Chương, tôi lại bắt chước Tản Đà, dùng thể thơ lục bát để dịch bài thơ Hoàng Hạc Lâu sang tiếng Việt một lần nữa.

Bản dịch của Nguyễn Vĩnh Giao II

Xưa người cưỡi hạc mù khơi
Nay lầu đứng giữa đất trời trơ vơ
Hạc không trở lại bao giờ
Ngàn năm mây vẫn lặng lờ trôi nhanh
Hán Dương in bóng cây cành
Trên cồn Anh Vũ cỏ xanh một màu
Chiều tà, quê cũ nơi đâu?
Trên sông khói sóng gợi sầu khôn nguôi

Đọc bản dịch thứ hai nầy, tôi thấy cũng... được được, khá hơn bản dịch trước, sát nghĩa với nguyên tác hơn. Tôi không dám so sánh bản dịch của mình với bản dịch của Tản Đà, nhưng so với các bản dịch lục bát khác (ví dụ như bản dịch của Trần Trọng Kim), tôi thấy bản dịch của mình trôi chảy hơn, ít gượng gạo hơn. Một lần nữa, tôi lại vỗ tay tự khen mình.

Thế là tôi có hai bản dịch, dùng hai thể thơ đã dùng trong tất cả các bản dịch khác. Với các dịch giả khác, vậy là đủ rồi. Nhưng với tôi, vẫn chưa đủ. Tôi lại cho tôi một thử thách mới: có thể nào dịch thêm một lần nữa, nhưng đúng hoàn toàn theo niêm luật của thể thơ thất ngôn bát cú (không "phá cách"). Trong bản dịch nầy, ngoài những từ chung (xưa, nay, mây, hạc, Hán Dương, Anh Vũ, cây, cỏ, tạnh, xanh...) tôi không được dùng từ ngữ tôi đã dùng trong hai bản dịch đầu.

Bản dịch của Nguyễn Vĩnh Giao III

Xưa người cưỡi hạc vút về đâu
Nay chỉ còn trơ một mái lầu
Hạc đi, đi mãi không về nữa
Mây trôi, trôi đến tận ngàn sau
Tạnh bến Hán Dương, cây rọi bóng (1)
Xanh cồn Anh Vũ, cỏ khoe màu (2)
Hoàng hôn phủ lối về quê cũ
Sông mờ khói sóng dậy niềm đau...

(1) cây thắm sắc
(2) cỏ tươi màu

Dù biết là mình có thể phạm tội "mèo khen mèo dài đuôi", tôi vẫn phải nói rằng bản dịch thứ ba nầy là bản dịch theo thể thơ thất ngôn bát cú của nguyên tác đặc sắc nhất mà tôi đã từng đọc. Độc giả của tôi có thể nhận thấy ngay rằng như hai bản dịch trước, bản dịch nầy hoàn toàn không có sự gượng gạo trong việc dùng chữ hay sắp chữ. Bản dịch hoàn toàn đồng âm, đúng niêm luật, và các câu thơ đối nhau rất chỉnh. Điều quan trọng là bản dịch, dù không bay bướm như bản dịch của Vũ Hoàng Chương, nhưng sát nghĩa với nguyên tác hơn. Đây là bản dịch mà tôi sẽ không ngại cho "trình làng" cùng tác phẩm của các dịch giả khác.

Với ba bản dịch, tôi nghĩ tôi đã làm xong việc "nói có sách, mách có chứng"; tôi phê bình bản dịch của người khác, nhưng cũng cho ra bản dịch của chính mình và mời người khác phê bình.

Cuối cùng, để có một kết thúc vui vui cho bài tạp bút, tôi viết thêm một bản dịch nữa, lần nầy dùng âm vận "inh". Dù không phải là vần chết (tử vận) như vần "oi" trong bài thơ “Từ Thứ Quy Tào” của Tôn Thọ Tường, nhưng đây vẫn là một vần khó, rất khó. Không giống như các vần "âu", "ông", "ơi"... mà các dịch giả khác đã dùng, số từ ngữ mang âm "inh" có thể dùng trong bài thơ thất ngôn bát cú đúng vần đúng luật cực kỳ giới hạn, nên dùng vần nầy để dịch một bài thơ theo thể thơ nầy là một thử thách cam go mà chỉ có những kẻ...mít đặc như tôi mới dám làm.

Để tạo thêm khó khăn cho mình, một lần nữa, trong bản dịch nầy, ngoài những từ chung, tôi không được dùng từ ngữ tôi đã dùng trong ba bản dịch đầu.

(Trước khi độc giả đọc bản dịch thứ tư của mình, tôi xin ghi lại đây một hai phụ chú nhỏ. Chữ "thiên đình" trong câu thứ nhất không có trong nguyên tác. Nguyên tác chỉ viết "Xưa người cưỡi hạc bay đi", không nói là bay đi đâu. Nhưng người cưỡi hạc là tiên, nếu không ở lại trần gian thì chỉ có đường bay đến thiên đình, nên dù có chút gượng gạo, tôi hy vọng độc giả có thể chấp nhận. Đọc câu thứ sáu, "Trên cồn Anh Vũ cỏ in hình", độc giả có thể nhận xét rằng ba từ "cỏ in hình" tối nghĩa, và nghĩ rằng tôi dùng ba từ nầy chỉ để đối nhau với ba từ "cây chiếu bóng" của câu số năm. Thật ra, đối chữ chỉ là mục tiêu phụ. Mục tiêu chính cho việc dùng ba từ nầy là để tạo hình; tôi muốn độc giả có thể cảm nhận hình ảnh của một cặp tình nhân dìu nhau đi qua cồn Anh Vũ, trên đám cỏ non có in hình ảnh hai chiếc bóng quyện vào nhau, và hai hàng dấu chân bước song song bên nhau. Chắc chắn là đẹp và lãng mạn hơn ba từ "chẳng ai chơi" rất nhiều!!!)

Bản dịch của Nguyễn Vĩnh Giao IV

Xưa người cưỡi hạc tới thiên đình
Nay chỉ lầu trơ trọi một mình
Hạc vàng tung cánh đi biền biệt
Mây trắng ngàn năm trôi lặng thinh
Dưới bến Hán Dương, cây chiếu bóng
Trên cồn Anh Vũ, cỏ in hình
Ngày tàn, khuất lối về quê cũ
Khói sóng trên sông dậy chút tình...

Nguyễn Vĩnh Giao
(Houston 03/2026)

Không có nhận xét nào: