Thể thơ hành (ví như bài hát, khúc hát) là một thể thơ cổ phong thường dùng để kể chuyện, tả cảnh, gửi gắm tâm tư, cảm hứng sâu sắc trước các sự kiện, bối cảnh trước mắt. Khi đọc cảm thấy giọng hào sảng và mường tượng “những điều trông thấy”. Đặc điểm nổi bật là không bị gò bó nghiêm ngặt về số câu, số chữ hay niêm luật như Đường luật, gieo vần linh hoạt, phóng khoáng, thường dùng ngũ ngôn (5 chữ), thất ngôn (7 chữ), bát ngôn (8 chữ)… nhưng chỉ có vài bài trong kho tàng thi ca Việt Nam. Trong luật thơ, không có thể thơ “hành” nhưng chữ hành đứng bài thơ tạo thành thể thơ.
<!>
Cũng như thơ Đường luật phát xuất từ Trung Hoa, sau nầy ảnh hưởng đến thi ca Việt Nam. Những bài thơ hành nổi tiếng vào thời đó như Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, Lạc Đê Hiểu Hành của Thượng Quan Nghi, Hành Lộ Nan Tam Thủ của Lý Bạch, Nhập Hành Châu, Binh Xa Hành. Bạch Ty Hành của Đỗ Phủ (Nhượng Tống dịch ba bài thơ nầy), Hiệp Khách Hành của Lý Bạch (sau nầy Kim Dung cảm hứng, viết quyển về võ hiệp với tựa của bài thơ nầy), Lão Tướng Hành của Vương Duy, Trường Can Hành của Thôi Hiệu (4 câu)…
Thể thơ hành phóng khoáng hơn, không bị gò bó, ràng buộc bởi cảm nghĩ, diễn tả nỗi niềm sâu thẳm vì liên quan đến những sự kiện xảy ra, vấn đề chung quanh trong bối cảnh trước mắt. Hành là đi, nơi đến như hành trình, du hành, vi hành, bộ hành…
Sở Kiến Hành (chữ Hán - Những Điều Trông Thấy) bài thơ của cụ Nguyễn Du (1765-1820) sáng tác, khi ông đang dẫn đầu phái đoàn đi sứ sang Trung Hoa từ năm 1813 đến năm 1814. Đây là bài hành tiêu biểu trong dòng thi ca Việt Nam. Nội dung bài thơ ghi lại chi tiết hình dáng và tình cảnh bần cùng của một mẹ và ba con, đầy lòng trắc ẩn. Hình ảnh đó với bốn mẹ con trên đất khách (Trung Hoa) nhưng cũng gần gũi hình ảnh trên quê hương với cảnh đời người dân nghèo trong phiêu bạt.
Sở Kiến Hành với những câu 5 chữ:
Mở đầu với hình ảnh:
“Hữu phụ huề tam nhi,
Tương tương tọa đạo bàng.
Tiểu giả tại hoài trung,
Đại giả trì trúc khuông”.
(Có người đàn bà dắt ba đứa con,
Cùng nhau ngồi bên đường,
Đứa bé thì ẵm trong lòng,
Đứa lớn xách giỏ tre).
Bốn câu cuối:
“Bất tri quan đạo thượng,
Hữu thử cùng nhi nương.
Thùy nhân tả thử đồ,
Trì dĩ phụng quân vương”.
(Không biết trên đường cái quan,
Có mẹ con nhà này cùng cực đến thế!
Ai người vẽ bức tranh này,
Đem dâng lên nhà vua!”
Sa Hành Đoản Ca của Cao Bá Quát (1808-1855) chỉ có 18 câu:
“Trường sa phục trường sa,
Nhất bộ nhất hồi khước.
Nhật nhập hành vị dĩ,
Khách tử lệ giao lạc”...
… Thính ngã nhất xướng cùng đồ ca.
Bắc sơn chi bắc, sơn vạn điệp,
Nam sơn chi nam, ba vạn cấp,
Quân hồ vi hồ sa thượng lập?”
(Bãi cát dài, lại bãi cát dài,
Đi một bước như lùi một bước.
Mặt trời lặn mà vẫn còn đi.
Khách bộ hành nước mắt lã chã rơi…
… Hãy nghe ta hát khúc “đường cùng”,
Phía bắc núi Bắc núi muôn trùng,
Phía nam núi Nam sóng muôn đợt.
Anh còn đứng làm chi trên bãi cát?)
(Trường sa trong thơ Cao Bá Quát, nói chung là bãi cát dài, khác với Trường Sa là địa danh hòn đảo trong thơ “hành” của Tô Thùy Yên)
Mãi cho đến thời tiền chiến của thế kỷ XX mới xuất hiện hai bài thể loại “hành” của Thâm Tâm và Nguyễn Bính.
Tống Biệt Hành của Thâm Tâm trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy (1940):
“Ðưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?...
Ðưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
… Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.
Mây thu đầu núi, gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.
Ly khách ven trời nghe muốn khóc,
Tiếng đời xô động, tiếng hờn căm!”.
Hành Phương Nam của Nguyễn Bính sáng tác năm 1943 tại Đa Kao, Sài Gòn năm 1943
(Gửi Văn Viễn)
“Ðôi ta lưu lạc phương Nam này
Trải mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Mà ta với người buồn vậy thay
Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu
Mà không uống cạn mà không say
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu không ai may…
… Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh,
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi”
Nhà giáo Phạm Ngọc Lư, sau khi tốt nghiệp Khóa 4 Sư Phạm Quy Nhơn, năm 1968, sau chín tuần thụ huấn tại quân trường Quang Trung, được biệt phái về ngành giáo dục. Năm 1972 Phạm Ngọc Lư về dạy học tại Củng Sơn, Phú Yên, giáp ranh Cheo Reo, tỉnh Phú Bổn. Tuy không ra trận, xông pha chiến trường nhưng cảm xúc từ những trận đánh tàn khốc từ vùng hỏa tuyến và nhã ba biên giới Tây Nguyên giữa người lính VNCH và địch quân, sáng tác Biên Cương Hành vào tháng 5 thời điểm đó. Tác giả vừa tả cảnh nơi chốn biên cương với núi rừng, khí hậu khắc nghiệt, núi, đá, đất chết mà là nơi giao tranh khốc liệt! Đây là bài “hành” dài nhất với 66 câu thơ. Đăng trên tạp chí Văn vào mùa thu 1972.
“Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
Mùa khô tới theo chân thù địch
Ta về theo cho rậm chiến trường…
… Đây biên cương, ghê thay biên cương
Núi tiếp rừng, rừng tiếp khe truông
Hãi hùng chưa trời hoang mây rậm
Mùa mưa về báo hiệu tai ương
Quân len lỏi dưới tàn lá dữ
Lá xôn xao xanh mặt hoảng hồn
Sát khí đằng đằng rừng dựng tóc
Ma thiêng còn ngán lũ cô hồn…
… Đây biên cương, ghê thay biên cương
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu
Rừng núi ơi ta đến chia buồn…
… Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về thân cạn máu khô xương
Ngày về hôn lễ hay tang lễ
Hề chi buổi chinh chiến tang thương
Hề chi kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương”.
Trong bài viết của Nguyễn Lệ Uyên, bạn thân với Phạm Ngọc Lư: Sau vài lần nhuận sắc, Phạm Ngọc Lư gửi bản thảo cho tạp chí Văn. Ông thư ký tòa soạn Trần Phong Giao đọc bài lai cảo và không tiếc lời khen, cho đăng ngay vào Văn tháng 10.1972. Có thể nói đây là bài thơ hay nhất trong cuộc đời làm thơ của Lư, đến độ khi đọc xong bài thơ này, nhà thơ Du Tử Lê phải thốt lên: “Biên Cương Hành của ông, đã như một trận động đất lớn: Bất ngờ. Sửng sốt. Thốn buốt tâm can thế hệ”. Ngoài ra còn có bài Cố Lý Hành của Phạm Ngọc Lư sáng tác năm 1972.
Tại miền Nam Việt Nam, phổ biến nhất với Trường Sa Hành của Tô Thùy Yên. Trường Sa là quần đảo, tên tiếng Anh là Spratly Islands, đảo Trường Sa lớn trong quần đảo này ở Biển Đông.
Tháng 10 năm 1956, Sắc Lệnh số 143-NV, Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy. Năm 1973, 1974 Tiểu Đoàn 371 Địa Phương Quân, ra trấn thủ trên các đảo: Trường Sa, Nam Yết, Song Tử Tây, Sơn Ca, Sinh Tồn…
Tô Thùy Yên (Thiếu Tá Đinh Thành Tiên phục vụ tại Cục Tâm Lý Chiến) đặt chân đến Trường Sa, còn hoang vắng, viết bài thơ cho Trường Sa, chủ quyền lãnh thổ đã bao đời nhưng trong nỗi cô tịch, chỉ có một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân phân tán trấn giữ trên các đảo nên đảo Trường Sa với quân số chẳng có bao nhiêu!
Trường Sa Hành đăng trên tạp chí Văn năm 1974.
“Trường Sa! Trường Sa! Đảo chếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề.
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi…
… Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỷ,
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên…
… Ta ngồi bên đống lửa man rợ,
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi,
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp…
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi...
… Ôi! Lũ cây gầy ven bãi sụp,
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh,
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh.
San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch”.
Và, có lẽ bài “hành” của Trần Văn Sơn khi nhìn lại cuộc chiến thảm khốc. Trong bài viết Trần Văn Sơn & Nửa Thế Kỷ Với Hành Trình Thơ của tôi vào tháng 8/2021 khi tác giả ấn hành tập thơ Hồi Sinh. Trần Văn Sơn sinh trưởng ở Phan Thiết, Bình Thuận. Năm 1968 nhập ngũ ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, phục vụ tại tiểu khu Gia Định và sau đó thuyên chuyển về đơn vị Địa Phương Quân tiểu khu Bình Tuy. Bài thơ nầy sáng tác khi tị nạn tại Mỹ nhưng đề cập đến thời điểm vào tháng Tư năm 1975. Tác giả ghi tặng hại vị Tiểu Đoàn Trưởng Lê Phi Ô và Lê Hùng. Với 36 câu, trong đó với hình ảnh:
“Lui binh lui binh hề lui binh
Tướng giỏi nghiến răng nén bất bình
Chiến trận bao năm chưa chiến bại
Một ngày buông súng quỷ thần kinh!...
… La Ngà, Gia Huynh địch vây khổn
Tánh Linh tràn ngập bầy kên kên
Quan nghinh đầu súng lính đoạn hậu
Sống chết trời cho súng nổ rền…
Người lính ca trường vuốt mắt bạn
Cắn nát môi nuột lệ rưng rưng
Hỡi ơi! Chiến trận anh hùng tận
Vùi thấy đánh đấu gốc bằng lăng…
…Tiểu đoàn ba trăm còn ba mươi
Mất tích thương vong lính tả tơi
Tận nhân lực anh hùng mạt vận
Xuôi đời theo vận nước nổi trôi!
Lui binh lui binh hề lui binh
Tướng giỏi nghiến răng nén bất bình
Trăm trận ra quân trăm trận thắng
Tháng Tư bẽ súng đất trời kinh!”
Nếu các bài thơ như Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác, Còn Chơi của Tản Đà, Đi Cống của Nguyễn Nhược Pháp, Hổ Nhớ Rừng của Thế Lữ, Tây Tiến của Quang Dũng, Phương Xa của Vũ Hoàng Chương, Xương Khô của Chế Lan Viên, Bài Ca Man Rợ của Đinh Hùng, Anh Hùng Tận của Tô Thùy Yên, Đồi Xưa của Trần Hoài Thư, Thập Tự của Du Tử Lê…
Với thể thơ “hành” như đã trích dẫn ở trên cũng trải dài khoảng hai thế kỷ, rất ít so với các thể thơ khác trong thi ca Việt Nam rất phong phú và đa dạng nhưng nói lên giá trị của nó.
Little Saigon, tháng 5, 2026
Vương Trùng Dương
VTrD Hanhthica.docxFaifo Cowboy Vương Trùng Dương.docx
Faifo Cowboy Vương Trùng Dương.docx
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét