1.Từ truyền thuyết Sơn Tinh-Thủy Tinh đến sự hìnhthành châu thổ miền Bắc. Châu thổ sông Hồng, chừng 10 000 nămvề trước, vào thời kỳ địa chất Holocen, vẫn còn là một vịnh biển cạn. Thựcvậy, các châu thổ này đã từng trải qua nhiều lần: khi biển tiến,-lúc đó diệntích đất châu thổ bị thu hẹp lại-, khi biển lùi,-lúc đó diện tích đất châu thổ nới rộng ra. Quá trình biển tiến (transgression), biển lùi (régression) như vậy không phải chỉ xảy ra một lần mà nhiều lần, ăn khớp với bốn thời kỳ băng hà và bốn thời kỳ tan băng trong kỷ thứ tư về địa chất (quaternary geology) của hành tinh ta đang sống. Kỷ thứ tư là kỷ mới nhất về địa chất vàcũng là kỷ quan trọng nhất vì chính loài người đã hình thành trong kỷ này.
Tưởng cũng cần nhắc lại trong địa chất học, người ta thường phân biệt bốnthời kỳ băng giá:thời kỳ thứ nhất gọi tên là Günz (từ 600 000 năm đến 540 000 năm trước),
thời kỳ thứ hai có tên là Mindel (từ 480 000 năm đến 430 000năm),thời kỳ thứ ba là Riss (từ 240 000 năm đến 180 000 năm trước) và cuối cùng có tên là Würm (từ 120 000 năm đến 10 000 năm trước). Như vậy, mỗi thời kỳ băng giá lâu đên cả trăm ngàn năm và giữa hai thời kỳ băng hà lại có một thời kỳ tan băng, nước băng hà tan chảy ra, như thời kỳ tan băng thứ nhất gọi là Günz-Mindel, thời kỳ tan băng thứ hai gọi là Mindel-Riss, thứ ba là Riss-Würm.
Vào các thời kỳ băng hà thì nước co cụm lại trong các tảng băng dày nênnước biển co rút lại: đó là lúc biển lùi (biển rút, biển thoái). Ðặc biệt vàocao điểm của thời kỳ băng hà lần cuối cách nay 20 000 năm, toàn bộ miềnBắc nước Mỹ, toàn xứ Canada ngày nay, vùng Siberia, Bắc Trung Quốccũng như Bắc Âu kể cả Pháp, Ðức... đều bị băng giá bao phủ, bề dày cả chụckm! Lúc đó, mực nước biển sụt xuống 120 mét (-120 m) so với cao độbiển hiện nay (0 mét). Ðó là thời điểm người Bắc Á Châu lội qua eo biểnBehring vốn nối liền Siberia và Alaska và là tổ tiên các bộ lạc đầu tiên địnhcư xứ Canada này. Vào thời kỳ đó, vịnh Thái Lan còn là đất liền, thềmSunda giữa Indonesia và đồng bằng sông Cửu Long là đất liền nên nhiều cưdân vùng Indonesia hiện nay có thể vượt qua thềm Sunda để sinh sống: đólà những cư dân đầu tiên ở bán đảo Ðông Dương (Pháp gọi là Proto-Indochinois). Người ta tìm thấy hiện nay ở cao độ -120 mét, trên mọi đại dương, những di tích các bờ biển cổ với nhiều rặng san hô.
Cách nay chừng 17 hay 18 000 năm, các tảng băng bắt đầu tan nên mựcmước biển dâng cao tương đối nhanh chóng ( biển tiến). Ở Âu châu ,thời kỳbiển tiến ở giai đoạn này gọi là thời kỳ biển tiến Flandrian (transgressionflandrienne)-cách nay 11 000 năm - thời Holocen sớm-, mực nước biển còn ở mức–55 mét.-cách nay 6500 năm đến 5 000 năm,-vào thời Holocen giữa-, mực nướcbiển còn ở mức -20 mét và từ từ tiến lên, đạt mực biển như hiện nay 0 métvào khoảng 5 000 năm trước và vẫn tiếp tục dâng cao hơn 4-5 mét so với mức nước biển hiện tại.
Khi biển tiến vào châu thổ thì người Việt cổ phải di cư lên vùng cao hơnnhư vùng Trung Du (Phú Thọ, Hoà Bình..) và chính vùng này là nơi các vuaHùng dựng nước. Biển tiến vào châu thổ kéo theo sự lắng tụ các trầm tíchbiển ở các trũng thấp, và cùng với phù sa nước sông, hình thành môi trườngnước lợ (brackish water) với rừng thực vật ngập mặn mọc trên đó, tạo thêmđiều kiện khiến châu thổ chóng trầm tích hơn.-sau đợt biển tiến như trên, biển mới bắt đầu thoái, mực nước biển rút dần,tạo thành những bờ biển mới, hình thành các ‘giồng’ ( parallel beach ridges )
(như ở Bến Tre, Trà Vinh) chạy song song với bờ biển hiện nay, các đầm,các ‘phá’ (lagoon) cũng như những di tích củ như hàu, sò .. Các đồng bằngnày như chúng ta thấy được ngày nay chỉ được hình thành và được conngười chiếm lĩnh, khai thác vào lúc đó.Truyền thuyết Sơn Tinh Thuỷ Tinhcủa nước ta cũng nằm trong các hiện tượng địa chất vừa nói:Thủy Tinh khivươn lên tận núi (biển tiến) đuổi theo Sơn Tinh và biển lùi, tạo nên châu thổ,tức Sơn Tinh thắng Thủy Tinh ! Nhưng đó là chuyện địa chất xưa thật làxưa, nhớ mấy cho vừa .Nhiều vùng ven biển thuộc tỉnh Thái Bình, NinhBình chỉ cách đây vài trăm năm vẫn còn là biển nhưng với qúa trình bồi tụ,các bãi lầy ven biển được phù sa bồi đắp dần, cọng thêm sức chinh phụcbiển bằng cách quai đê lấn biển, đắp đê ngăn nước mặn, lấp trũng, khai phánhư vài vùng duyên hải Hoà Lan đã làm.Làng Kỳ Bá ở ven thị xã Thái Bìnhngày nay, vào thế kỷ thứ 10, còn là cửa biển nên có tên gọi là “Kỳ bố hảikhẩu”, Phố Hiến (thị xã Hưng Yên ngày nay) xưa kia là cửa biển, buôn bánsầm uất nên có câu truyền tụng: “Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiế”. Vì mới thành hình nên nhiều nơi vẫn là sình lầy, ao tù. Sử sách và ký ức truyền lưubao đời người kể rằng vào thời hưng thịnh, thế kỷ XVII - XVIII, thươngcảng này đã từng đón bao thuyền buôn đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Bồ Ðào Nha, Pháp và xứ Ðàng Trong…
Ðồng bằng sông Hồng dễ bị lụt nên từ đời nhà Lý, đã xây đê trị lụt. Và đêđiều cũng là một nét đặc thù của văn hoá miền Bắc vì miền Trung vàmiền Nam không có.Hệ thống đê điều toàn vùng đồng bằng đã khiến chosự bồi đắp không đồng đều; thực vậy, bề mặt nhiều nơi còn lồi lõm. Nhữngvùng vỡ đê củ thì nước lụt tràn vào đem theo nhiều trầm tích phù sa và làmxáo trộn địa hình: nơi bị đào khoét, nơi bị lấp vùi, nơi thì toàn cát.Từ lúc xâyđê, sông Hồng đổ phù sa trên cửa biển, thay vì trên đất liền, do đó trongvùng châu thổ vẫn còn nhiều nơi trũng như tại Hà Bắc và Hà Nam Ninh: đâycòn gọi là vùng chiêm trũng, vì vùng trũng này trước kia chỉ trồng được lúachiêm, vào mùa nắng, nghĩa là trồng tháng 12 và thu hoạch tháng 5, trướckhi mưa xuống. Sông Hồng chuyên chở nhiều lượng phù sa nên tốc độ bồilấp các vùng duyên hải như Kim Sơn, Tiền Hải rất nhanh, có nơi mỗi nămbồi ra biển từ 80-100m.
Sau đây là vài con sông chính châu thổ sông Hồng. Sông Hồng là consông lớn nhất ở Bắc bộ, bắt nguồn từ Vân Nam và chảy qua nước ta ở LaoKai đầu tiên và do Sông Ðà và Sông Lô họp lại.Sông Lô lại do Sông Chảyvà Sông Gầm tạo nên.Trên sông Chảy có nhà máy thủy điện Thác Bà còntrên sông Ðà có nhà máy thủy điện Hoà Bình, công suất gần 2000 MW.
Từ Việt Trì trở ra biển, sông Hồng có những phân lưu như sau:Tả ngạn có các sông Ðuống và sông Luộc. Sông Ðuống nối sông Hồng vớisông Thái Bình đã được nhà thơ Hoàng Cầm thi vị hoá trong bài thơ “Bênkia sông Ðuống” (1948):Em ơi buồn làm chi,Anh đưa em về sông Ðuống,Ngày xưa cát trắngphẳng lìhoặc:Ai về bên kia sông Ðuống,Có nhớ từng khuôn mặt búp sen,Những côhàng xén răng đen,Cười như mùa thu tỏa nắng
Phụ lưu chính phía hửu ngạn của sông Hồng Hà là sông Ðáy.Sông Ðáy đượcnhắc đến trong thơ của Quang Dũng:Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn,Lênnúi Sài Sơn ngó lúa vàng,Sông Ðáy chậm nguồn qua Phủ Quốc,Sáo diềukhuya khoắt thổi đêm trăng(Mắt người Sơn Tây)
Sông Nam Ðịnh và sông Phủ Lí nối sông Hồng và sông ÐáỵSông Thái Bình do 3 sông là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầuhọp nên ở ngang Phả Lại và đổ ra biển: sông Lục Nam bắt nguồn từ LạngSơn, thượng lưu lòng hẹp, gồ ghề, lắm thác ghềnh nên tốc độ dòng chảymạnh, sông Thương cũng phát nguyên từ Lạng Sơn, còn sông Cầu bắtnguồn từ vùng Bắc Cạn.Sông Kì Cùng (thị xã Lạng Sơn nằm trên sông Kì Cùng) gồm có sông KìCùng, sông Bắc Giang, sông Bắc Khê.
Hai hệ thống sông Kì Cùng và sông Thương đã tạo nên giao thông đườngthủy khá quan trọng, chở nhiều cây tre, nứa, song, mây, gỗ, dược liệu và cáclâm sản khác đã theo thuyền bè về xuôi.Ngoài sông ngòi, còn có các hồ thiên nhiên như hồ Ba Bể (thuộc CaoBằng), hồ Cấm Sơn, hồ Khuôn Thần ở Hà Bắc ( hai hồ này thuộc huyệnLục Ngạn, rất rộng, chứa nhiều nước ngọt) nên có thể đóng góp nhiều chodu lịch cũng như dùng nuôi cá.Trong sông ngòi cũng như tại các ô trũng, cónhiều tài nguyên thủy sản như cua, ốc, tôm, cá..
Người Việt cổ dĩ nhiên không sống ở vùng thuở đó còn là biển mà sống ởvùng đồi gò, trong các hang động đá vôi vùng trung du hiện nay: vùngrừng núi Hoà Bình là quê hương của văn hoá Hoà Bình lâu đời và nổi tiếng,đã để lại nhiều di chỉ như lưỡi rìu, lưỡi dao bằng đá, thuộc thời Ðồ đá cũ(Paléolithique) sang Ðồ đá mới (Néolithique), cách ngày nay 34 000 nămkéo dài đến 2000 năm trước Công nguyên.Tiếp nối văn hoá Hoà Bình (văn hoá đồ đá) là văn hoá Ðông Sơn cáchđây 4000 năm (văn hoá đồ đồng) và còn để lại nhiều công cụ bằng đồng nhưcác trống đồng, thuộc thời đại Hùng Vương dựng nước đầu tiên tại đấtPhong Châu (Vĩnh Phú), nơi hội tụ của sông Hồng và các chi lưu lớn nhấtnhư sông Ðà, sông Lô đã để lại di tích nhiều trống đồng, trên đó đã khắchình người giã gạo, cấy lúa. Thực vậy, cây lúa đã được trồng từ lâu; ngườiLạc đã biết sử dụng nước thủy triều lên xuống để cấy lúa.
2.Vài nét đặc thù của văn hoá miền Bắc.
a/Bèo hoa dâu.Văn chương hạ giới rẽ như bèo.Thi sĩ Tản Ðà có lầnđã than vãn như vậỵ. Bèo hoa dâu sử dụng như phân bón ruộng.Trong lá bèohoa dâu(Azolla) có chứa tảo lam Anabaena azollae có men nitrogenaza cốđịnh nitơ tự do của khí quyển và chuyển thành nitơ hữu cơ.Nông dân còn cólễ hội cổ truyền về bèo dâu,ở vài nơi tỉnh Thái Bình,có nghề ương bèo hoadâu;nhiều nơi đổ về đây mua bèo giống để đem bón ruộng nhà:Lúa chiêmmà thả kín bèo,Như con nhà nghèo trời đổ của chob/Dâutằm.Trên các đất phù sa ven sông miền Bắc,nhiều nương dâuxanh ngắt mà ít gặp ta.i miềnTrung.Dâu cho lá nuôi tằm,tằm làmkén;kén cho tơ;tơ dệt lụa;ngành tầm tang rất phồn thịnh trước đây vàđã sinh ra nhiều ngành nghề khác nhau.Mỗi năm nhiều làng có hộicầu tằm,cướp kén cầu mong sản phẩm lá dâu-con tằm-sợi tơ tươitốt.Nghề tầm tang ở nông thôn cần nhiều lao động trong gia đình:-làmruộng ăn nằm,chăn tằm ăn đứng; ngành tầm tang đã để lại trong vănhọc Việt rất nhiều vần thơ tuyệt vời như:-Ngàn dâu xanh ngắt mộtmàu(Chinh phụ ngâm)
-Trải qua một cuộc bể dâu (TruyệnKiều)-Năm năm tiếng lụa xe đều,Những ngày lạnh rớt gió vèo trong cây (thơ Lưu Trọng Lư).Một cô gáitrồng dâu bên bờ sông đã trở thành Ỷ Lan phu nhân.c/Rau muống.Vì nhiều ao hồ nên rau muống mọc khắp ruộng,ao. Raumuống vừa ăn lá,vừa làm thức ăn chăn nuôi.Ngoài Bắc,rau muống cũng phổthông như giá trong Nam.d/Cây ăn trái ôn đới như mận,lê,táo Sapa, đào và cây á nhiệt đới nhưvải (letchi),như hồng mà ở miềnTrung, miền Nam không có.
g/Cà.Cà và rau muống là 2 thức ăn thông dụng trong bữa cơm:Anh đi anhnhớ vợ nhà,Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương hoặc:Công anh làm rểChương Ðài,Ăn hết mười một mười hai vại cà,Giếng đâu thì xách ănra,Không thì anh chết vại cà nhà em.Cà có nhiều loài nhưng cà đây là càpháo dùng để muối.
h/rau sắng.Ngoài ra,phải kể đến 1 loại rau mà Tản Ðà đã ghi trong câuthơ:Muốn ăn rau sắng chùa Hương,Tiền đò ngại tốn,con đường ngạixa,Mình đi ta ở lại nhà,Cái dưa thì khú cái cà thì thâm.Sau khi bài thơ đượcđăng trên báo thì mấy hôm sau,có nhận một bưu kiện gửi đến trong đó cómột bó rau sắng chùa Hương còn xanh tươi kèm thêm mảnh giấy với 4 câuthơ:Kính dâng rau sắng chuà Hương,Tiền đò đỡ tốn,con đường đỡ xa,Khôngđi thời gửi lại nhà,Thay cho dưa khú cùng là cà thâm.Vậy cây rau sắng làgì?Tên thực vật là Meliantha suavis thuộc họ Rau sắng(Opiliaceae) cónhiều trong vùng của chùa Hương miền Bắc.Tại sao c là suavis?là vì ládùng nấu canh ăn rất ngọt (suave:ngọt).Chùa Hương được bất hủ hoá quanhiều bài thơ được phổ nhạc.Còn dưa khú trong bài thơ trên cũng còn gặp
trong ca dao sau đây,ám chỉ đến cảnh vợ già,chồng trẻ:Ai làm cho cải tôingồng,Cho dưa tôi khú,cho chồng tôi chê, Chồng chê thì mặc chồngchê,Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ!.Dưa khú nấu với cá trê là món ăn rất cábiệt miền Bắc.
h /Thịt cầy. Nhiều người vẫn lầm tưởng con cầy là con chó. Thực ra, concầy là một loài thú hoang mà tên khoa học là Viverricula malaccensis (cầyhương), nặng 4-5 kg.Cày hương có lông xám vàng với những cụm lôngmàu sẫm dọc thân thường ở theo các bụi tre, rừng rậm..Cày hương có mùi xạthơm như mùi cơm nếp.Ngày nay vì không còn con cầy nên người miền Bắcăn thịt chó. Ðây cũng là một cá biệt ở miền Bắc hiên đại với nhan nhản quánthịt chó dọc đường từ Vĩnh Phú đến Hà Nội; sau này với cao trào di cư năm1954 vào trong Nam nên mới xuất hiện nhiều quán “nai đồng quê “ (để chỉthịt chó) ở Gò Vấp, Hóc Môn, Hố Nai, Gia Kiệm...i/cây cọ (Livistona saribus, họ Arecaceae) có nhiều ở miền Bắc, vùngTrung Du như Phú Thọ, Yên Báy. Lá cọ dùng lợp nhà, làm nón, chắn vách,làm chổi, gầu múc nước, làm quạt. Búp cọ khâu nón, áo tơi. Thân cọ làmcột nhà, cột điện, máng nước, máng lợn..Cuống cọ làm lạt buộc, rào dậuhoặc thay tre đan rọ lợn, lồng gà.v.v.Cây cọ cũng là đề tài các ca dao về tìnhyêu:-Ði đâu nón chẳng đội đầu,Lại đây hai đứa lấy tàu cọ che -Nón ai nónbạc nón vàng,Nón em tàu cọ che ngang mặt trời;-Nón em đã có lờithề,Chàng mà lấy nón em về sao đangj /cây cói mọc hoang trên nhiều đầm lầy ở Ninh Bình, Nam Ðịnh và dùngđể dệt chiếu. Cây cói cũng đã để lại nhiều dấu ấn trong văn học Việt Nam.Khi Nguyễn Trãi hỏi Thị Lộ:Ả ở đâu nay bán chiếu gon,Chẳng hay chiếuấy hết hay còn, Xuân xanh nay độ bao nhiêu tuổi,Ðã có chồng chưa đượcmấy con thìThị Lộ,một cô gái 16 tuổi đã trả lời:Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon,Cớ chi ông hỏi hết hay còn,Xuân xanh nay độtrăng tròn lẽ, Chồng còn chưa có có chi conk/ThuốcLào.Thuốc Lào, theo Vân Ðài Loại Ngữ của Lê Qúi Ðôn dodân tộc Liêu ở biên giới Hoa Việt đưa vào Viet Nam triều vua Lê ThầnTông. Thuốc Lào do cây thuốc lá Nicotiana Rustica , thân cây thấp, lá to vàdày hơn so với cây thuốc lá.Thuốc lào chứa nhiều nicotin nên độ say rất cao.
Do đó những người đứng gần bên người hút thuốc cũng thấy ngây ngây:Thuốc lào chồng hút vợ say,Thằng con châm đóm lăn quay giữa nhàCây thuốc này có nhiều vùng Hải Dương, Nam Ðịnh. Họ lấy lá phơi chokhô rồi thái nhỏ mà đóng thành bánh rồi mới bán cho người ta hút. Hútthuốc Lào phải có bình điếu (làm bằng sành, sứ, tre, gỗ ..)và xe điếu (bằngrễ trúc). Khi hút, phải đổ nước vào bình, cắm xe vào bình điếu, để thuốc,châm lửa và đưa xe kề đến tận miệng để hút; thuốc này vì chứa nhiều nicotinnên phải hút qua nước và xe điếu rất dài để giảm bớt nồng độ nicotin khi hút.
Nhớ ai như nhớ thuốc Lào,Ðã chôn điếu xuống lại đào điếu lên Thuốc Lào là thú tiêu khiển của người bình dân:Thú vui chỉ điếu thuốc lào, Thở ra cũng thích hút vào cũng hay,Khói thơmthấu chín tầng mây, Ngọt bùi quên cả đắng cay sự đờiNgười nghèo thuở xưa có câu: Giàu thì cơm cháo bổ lao, Nghèo thì đánhđiếu thuốc lào cầm hơiThả hồn đê mê theo khói thuốc để quên sự đời khi nghe tiếng ròn rã củatiếng kêu nước điếu vào nước trong ống điếu cuộn lên cuộn xuống do thôngqua nõ điếu mà phát ra thanh âm to nhỏ, cao thấp, nhanh chậm.l.Cà cuống có nhiều trong ruộng nước; đó chỉ là một loài sâu Lethocerusindicus, có khả năng tiết ra từ các túi dưới cánh một chất mùi rất cay, thườnglàm gia vị ăn với bánh cuốn.Ca dao sau đây có nhắc đến cà cuống:Con còchết rũ trên cây,Cò con mở lịch xem ngày làm ma,Cà cuống uống rượu lađà,Chim ri ríu rít bò ra chia phần, Chào mào thì đánh trống quân, Chimchích cởi trần, vác mỏ đi rao. Ca dao này nói lên khi người chết vừa nằmxuống, đã có dân làng rủ rê nhau tham dự để chia nhau ăn uống.m.lễ hội. Nhiều lễ hội trong dân gian như hội chùa Hương, hội đền Hùng,hội Thánh Gióng, hội lên đồng thờ mẫu .Lễ hội là một tổng thể gồm nhiềuyếu tố lễ và hội, có phần thiêng liêng và phần đời thường, có cả ước mongvà hiện thực. Lễ hội là sơi giây tâm linh liên kết sức mạnh của làng xã.Vìmiền Bắc cư dân phải đương đầu với những trở ngại thiên nhiên như thiêntai, hạn hán, lụt lội nên làng nào cũng có đền, miếu, am để cầu khẩn cácđấng thiêng liêng phù trợ.Hội đền Hùng vào mùa xuân để nhớ ơn Tổ theocâu ca dao: Dù ai đi ngược về xuôi,Nhớ ngày giổ Tổ mồng mười tháng 3Tín ngưỡng thờ mẫu tiếp thu Ðạo giáo có tục lên đồng hầu bóng. Nhiềunghi lễ liên quan đến việc gieo hạt, làm đất, cầu mùa; nào là lễ cầu mưa, lễcầu tằm cướp kén, lễ xuống đồng v.v.n/ ruộng bậc thang cũng là một đặc trưng hình thái của miền Bắc màmiền Trung và miền Nam không có .Có thể gặp loại ruộng bậc thang ở caonguyên đá vôi Ðồng Văn, tỉnh Hà Giang, ở Sơn La cũng như ở huyện MùCăng Chải tỉnh Yên Bái ở đó người Mông ( người Mèo) trồng lúa trên đấtrất dốc, nhưng họ đã thiết lập loại ruộng này nhằm tận dụng nguồn nướcsuối và nước mưa chảy từ trên cao xuống. Kỹ thuật xẻ nước của người Môngtheo kiểu từ bờ ruộng trên xuống bờ ruộng dưới không liền mạch để hạn chếtối đa mưa lũ, tạo dòng chảy mạnh làm vỡ bờ và rửa trôi đất màu.n/ các điệu hát như quan họ (quan họ Bắc Ninh), hát trống quân, hát chèo,hát ả đào cũng là những nét cá biệt trong văn hoá châu thổ sông Hồng.
Trong các điệu hát quan họ có xen lẫn nhiều loại lý, ngâm, kể truyện, ru con,cò lả trống quân, chèo, tuồng,v.v..Trong một bài hát quan ho ïcó nhiều tiếnláy đi láy lại, tiếng đưa hơi, tiếng đệm nên lời ca lên bổng xuống trầm:Trèolên quán dốc,Ngồi gốc (ới a) cây đa,Rằng tôi lý (ới a ) cây đa(Rằng tôi lới ới a cây đa)Ai đem (ới a tínhtang tình rằng) Cho đôi mình gặp,Xem hội cái đêm hôm rằm0/ hội chọi trâu. Ở Ðồ Sơn, gần Hải Phòng, có hội chọi trâu:Dù ai buônđâu bán đâu,Mùng chín tháng tám chọi trâu thì về,Dù ai bận rộn trămbề,Mùng chín tháng tám nhớ về chọi trâu.
Và vào ngày 9-8 âm lịch hàng năm, từ 1990 đến nay đã tổ chức lại hội chọitrâu.Trung bình, dân phải đi các vùng xuôi, miền ngược để mua trâu chọisau khi mua được trâu, họ rước về làng làm lễ; sau đó phải huấn luyên chotrâu chạy cho cơ bắp rắn chắc, cho uống nước tinh khiết, tẩm bổ; mỗi tuần,còn thuê vài chục người đến khua chiêng gõ mỏ cho trâu quen không khí hộihè. Sau vài tháng như vậy, trâu dự vòng loại ngày 8-6 âm lịch và lọt quavòng loại sẽ được chăm sóc kỹ hơn để dự hội chọi.Có đánh cá độ cuộc nênngày nay trở thành sát phạt.p/ Rượu sâu chít.Những vùng núi có cây chít, một loại cỏ lau mà người talấy bông làm chổi (thường gọi là chổi đót). Riêng ở Mường Tè, Lai Châu,cây chít không những cho bông làm chổi mà còn cho một loại ấu trùng gọi là“sâu chít” để ăn và ngâm rượu.Tháng 3-4, bướm đẻ trứng vào đọt cây chít,nở ra con ấu trùng màu trắng, dài 5-6 cm, có chân, có khúc, thân bằng cọnglá khoai lang. Người La Hủ, Hà Nhì, Thái ở Mường Tè mang gùi lên núihái đọt cây chít về lấy sâu ngâm rượu bán. Một chai rượu chất lượngthường là chai ngâm 50 con sâu. Cỡ 15 ngày sau rượu chuyển sang màuvàng là uống đưọc.
q/Tranh dân gian ÐôngHồ. LàngÐông Hồ thuộc huyện Thuận Thành,tỉnh Bắc Ninh,nằm sát bờ Nam đê Sông Luống và làng này còn giữgìn đuợc các di sản văn hoá cổ xưa của vùng Bắc Ninh.Tranh ÐôngHồ gà lợn nét tươi trong,Màu dân tộc sáng hừng trên giấy điệp(thơHoàngCầm “Bên kia song Ðuống”).Tranh này nổi tiếng vì làm từnhững nguyen liệu sẵn có trong thiên nhiên:giấy là giấy “dó”, mặt rấtmịn,được quét lên lớp điệp hoặc còn lướt them nước đỏ của gỗvang,hay vàng của hoa hoè,than lá tre,sò điệp(maiconđiệpngoàibiểnchomàutrắnglónglanh),màusơntừđấtđa’củađồinúi.
.
3.Kếtluận.Miền Bắc là cái nôi của dân tộc Việt Nam;vì đó là nơi phátxuất của người Việt nên văn hoá có nhiều dấu ấn rất đặc thù;tuy nhiên trảiqua cuộc Nam tiến của dân tộcViệt kéo dài nhiều thế kỷ,văn hoá trên đãthẩm thấu với các nền văn hoá khác như văn hoá Chàm,văn hoá Khmer từđiệu nhạc đến thức ăn,cách ăn mặc,cách cư xử,tư duy..do đó đã biến đổi,hoànhập,giao lưu.Với qúa trình đô thị hoá như ngày nay, với kỷ nguyen thôngtin rút ngắn không gian và thời gian,với sự toàn cầu hoá,nền văn hoá ViệtNam cũng dần dà biến dạng như bao xã hội khác,từ ẩm thực đến âmnhạc,ngôn ngữ,cách giao tiếp,mỗi thuộc tính văn hoá đều chứa đựng tính laighép nghĩa là đa diện, giao diện, liên ngành bên trong thay it nhiều.
Thái CôngTụng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét