Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2026

Hiểu biết thêm với GS Huỳnh Chiếu Đẳng


Kính thưa quí bạn
Hôm nay đổi đế tài tôi gởi các bạn hai bài nghiên cứu của hai học giả nổi tiếng in trong một tờ báo Xuân năm 1965.
1. Tiểu Thuyết Trung Hoa. Nguyên tác: Lâm Ngữ Đường. Dịch giả: Nguyễn Xuân Dâng.
2. Tiếng « Khấu » Trong Từ-Ngữ « Sân - Khấu » Nghĩa Là Gì ? Lê-Ngọc-Trụ (Giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học Văn khoa Saigon. Rất thiết tha những gì thuần túy tốt đẹp của Việt-Nam.)
3. Góc đố vui và lời giải
HCD 18-Jan-2026
Chữ nhỏ khó đọcm các bạn giữ key Ctrl cùng lúc lăn bánh xe trên mouse để zoom cho chữ và hình to ra.
<!>

Xuan_Viet Nam_1965 (microfilm).pdf 64401< == click để xem hay right click để download
Tờ báo Xuân nầy xuất bản năm 1965 được lưu trử dưới dạng microfilm trong một trường Đại học Mỹ. Download link trên nếu thích. Còn mấy mươi tờ báo Xuân ngày xưa nơi đây Báo Xuân
Dưới đây tôi dùng OCR (Optical Character Recognition) viết lại thành dạng text cho dễ đọc. Bài dài quá tôi không dò hết được từng chữ máy làm OCR sai. Bạn nào nghiên cứu hay tham khảo xin đọc bản in chánh dạng PDF download từ link trên.
TIỂU THUYẾT TRUNG HOA
Nguyên tác: LÂM NGỮ ĐƯỜNG
Dịch giả: NGUYỄN XUÂN DÂNG

Tiểu thuyết gia ở Trung quốc thường có 1 lối tâm lý đặc thù, họ không sáng tác tiểu thuyết là vì Nho giáo, làm cho kẻ không đáng kể và sợ các hiện đại phương tây bài xích nữa, cho nên họ thường đặt tên mà không dám lộ cho ai biết. Xin lấy việc gán đầy làm tỉ dụ : ông Thị Nhị Minh về thế kỷ thứ 18 viết 18 quyển « Đã tấu bộc ngôn ». Vẫn nói tiểu thuyết là thật hay có nhiều ý kiến trác tuyệt cao cùng những tư tưởng lớn, cũng giống lối ký chuyện truyền thuyết, văn chương ông cũng giống như những văn chương điển hình của các văn nho gia chính thống hiện còn ghi chép trong bộ Hạ Mậu Tư toàn tập. Tuy cũng là soạn giả cuốn « Đã tấu bộc ngôn » không dám đề tên người soạn, nhưng ta thấy chính ông là soạn giả cuốn « Đã tấu bộc ngôn » vì căn cứ trên những văn chương trọn vẹn và toàn bộ của sách mà chứng minh thì rõ. Mùa thu năm 1890 đăng trên một tạp chí văn học, bộ Hạ Mậu Tư toàn tập, khiến cho ai cũng được lưu truyền mãi mãi, không biết vì tánh tò mò hay là không muốn đem bộ tiểu thuyết này vào trong tạp chí, kỳ thực bộ tiểu thuyết này là tác phẩm văn học rất hay của Hạ Quân. Lại như bộ « Hồng lâu mộng » mãi đến năm 1917 mới do lỗi khắc chương các bác sĩ Hô Chân xác nhận tác giả là Tào Tuyết Cần. Ông là trong các trí thức gia tàn dư của triều đại cũ Trung quốc và có thể nói là Tân văn đại gia duy nhất không thiên tuyệt hẳn (nói về lối văn và bạch thoại). Đến nay chúng ta vẫn chưa hiểu rõ tác giả Kim Bình Mai là ai. Và đến nay chúng ta cũng chưa quyết định trong 2 người Thị Nhị Am cùng La Quán Trung, ai là tác giả chính của bộ Thủy Hử.

Đoạn mở đầu kết của bộ « Hồng lâu mộng » đó là 1 thứ đặc trưng trong thái độ đối với tiểu thuyết, ta hãy xem họ nói ra sao :
“Nói chuyện lúc bà Nữ Oa luyện đá vá trời, bà đã luyện thành 36501 khối đá (ngoan thạch cao 12 trượng, rộng 24 trượng ở tây khe núi thuộc Đại hoang sơn). Bà Nữ Oa chỉ dùng hết 36500 khối, còn thừa 1 khối bỏ dưới Thanh canh phong. Sau khối đá này được 1 tăng 1 đạo mang xuống hồng trần 1 chuyến, lại trải qua không biết mấy đời mấy kiếp, nhân có Không Không đạo nhân đem tạo điêu đầu tiên, nên đi qua dưới Thanh canh phong. Vô kể Đại hoang sơn này, chợt thấy 1 khối đá lớn, nét chữ trên mặt rất phân minh, bên chép rõ ràng, kể rõ ngọn xuống, chốn đâu cùng những việc vân vật trong gia đình, cảnh nhân tình như thế cả. Không Không đạo nhân xem qua 1 lượt được biết khối đá này có chép lại hiện sao lại từ đầu đến cuối đem truyền cho người đời. Sau này nhân Tao Tuyết Cần xem xét trong 10 năm ở Điêu hồng hiên thêm bớt 5 lần soạn thành mạc lục chia ra chương hồi và đề là « Hồng lâu mộng ». Trên đây tức là duyên do của bộ Thạch đầu ký.”

Thơ :
Đầy dẫy lời hoang đường
Một mớ lệ đau khô
Đều do tác giả si,
Ai hiểu mùi trong đó.
Đoạn kết thúc của câu này, chẳng ngay vào lúc hoạt kịch trong đời đến tối lúc rất bi thảm, khi mà vai chính Giả Bảo Ngọc gột đầu đi tu, cái linh tính đa tình thiện cảm của Bảo Ngọc đã trở lại nguyên hình khối ngoan thạch của bà Nữ Oa luyện khi xưa, mà vì Không-Không đạo nhân vừa nói lại gì sau dưới Thanh canh phong, ông nhìn thấy khối đá khắc chép bao nhiêu là câu chuyện nhân duyên kết quả, nhân lại soạn thành 1 bản, tìm đến Điêu hồng hiên trao cho Tao Tuyết Cần. Tao tuyết Cần cười nói : « Đã là giả cũng thơm ngon (lời nói quả mùa) nhưng không có cho nhân gian trái ngược. Vui được cũng 2, 3 bạn đồng chí, rượu say cơm no, rượu đã đến khuya, cũng tiêu khiển đôi chút, thì cần gì những bậc đại nhân hay tiên sinh mà để truyền cho đời. Cứ như cái lối tìm gốc xét nguồn xa người thì có khác gì kẻ khát vọng mà tìm không ? »
Không-Không đạo-nhân nghe xong ngửa mặt lên trời cả cười, ném bản sao xuống đất rồi lẳng lặng đi ra. Vừa đi ông vừa nói : « Quả nhiên là phù hoa hoang đường, không những tác giả không biết, sao giả không biết mà duyệt giả cũng không biết. Chẳng qua là văn chương chủ yếu mua vui mà thôi. Lại nghe nói người đời sau này bàn truyện ký này cũng có 4 câu thơ, để làm lời nói về duyên do của tác giả :
Nói đến chỗ đau khổ
Hoang đường thật đáng bi
Cuộc đời là cảnh mộng
Chớ nên cười người si »
Đây tuy là những câu nói hoang đường không thể tra xét vào đâu được, nhưng kể ra thật là cái động lòng người, bởi vì lại điểm lại thì tinh thần nhân vật trong chương này có chỗ hư thực và tìm vui thích mà ra. Sáng tác của họ hoàn toàn do động cơ sáng tác chân thành mà ra không phải vì danh vọng hay danh dự. Những người sáng tác tiểu thuyết không được đến giải thưởng hay danh dự mà còn vì sợ sáng tác tiểu thuyết nguy đến sinh mạng nữa.

Giang âm là quê quán của Thị Nhị Am, tác giả truyện Thủy Hử, đến nay vẫn còn lưu truyền một câu chuyện nói về Thị Nhị Am vì sao đã tránh khỏi sự nguy hiểm đến tính mạng. Cứ lối truyện thuyết thì Thị Nhị Am quả không hề ở vị trí đã biết trước những việc xảy ra. Nguyên lai trước đó ông không muốn làm quan với triều nhà Minh mà viết bộ tiểu thuyết này để tiêu khiển trong thời gian rỗi. Một hôm Chu thái Tổ cùng với Lưu Bá Ôn du hành đến Giang án. Lưu Bá Ôn là bậc đại học sĩ khôn ngoan, khi đó vì giúp nhà Minh có công, nên được triều đình coi vào bậc cột trụ. Bản thảo bộ Thủy Hử của Thị Nhị Am để trên bàn, không may bị Lưu Bá Ôn nhìn thấy. Bá Ôn với bút mực tài ba bỗng đọc thấy truyện sinh động ghê gớm nên lập tức tâu lên hoàng đế, nói rằng đây là chuyện có thể làm loạn lòng người. Thị Nhị Am bị bắt đem ra tra hỏi. Khi hỏi đến tác giả, ông giả vờ không biết chữ, chỉ nói là người chép thuê. Nhờ đó mới thoát chết. Cho nên có thể nói rằng : tiểu thuyết là một thứ văn chương nguy hiểm nhất.
Từ đó về sau tiểu thuyết ở vào hoàn cảnh không được coi là văn học chính thống. Những nhà nho chỉ coi tiểu thuyết là trò mua vui, không đáng kể. Nhưng vì vậy mà tiểu thuyết Trung Hoa mới có thể phát triển theo một hướng rất riêng, giàu sức tưởng tượng, nhiều tình cảm, nhiều sáng tạo, và cũng nhờ đó mà sinh ra những tác phẩm bất hủ cho đến ngày nay.

Theo lời bình luận của ký giả thì Hồng lâu mộng không hồ danh là một trong các tác phẩm vĩ đại của thế giới. Sự miêu tả nhân vật trong tác phẩm, nhân tình thấn thiết mà phong phú, đề tài cùng cố sự đều hoàn mỹ. Có thể xứng đáng với sự suy tôn sùng bái mà không hồ thẹn. Nhân vật của tác phẩm rất sống động so với bạn bè còn sống của chúng ta đối với chúng là còn thân cận thực tất khẩn thiết hơn, mà mỗi một nhân vật chỉ cần chúng nghe giọng điệu của lời nói là chúng ta đã có thể hiểu rõ là ai rồi. Tóm lại tác phẩm này đã cho chúng ta một câu chuyện cũ vĩ đại.
Dao đài, quỳnh quán một tòa Đại-quan-viên huy hoàng tráng lệ phú quí vinh hoa, một họ nhà quan đời đời trâm anh, bốn chị em gái cùng một cậu con trai lại thêm một người con gái có tư-dung diễm-lệ cùng sinh trưởng một nơi tóc tai cọ sát với những cảnh sinh hoạt vui chơi đùa giỡn; vài chục tì nữ rất mực thông minh, có kẻ tính tình ôn hòa nhã nhặn, có kẻ nồng nảy ngay thẳng, cũng có mấy người đem lòng luyến ái chủ nhân, cũng có mấy người tôi tớ không trung thành với chủ lại xen vào những vụ đánh ghen bêu xấu. Một vị lão thái gia cả năm chỉ mải lo việc quan ít khi ở nhà bao nhiêu công việc vật đều giao cho hai ba người con dâu nhưng cũng thu xếp đâu vào đấy cả. Một người thạo công việc, rất thông minh làm liều, đanh thép, là Phượng-Thư. Chủ động Gia-bảo-Ngọc là một cậu bé đang vào thời kỳ xuân tính phát động, vốn tính thông minh, linh lợi, thích len lỏi trong bọn phấn sáp. Cứ như trong truyện Gia-bảo-Ngọc ở trên cõi tiên sa xuống cõi trần trải qua kiếp vận để hiểu rõ tình duyên tức là nghiệp chướng trong cõi đời này. Cách sinh hoạt của Gia-bảo-Ngọc cũng giống như những đứa con một của những nhà đại gia ở Trung-Quốc, được săn sóc nuông chiều hết sức, hơn nữa là sự nịnh ái của bà nội. Bà nội là một vị lão thái thái uy quyền rất cao trong gia tộc. Nhưng Gia-bảo-Ngọc cũng có sợ một người đó là phụ thân của chàng. Bảo-Ngọc một khi nhìn thấy phụ thân thì không dám cựa. Bọn chị em trong Đại quan viên người nào cũng yêu quý Giả-bảo-Ngọc mà sự ăn uống thực ngủ của Gia-bảo-Ngọc đều do mấy người nữ tì quản cố, thậm chí họ phải hầu hạ chàng tắm rửa, và trông nom cho chàng thức, ngủ thâu đêm. Giả-bảo-Ngọc chung tình với Lâm-đại-Ngọc, Lâm-đại-Ngọc là một vị tiểu cô nương không cha mẹ ở nhờ nhà họ Giả, và là biểu muội của Giả-bảo-Ngọc. Nàng là một cô gái đa sầu hay ốm, nàng phải chứng tiêu hóa không tốt. Cứ phải dùng yên sào nhưng nhan sắc kiều diễm cùng tài thơ của nàng thì hơn hẳn bọn chị em, nàng yêu Giả-bảo-Ngọc với một tấm lòng hoàn toàn thuần khiết chân thật của xử nữ. Bảo-Ngọc lại có một người chị họ là Tiết-Bảo-Thoa nàng cũng yêu Bảo-Ngọc, nhưng nhiệt tình của nàng chỉ ngấm ngầm mà không bộc lộ, tính nàng ưa chuộng thiết thực, theo sự nhận xét của bậc già cả thì nàng so với Đại-Ngọc, có thể là người vợ xứng đáng hơn. Nên sau cùng do mưu vị lão thái thái làm chủ, dầu Bảo-Ngọc cùng Đại-Ngọc mà định việc hỏi Tiết-Bảo-Thoa cho Giả-bảo-Ngọc. Đại-Ngọc mãi đến lúc Bảo-Ngọc cùng Bảo-Thoa sắp thành hôn mới được biết tin này, làm cho nàng quá đau đớn mà phát ra tiếng cười cuồng loạn 1 hồi rồi hồn lìa khỏi xác. Thế mà Giả-bảo-Ngọc không hề biết gì cả, mãi đến đêm thành hôn Bảo-Ngọc mới nhận ra mưu mô của cha mẹ, nên biến thành con người ngây ngô hình như bị lạc mất hồn phách. Sau cùng chàng bỏ nhà đi tu.

Những việc kể lại rất rõ ràng kỹ lưỡng trên đây đều là miêu tả sự hưng suy của 1 đại gia tộc. Cái hoàn cảnh bất hạnh trong gia đình cứ lần lượt diễn tiến cho đến đoạn cuối làm cho người phải nghẹn hơi. Sự hoan lạc trong thời kỳ toàn thịnh qua đi, hiện tượng khuynh gia bại sản cứ phảng phất trên nét mặt mọi người không còn những bữa tiệc dưới trăng trong Tiết Trung thu, mà chỉ nghe những tiếng quì khóc than gào của những nơi đình viện tịch liêu; những cô gái mỹ miều xưa kia đều lớn lên và lấy chồng về các gia đình khác; những thị nữ hầu cận Bảo-Ngọc hoặc bị đuổi hoặc theo bôi giá hết, mà không may nhất là Tình-Văn vì có giữ tình khiết cùng chân tình thì lại hương tàn ngọc nát. Hết thảy ảo ảnh đều tiêu diệt.
Vì như có người phê bình là Hồng-lâu-Mộng có thể làm hủy diệt 1 quốc gia, nếu như thế thì nó đã hủy diệt Trung-quốc từ lâu rồi. Đại-Ngọc cùng Bảo-Ngọc đã thành người tình của toàn dân tộc, nhưng cũng có nhiều nhân vật đáng làm gương mẫu để cho người nhận biết: tính nhiệt liệt của Tình-Văn tính ôn nhu của Tập Nhân, tính hào sảng của Thỉ-Tương-Vân, tính đoan trang của Thám-Xuân-Tính linh tuệ của Diệu-Ngọc, tính biến bác của Phượng-Thư, mỗi người có 1 tính cách, mỗi người có điềm đáng quí, mỗi người đại biểu 1 khuôn màu đặc thù. Muốn thử tính khí của 1 người Trung-quốc phương pháp rất dễ dàng là hỏi xem họ thích Đại-Ngọc hay là thích Bảo-Thoa. Nếu họ thích Đại-Ngọc tức là họ theo chủ nghĩa lý tưởng; như họ tán thành Bảo-Thoa là họ theo chủ nghĩa hiện thực; như họ thích Tình-Văn thì họ có thể là 1 sáng tác gia tương lai; như họ thích Thỉ-Tương-Vân thì họ cũng thích thơ Lý-Bạch. Nhưng chính kỷ giả đây thì lại thích Thám-Xuân vì nàng có cả tính chất nhu hòa của 2 người là Đại-Ngọc cùng Bảo-Thoa, nên sau này nàng được hạnh phúc kết hôn làm một người vợ hiền khuôn mẫu. Cá tính của Bảo-Ngọc rõ ràng là mềm yếu không có 1 chút khí khái anh hùng nào thật không đáng được thanh niên sùng bái. Nhưng không kể khí khái ra sao, thanh niên nam nữ Trung-quốc đều đọc đi đọc lại 7, 8 lần bộ tiểu thuyết này mà còn thành lập một môn học vấn chuyên môn gọi là « Hồng học » với cái địa vị tôn sùng cùng những cuốn sách nghiên cứu trước tác rất nhiều, thật không kém gì những sách bình chú về trước tác của Shakespeare cùng Goethe.

Hồng-lâu-Mộng có thể đại biểu cho nghệ thuật tá-tác tiểu thuyết 1 mức độ khá cao của Trung-quốc. Nói tóm lại căn cứ vào nội dung của các tiểu thuyết của Trung-quốc có thể chia ra mấy loại điển hình. Những loại tiểu thuyết rất nổi tiếng có thể làm đại biểu cho các loại xin kể dưới đây:
1 — Hiệp nghĩa tiểu thuyết - « Thủy hử truyện »
2 — Thần quái tiểu thuyết - « Tây du ký »
3 — Lịch sử tiểu thuyết - « Tam quốc chí »
4 — Ái tình tiểu thuyết - « Hồng lâu mộng »
5 — Dâm đãng tiểu thuyết - « Kim bình mai »
6 — Xã hội phúng thích tiểu thuyết - « Nho lâm ngoại sử »
7 — Lý tưởng tiểu thuyết - « Kính hoa duyên »
8 — Xã hội tả thực tiểu thuyết - « Nhị thập niên mục đổ quái hiện trạng »

Chia ra từng loại 1 cách nghiêm chính đâu phải là dễ. Như Kim bình mai tuy 4 phần năm là những văn tự dâm đãng, nhưng cũng thề cho là 1 bộ tiểu thuyết xã hội tả thực rất hay. Tiểu thuyết này dùng ngòi bút vô tình và linh hoạt miêu tả những chuyện bình dân phổ thông, bề dâng hạ lưu, thô hào liệt thân, nhất là địa vị của phụ nữ Trung-quốc ở về triều nhà Minh. Trên bộ loại chính qui của các loại tiểu thuyết, nếu theo nghĩa rộng chúng ta còn phải vào 1 loại « cố sự bút ký » nữa. Cố sự này là những truyền thuyết trải qua rất lâu đời. Loại « cố sự bút ký » này thì nên đem Liêu trai chí dị cùng Kim cổ kỳ quan làm đại biểu. Kim cổ kỳ quan là 1 tác phẩm ưu tú nhất trong loại « cố sự bút ký » lưu hành từ đời xưa, và phần nhiều là cố sự lưu truyền trải qua bao thời đại.
Trước giả từng đem rất nhiều tiểu thuyết Trung-quốc cứ theo thế lực lưu hành cao hay thấp mà chia từng bậc, nếu đem những thứ tiểu thuyết lưu hành trên các đường phố mà biên thành mục lục thời rõ là những tiểu thuyết mạo hiểm, mà người Trung-quốc gọi là tiểu thuyết hiệp nghĩa phải đứng đầu mục lục. Đây là một hiện tượng kỳ quái, vì những hành vi hiệp nghĩa cũng đúng cấm thường, bị cha mẹ hoặc giáo sư cấm đoán de-net tâm lý này thật khó giải thích. Ở Trung-quốc những chàng trai hiệp nghĩa thường hay xung đột với những tuần cảnh hoặc huyện quan, làm liên lụy đến cả gia tộc, những hạng con cháu này thường bị đuổi ra khỏi gia đình mà nhập bọn với xã-hội hạ lưu; những người dân trượng nghĩa hành hiệp có nhiều nhiệt tình rất quan tâm đến công chúng nên thường can thiệp vào những công việc của người khác, thay những người nghèo khổ mà ôm nổi bất bình, những người dân này thường bị xã hội đuổi ra và nhập vào bọn lục-lâm. Trung-quốc là một nước không có chế độ hiến chánh làm bảo đảm. Một người thường hay thay người nghèo khổ bị áp bức ôm nổi bất bình mà ở vào xã hội không có hiến pháp để đảm bảo thì nhất định chỉ là một người vong mạng. Những người lương dân an phận trong xã hội mà hoan nghinh những vị hào hiệp trong giới lục-lâm cũng vì như một người đàn bà yếu đuối mà hoan nghinh một đại hán, mặt mũi đen thui, râu quai nón, lông bụng sồm soàm. Ta thử nghĩ xem khi có một người nằm khểnh trong chăn mà đọc truyện Thủy Hử thì sự yên vui, vừa ý phần khởi không thể nói xiết được, đọc đến chỗ nói về hành vi dũng cảm nghĩa hiệp của Lý Quí thì tinh thần khích ngang thư thái đến thế nào.

— Nên nhớ tiểu thuyết Trung quốc thường thường nằm ở giường mà đọc. Tiểu thuyết thần quái thì ghi chép toàn những chuyện yêu ma cùng thần tiên cấu phép thuật là đã gom góp được một bộ phận rất lớn những cổ sự lưu truyền trong dân-gian, nhờ thế cổ sự này rất gần với tâm tính người Trung quốc. Trong mục « Trung quốc nhân dịch tâm linh » chương bốn trong bản thư, có nói đến tâm lý người Trung quốc có một quan niệm siêu tự nhiên thường thường lẫn lộn với hiện thực. Bộ Tây du ký, bác sĩ Timothy Richards từng đem dịch ra Anh văn gọi là « thiên-quốc cầu kinh kỷ » (A mission to Heaven) trong đó thuật chuyện mạo hiểm đi cầu kinh ở Ấn-Độ của Hòa-thượng Huyền Trang, nhưng chuyến mạo hiểm của ông có ba nhân vật, nửa vật nửa người làm bạn. Đó là hầu tử Tôn-Ngộ-Không, Trư-ra, Trư Bát Giới cùng một vị Sa Hòa-thượng. Bộ tiểu thuyết này không phải là một sáng tác nguyên thủy mà căn cứ những truyền thuyết trong dân gian về tôn giáo. Chuyện này chỗ rất đáng quí đáng hoan nghinh phải là nhân vật Tôn-Ngộ-Không, vì Ngộ-Không là đại biểu tâm lý ương ngạnh của nhân loại, vì Ngộ Không cứ mãi mãi thử làm những sự nghiệp không thể làm được. Ngộ Không ăn quả cấm ở Thiên cung đó là một quả đào đào như Eva ăn quả cấm trong Ai-đệ lạc-viên, mà phải chịu xử phạt trường kỳ là 500 năm khóa bằng giây sắt giam ở dưới chân núi đá, giống như Prométhée ăn trộm thiên quả mà bị giam. May gặp hạn giam vừa hết và do Huyền Trang tới mở khóa buông tha cho, vì thế Ngộ Không liền bái nhận Huyền Trang làm thầy và đảm nhiệm chức vụ bảo hộ việc đi sang Tây trúc, trên đường đi Ngộ Không phải chịu bao nhiêu yêu ma quỉ quái cố sức chiến đấu để mong lập công chuộc tội, nhưng tính ác độc trước kia vẫn còn tồn tại vì thế nên hiện hình biểu tượng một thứ nhân tính điêu ngoan dữ tợn, tranh đấu cùng với hành vi thánh triết. Trên đầu y đội một chiếc mũ Kim cô bất cứ lúc nào hề thứ tính của y phát tác phạm vào qui luật là Huyền Trang sư phụ của y niệm một câu kinh chú, lập tức mũ Kim cô trên đầu y càng bó càng chặt cho tới khi đầu óc rức rời như muốn nổ tung nên y không muốn phát tác nữa. Đồng thời Trư Bát Giới biểu tượng một căn tính nhân loại thú dục. Cái căn tính thú dục này về sau trải qua sự cảm hóa của của tôn giáo mà dần dần gột sạch. Những nhân vật kỳ dị này làm một chuyến trường chinh kỳ dĩ trên đường đi những dục vọng cùng những cám dỗ mê hoặc tranh giành không ngờ xuất hiện, tạo thành một chuỗi hoàn cảnh thích thú cũng khiến người hàng hai chiến đấu, hiền thần thông, thi ma lực, đấu bão pháp. Ở tai Tôn ngộ Không có dắt 1 cây bồng nhỏ, cây bồng này có thể biến tới một mức độ rất dài, không những thế mà y còn có một bản lĩnh như nhổ một chiếc lông chân có thể biến ra rất nhiều khỉ con để giúp y công kích kẻ địch mà tự thân y cũng có thể biến hóa, biến thành các khí cụ hay các thực dụng vật, đủ các kiểu các màu, y có thể biến ra chim loan chim hạc bay hiện ra con sẻ, con cá hoặc biến thành một tòa miếu, con mắt biến thành cửa, miệng biến thành cái ra vào, lưỡi thì biến ra tượng phật nếu yêu ma không để ý mà bước vào trong tòa miếu này thì sẽ bị miện y ngậm lại và nuốt vào bụng. Sự chiến đấu của Ngộ Không cùng với yêu ma thật là thần diệu, họ đánh đuổi nhau nhưng họ đều biết cưỡi mây nương gió chui xuống dưới đất không vướng, xuống nước không chết đuối, cái cách gánh nhau như thế làm sao em nhỏ nghe mà không thích cho được, ngay đến những hạng thanh niên trưởng thành, chỉ cần họ chưa tới trình độ « chuột » đã không buồn nhìn gạo thì đều lấy làm hứng thú.

Cái thói quen thích nói chuyện thần quái không chỉ hạn định trong những bộ tiểu thuyết thần quái, họ chen vào các thứ tiểu thuyết thậm chí như « Dã Tẩu Bộc Ngôn là một tác phẩm hạng nhất cũng không khỏi chịu cái lụy về thói quen này nhân đó mà giảm sắc. Dã Tẩu Bộc Ngôn là một bộ tiểu thuyết hiệp nghĩa kiêm luân lý. Cái thói quen thích nói chuyện thần quái lại làm giảm giá tiểu thuyết trinh thám cổ sự như bộ « Bao-công-Án » và làm cho tiểu thuyết trinh thám không thể phát triển hoàn bị được để cùng so sánh với những kiệt tác Âu Mỹ nhân vì thiếu quan niệm lý luận khoa học Bao-Công có thể là một đại trình thám gia trong lịch sử Trung-quốc và ông lại làm phán quan, ông giải quyết những vụ án ám sát bí ẩn nhờ những chỉ thị trong giấc mơ chứ không dùng đầu óc luận lý để phân tích như Phúc-nhĩ-ma-tư (?) Sự kết cấu lỏng lẻo của Tiểu-thuyết Trung-quốc gần giống như tác phẩm của D. H. Lawrence mà sự dài dòng thì gần giống những tác phẩm của Tolstoy cùng Dostoivsky trong tiểu thuyết Nga. Tiểu thuyết Trung-quốc cùng với Tiểu-thuyết Nga giống nhau rất rõ rệt. Vì họ đều có kỹ thuật tả thực chủ nghĩa, mà họ đều thích tả một cách tường tận họ chỉ thích giảng thuật có sự mà thiếu đặc tính chủ quan của Tây-Âu Cũng có tác giả miêu tả tâm lý rất tinh tế nhưng vì sự hiểu biết về tâm lý học chỉ có hạn. Cho nên nhiều việc cứ theo nguyện việc cũ mà thuật lại. Về sự miêu tả bức chân cải xã hội tà-ác thì Kim-bình-mai dẫu có chịu nhường The Brothers Karamazov. Tác phẩm về loại ái tình tiểu thuyết, kết cấu rất hay, Tiểu thuyết xã hội thịnh hành trong 1 thời từ 60 năm trước đây, kết cấu lan man đi lại giống như một bức gấm hỗn tạp, dệt những chuyện xưa việc lạ bằng đoản thiên ghép lại. Những đoản thiên tiểu thuyết chính thức thì mãi đến 20 năm trước đây cũng chưa có một tác phẩm nào hoàn mỹ ra đời. Các tân tác giả hiện đại đang cố sức miêu tả những tác phẩm giống như văn học Tây Phương mà họ đã đọc qua không kể là phiên dịch hay là sáng tác.

Trên đại thể, thì sự tiến triển mau chóng của tiểu thuyết Trung quốc, có thể phản chiếu sự tiến triển mau chóng trong cuộc sinh hoạt của nhân dân Trung quốc, sự tiến triển này rất to tát và hỗn tạp nhưng sự tiến triển không cốt ở thái độ nhanh chóng, sự sản sinh tiểu thuyết là chỉ để tiêu ma thời gian, nên có những thời gian nhàn hạ để tiêu ma mà độc giả cũng không cần chạy theo hỏa xa, nên cũng không không mong sự kết thúc. Tiểu thuyết Trung quốc cần đọc thong thả, vậy cần phải kiên nhẫn :

Bên đường đã có nhiều hoa nở
Mặc sức ai kia cứ hái hoa.
(Trích ngô quốc ngô dân)
-----===<oOo>===-----


HCD: Đây là bản OCR, nhận mặt chữ trên hình trang báo Xuân Viet Nam và đánh máy lại, tôi chưa dò từng chữ, nếu cần thì các bạn nên so lai với trang sách trong microfilm có thể download từ Quán Ven Đường link bên trên
Dưới đây tôi dùng OCR (Optical Character Recognition) viết lại thành dạng text cho dễ đọc. Bài dài quá tôi không dò hết được từng chữ máy làm OCR sai. Bạn nào nghiên cứu hay tham khảo xin đọc bản in chánh dạng PDF download từ link trên.
TIẾNG « KHẤU » TRONG TỪ-NGỮ « SÂN - KHẤU » NGHĨA LÀ GÌ ?
(Lời tòa soạn: Thế theo lời mời của mấy bạn trẻ trong bộ biên-tập, chủ-trương báo Xuân, ngoài mấy chuyện vui lạ, những hồi-ký, dật-sử, nên có những bài biên-khảo sưu-tầm về phong-tục văn-hóa Việt-Nam, chúng tôi đăng tải bài này, mong được giúp ích các bạn hiếu-học, nhất là những bạn sinh viên môn ngữ-học, hằng để tâm nghiên cứu và phát-huy tinh thần tiếng mẹ đẻ.)
LÊ-NGỌC-TRỤ
(Giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học Văn khoa Saigon. Rất thiết tha những gì thuần túy tốt đẹp của Việt-Nam.)

Trong ngôn-ngữ, sự mượn tiếng lẫn nhau là việc thông-thường giữa các dân tộc có liên hệ với nhau về lịch sử địa-dư, về chính trị văn-hóa và xã-hội sinh hoạt. Song mỗi dân tộc có mỗi giọng phát âm riêng biệt, có mỗi tinh thần ngôn-ngữ thích-đáng, nên thường khó nói lại đúng y như giọng ngoại-ngữ, vì vậy, âm-điệu các tiếng mượn lắm khi biến-trại cách xa với chính âm của nó. Phát-âm đã chẳng được đúng như ngoại-ngữ, mà còn ráng uốn sửa đồng hóa tiếng mượn cho hợp với âm-hưởng của tiếng mình, dân-tộc nào cũng có xu-hướng ấy.
Tiếng Việt mượn nhiều tiếng của mấy dân-tộc láng-diềng, nhất là của Trung-Hoa, mà lối mượn lại càng đặc-biệt. Nhà nho mượn chữ Hán của kinh-điển sách-vở Trung-Hoa, nhưng không đọc theo giọng Tàu, lại phát-âm bằng giọng Việt. Kết-quả là tiếng Hán-Việt ngày nay. Rồi lại vịn vào tiếng Hán-Việt, ta biến-trại uốn-sửa âm-thanh của nó mà tạo nên nhiều tiếng Việt mới khác, để nó đủ ngôn-ngữ cung-ứng cho nhu-cầu xã-hội sinh-hoạt. Trong lúc ấy, bình-dân đại-chúng giao-thiệp tiếp-xúc với người Trung-Hoa, thì mượn thẳng ngay nơi giọng nói của họ, — giọng người Trung-Hoa miền Nam cũng như giọng người miền Bắc —, rồi cũng uốn-sửa Việt-hóa các tiếng mượn ấy. Kết-quả lâu đời được thông-dụng các tiếng mượn đã trở thành tiếng Việt-Nam thiệt-thọ, ngày nay khó nhận ra là mượn nữa.

Và tiếng Việt nhờ cấu-tạo theo hai lối nói trên, — lối nho-hóa là lối mượn của giới trí-thức đã khai-thác kho-tàng chữ Hán, và lối dân-hòa là lối mượn của giới bình dân —, mà được trở nên phong-phú dồi-dào. Chỗ đặc-biệt là các sự biến trại tiếng mượn đã theo một hệ-thống tinh thần Việt-ngữ.
Vì vậy, khi khảo-sát tiếng Việt, ta nên chú-trọng đến phương-diện Việt-hóa tiếng mượn, và hệ-thống biến âm của tiếng mẹ đẻ.
Trong lúc tìm hiểu nghĩa mỗi tiếng, mỗi từ ngữ để chuẩn bị công việc biên soạn một quyển tự-điển Việt-Nam, tôi thắc mắc không biết tiếng « khấu » trong từ ngữ « sân khấu » nghĩa là gì, nó là tiếng Việt thuần túy, tiếng Hán-Việt hay là một tiếng mượn đã Việt-hóa.
Tra mấy tự-điển của Paulus Của, Génibrel, Việt-Nam tự-điển của Hội Khai trí, không thấy ghi tiếng Khấu này. Từ-điển của Cordier, Đào văn Tập, Thanh-Nghị ghi trơn từ-ngữ « sân-khấu » và giải thích đại đề : « khoảng rộng trong rạp hát để diễn trò (scène). » Có lẽ mấy tác giả này chỉ vịn vào công dụng của sự vật mà giải-nghĩa từ-ngữ sân-khấu, chứ chắc không nhận-thức được ý-nghĩa của chữ khấu riêng rẽ.
Hai ông Lý-văn-Hùng và Thôi-tiêu-Nhiên trong quyển Mô-phạm Việt-Hoa từ-điển, nơi chữ khấu có ghi và giải thích bằng Hán-văn từ-ngữ sân-khấu : « Khấu đầu tạ ân chi trường, kim tả dụng chỉ hỉ trường », đại ý nghĩa là : « chỗ (ban hát) « khấu đầu » (cúi đầu) tạ ân (khán giả), nay mượn dùng để chỉ trường hát. » Có lẽ tác-giả muốn dùng từ-ngữ khấu đầu để gợi ý-nghĩa của chữ khấu trong từ-ngữ « sân khấu » chăng ? Như thế, thì mặc nhiên tác giả cho tiếng khấu là tiếng Hán-Việt và nó là một tiếng của từ-ngữ « khấu đầu ».
Chúng tôi không vừa ý với câu giải-thích trên về chữ khấu, và suy cứu theo khía cạnh khác, cho rằng đây là một tiếng mượn đã bị biến âm, lâu đời khó truy ra tiếng gốc, nên không hiểu được ý nghĩa chính-xác của nó.

Theo sử, nghệ-thuật hát bội được truyền sang nước ta từ thời nhà Trần, Việt-Nam sử-lược Trần-Trọng-Kim ghi : « khi quân nhà Trần đánh được quân nhà Nguyên (1284-1288) có bắt được một tên hát bội là Lý-Nguyên-Cát. Sau nó ở lại nước ta lấy cổ truyện mà đặt thành bài tuồng rồi dạy người mình hát. Khi con hát làm trò thì mặc áo gấm, áo vóc, theo dịp đàn, dịp trống mà hát. Sự hát tuồng của người Việt-Nam khởi đầu từ đấy. » Vậy lối hát này do người Nguyên truyền sang, và người Nguyên là dân Mông-Cổ nói giọng Trung-Hoa miền Bắc.
Theo dữ-kiện ấy, tôi tìm tài liệu trong sách Hán, thấy bộ Từ Hải nơi chữ khoa bạch 科白, giải thích như vầy : « Hí kịch trung hữu khoa bạch. Thủy ư Nguyên nhơn khúc bản, khoa vi cử chỉ, vị dĩ động tác biểu tình giả ; bạch vi ngôn đàm, vị dĩ ngôn ngữ biểu tình giả » : Đại ý là : « Lối hát tuồng có khoa bạch, khởi đầu từ thời nhà Nguyên. Trong bản tuồng, khoa là cử-chỉ kể khi dùng điệu bộ động-tác để biểu diễn tình cảm ; bạch là nói-năng, kể khi dùng lời nói đối-đáp hát xướng để biểu diễn tình-cảm ». Quyển Hán-Việt tự-điển của Thiều Chửu, nơi chữ Khoa nghĩa thứ 9, cũng giải-thích rằng : « Trong các bản tuồng chia ra từng tấn gọi là khoa bạch, khoa là chỉ về phần cử-động, bạch là chỉ về phần nói năng. » Vậy khoa là cử-động, là điệu bộ múa-men khi diễn kịch.
Chữ khoa 科 phát âm theo giọng Hán-Việt, giọng Tàu miền Bắc phát-âm là « khỏ » (!) hoặc « khổ » hay « khớ ». Và khoa bạch là « khớ bái ». Có lẽ khi xưa đã mượn âm khổ, khớ rời Việt-hóa thành ra tiếng khấu ngày nay chăng. Và nếu quả như vậy, ta mới hiểu được lọn nghĩa từ-ngữ « sân khấu » là : « nơi kép hát khoa bạch, cử-động múa-men hát xướng để diễn kịch ». Xét về âm với nghĩa của tiếng khấu, chuyển gốc ở từ ngữ « khoa bạch » là lối hát của người Nguyên bày ra, thì nó phù-hợp với lịch-sử đã ghi về lai-lịch lối hát bội, chúng tôi cho có thể là hợp lý lắm, xin thỉnh-giáo quý vị cao minh.

Vả chăng, do chữ « khoa » với nghĩa « cử-động », ta cũng mượn thẳng bên âm và nghĩa của tiếng Hán-Việt mà tạo thành tiếng khoa, trong câu « khoa chân khoa tay » là « múa chân múa tay » (Việt-Nam tự-điển). Hoặc đã biến âm tiếng khoa của Hán-Việt thành tiếng khua, trong câu « khua tay múa chân » « khua môi khua mỏ »
« Khua tay múa chân », trong Nam cũng nói « Huơ tay múa chân » hoặc « Huơi tay múa chân », hai tiếng huơ, huơi này cũng có nghĩa là « cử-động » song thuộc về tự-nguyên khác, do gốc chữ huy 揮. Còn câu « khua môi khua mỏ » cũng có ngụ-ý « khoe-khoang lớn lối, nên tiếng khua một phần cũng bị ảnh-hưởng liên-hệ của tiếng khoa là « khoe ».
Nhân tiếng khua, chúng tôi tìm thấy một tự-nguyên khác, khi khua nghĩa là « cử-động mà có tạo nên tiếng động, như « khua động », « khua chén », « khua bát », « khua chuông gõ mõ »
« Tiếng tiều khua như đứt buồng gan » (chinh phụ)
« Gió cây khua phách, nước khe dạo đàn » (Phương Hoa) thì tiếng khua này chuyển nơi chữ tiếng khấu 扣 là « gõ », « khỏ », là « khảy » hoặc « gảy » đàn. Hán-Việt tự-điển Thiều Chửu nơi khấu, nghĩa thứ 4, ghi : khấu môn : gõ cửa ; nghĩa thứ 6 : « gảy, lấy tay gảy đàn gọi là khấu huyền. »
Căn-cứ vào âm và nghĩa mà truy nguyên, ta thấy tiếng khấu 扣 cho ra tiếng khỏ (gõ), khua và khảy (gảy), hay nói ngược trở lại, các tiếng Việt « khảy (gảy) đàn, khỏ (gõ), « khua động » chuyển nơi tiếng khấu 扣 của Hán Việt.
Và tiếng khoa 科 cho ra các tiếng Việt : khoa, khua cử động và khấu, nếu khấu 扣 cho ra « khua động » thì khoa cho ra khua (cử-động) và khấu, có thể hiểu được lắm. Sự liên-quan suy-loại này giúp chúng tôi vững tin rằng tiếng khấu trong từ-ngữ « sân-khấu » chuyển gốc nơi từ-ngữ Hán-Việt : khoa bạch.
Đây là một thí-dụ trong muôn vàn để chứng minh khả-năng đồng-hóa tiếng mượn trong ngôn ngữ ta, là sức biến-hóa phát-triển của tiếng Việt nó tiêu-biểu sức sống mãnh-liệt trường-tồn và tinh-thần bất-khuất, tự-chủ, vượng-tiến của dân tộc Việt-Nam.
Với chủ-trương « xây dựng quốc-học » của Chánh-phủ và Bộ Văn-hóa giáo-dục, chúng tôi hy-vọng và tha-thiết được thấy thực-hiện một Viện Ngữ học để đôn-đốc khảo-cứu tiếng mẹ để thâu-thập và điển-chế ngôn-ngữ, hầu soạn nên bộ tự-vị Việt Nam.
Có hiểu thấu được tinh-thần ngôn-ngữ, hồn thiêng của đất nước, mới ý-thức sâu-xa tinh-thần quốc-gia, nghĩa đồng-bào, mới cảm-thông lẽ sống còn của dân-tộc mà thương yêu đoàn kết với nhau.
-----===<oOo>===-----
From: Thanh Binh Nguyen <batsach@
Date: 1/17/26 11:10 AM (GMT-08:00)
Subject: Re: Fr : Nha Nho choi chu (Yen Do va Chau Manh Trinh), doc bao xuan in nam 1951, goc đo vui
Bài viết về Thôi Hiệu&Lý Bạch: bài thơ của Lý có tên là “ Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng Đài.
Bài về Yên Đổ & Chu Mạnh Trinh cũng sai:
Cụ Yên Đổ chê:
Rằng hay thì thực là hay,
Nho đối với Xỏ lão này không ưa.
Câu Hán văn: Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp. Xuyên diệp dịch ra tiếng Việt mới là xỏ lá.
Còn nhiều sai lầm lắm tôi không có thì giờ viết ra, chỉ viết mấy sai lầm quan trọng thôi.
Ai là tác giả bài viết vậy? Cẩu thả quá.
Bình.
Sent from my iPad

HCD: Kính thưa bác sĩ, đây là bài viết đằng trong báo xuân Tiếng Chuông Năm 1951, bên dưới trong email MTC có link để download tờ báo Xuân này và tấm hình trong email là bản chụp trang báo xuân bài viểt chơi chữ.
Về văn chương thì tôi dốt lắm. thấy là lạ tôi trích ra gởi bà con đọc chơi thôi.
Tôi đọc thấy sai cũng không biết. Tờ báo Xuân in năm 1951 được lưu trữ dưới dạng hình scan, không phải dạng text
-----===<oOo>===-----
Câu đố vui


Câu đố dưới đây thật dễ để bù lại mấy câu khó vừa rồi.


From: t.khong@
Date: 1/17/26 10:16 AM (GMT-08:00)
Subject: RE: Nha Nho choi chu (Yen Do va Chau Manh Trinh), doc bao xuan in nam 1951, goc đo vui
Chú HCĐ mến,
Theo kinh nghiệm lái xe, Thanh-Hương xin trả lời là chữ C, vì xe xanh lá cây quẹo phải có ưu tiên; kế đó là xe xanh da trời vì có hộp đèn kiểm soát xanh/đỏ; và sau cùng là xe màu đỏ.
Có ai đoán ra câu trả lời 5 quả trứng chưa, chú? ~ TH
HCD: Cám ơn cô Thanh Hương
Thưa áp dụng tổng quát là tài xế phải nhường xe bên tay mặt của mình. Nếu lái xe chạy tự động thì để chiếc xe lo, khỏi cần phân biệt ai tới trước ai tới sau, hay phải nhường xe nào, trí tuệ nhân tạo lo.
-----
From: nang huynh <nlehuynh@
Date: 1/18/26 11:21 AM (GMT-08:00)
Subject: Giải đáp các câu đố
Câu lái xe: C (G,B,R); G quẹo phải nên ưu tiên hơn. R phải nhường cho B ở phía phải của mình.
Câu số đồng hồ: vì không định nghĩa rõ ràng về đường nứt nên tạm chọn hình này.


Câu di chuyển 1 quả trứng : chưa tìm ra.
Cảm ơn Anh, chúc Anh mạnh khỏe.
Năng

HCD: Cám ơn anh Năng
Đáng lẽ hôm nay trả lời câu đố khó nhất xưa nay (mặt đồng hồ), nhưng vì câu đố nầy khó tìm, nên để các bạn trả lời cho vui
------
From: Tho Nhan <thodiemnhan@
Date: 1/18/26 9:47 AM (GMT-08:00)
Subject: Câu đố vui số 1
C) Green, Blue, Red

HCD: Cám ơn anh Thọ
-----===<oOo>===-----
From: Doan Nguyen <doan2102@
Date: 1/14/26 6:06 AM (GMT-08:00)
Subject: Câu đố hình vuông 4x4

--
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "Tình Thân".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến tinh-than+unsubscribe@googlegroups.com.
8 attachmentsDownload all

Không có nhận xét nào: