Đầu tháng 6/1972, đơn vị tôi đang làm nhiệm vụ ngăn chận đường dây xâm nhập của quân cộng sản Bắc Việt từ Kampuchea qua ngã Hà Tiên đến Thất Sơn, dựng hàng rào kẽm gai dọc theo kinh Tám Ngàn từ Vàm Rầy (ở khoảng giữa đường từ Rạch Giá đi Hà Tiên) thẳng đến Ba Chúc, Tri Tôn thuộc vùng núi Thất Sơn, Châu Đốc. Hôm đó tôi đi ca nô ra thăm Chi Đội đang bảo vệ căn cứ hỏa lực đóng ở Vàm Rầy, mục đích là để thăm người bạn kết nghĩa cũng là Chi Đoàn Phó của tôi, Nghê Thành Thân. Tôi xin nói thêm một chút về Nghê Thành Thân, con người của một thời lừng lẫy.
<!>
Hai chúng tôi cùng tuổi, nhưng vì tôi gia nhập Quân Đội trước Thân nên coi như là niên trưởng!Lời hứa giữa hai chúng tôi là, nếu một trong hai người chết đi, thì người còn sống sẽ đùm bọc gia đình của người đã ra đi!
Thân rất đặc biệt, là con một của ông chủ rạp hát ở Cà Mau, tốt nghiệp Thủ Khoa khóa Sĩ Quan Căn Bản Thiết Giáp. Ngày đáo nhậm đơn vị thì chính ông Bố dẫn con trai đến trình diện Thiết Đoàn Trưởng với lời “gửi gắm” xin cho con mình ra phục vụ đơn vị nào... dữ nhất! Ông Bố chịu chơi này cũng chính là người đã nhiều lần đến quân trường để đứng từ bên ngoài dỡ hàng rào kẽm gai lên cho con mình đang là Sinh Viên Sĩ Quan chui “lỗ chó” để “dù” về Sài gòn, rồi hai cha con đi nhậu trong đêm, sáng trở lại quân trường! Cũng chính ông đã nhiều lần lặn lội, vượt qua nhiều trạm của Việt Cộng để thăm con trong vùng hành quân, lần nào cũng xách theo một giỏ xách đầy...rùa! Vì ông biết chúng tôi khoái nhậu rùa, nhưng không dám chở rùa trên xe vì sợ... xui.
Có lẽThân cũng là người duy nhất mà khicòn ở cấp bậc Thiếu úy đã có được 4 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, Bronze Star của Hoa Kỳ, chưa kể những Anh Dũng Bội Tinh với sao vàng, sao bạc! 1 con người mà ai cũng quý mến, trong giai đoạn cuối của cuộc chiến,danh tướng Nguyễn Khoa Nam mỗi khicó dịp họp với các đơn vị thì bất kể có sự hiện diện của các Tư lệnh Sư Đoàn, Trung Đoàn Trưởng...ông luôn kéo Thân lên ngồi bên cạnh ông, dù lúc đó Thân chỉ là Đại úy.
Trở lại hôm đó, khi hai anh em uống gần hết hai hũ Ngũ Gia Bì, điểm đặc biệt khi chúng tôi uống rượu với nhau là không ai nói lời nào ngoài câu “Mình cạn ly này...”, nhưng hôm đó thì ngoại lệ, khi Thân trầm ngâm một lát, rồi nói với tôi:
– Trong vòng nửa tháng nữa, tôi sẽ chết... anh Điền!
Tôi biết Thân đang nói chuyện nghiêm chỉnh, nên hỏi:
– Tại sao anh biết?
Thân đưa tay vào ngực áo, móc ra tượng Phật làm bằng nanh heo rừng:
– Tượng Phật báo!
Tôi thấy lòng mình chùn xuống, không thể uống hết phần còn lại của ly rượu, tôi đứng lên đi xuống ca nô trở về căn cứ. Khi ca nô về gần đến căn cứ thì Thiết Đoàn Trưởng gọi, bảo tôi chuẩn bị 10 phút sau sẽ có trực thăng đến bốc tôi lên Hòn Sóc gặp ông.
Tại Hòn Sóc, tôi nhận lệnh thu xếp tất cả các thứ để ngay chiều hôm đó đưa Chi Đoàn đến Tô Châu, Hà Tiên để trình diện Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Quân Đoàn 4 đang ở đó. Nhiệm vụ của chúng tôi sẽ là đi Kampong Trach để giải tỏa áp lực địch, vào bắt tay với Lữ Đoàn 4 Kỵ Binh gồm Thiết Đoàn 12 KB và Thiết Đoàn 16 KB cùng 2 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân do Đại tá Biệt Động Quân Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng BĐQ Vùng 4 làm Chiến Đoàn Trưởng. Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn đang trú đóng tại thị trấn Kompong Trach... Cả Chiến đoàn đang chịu áp lực rất nặng của Công Trường 1 CSBV từ nhiều ngày qua, Lữ đoàn 4 Kỵ Binh đã bị bắn cháy 19 thiết vận xa M113. Thiết đoàn 9 ( ) do Trung Tá Phạm Minh Xuân, Thiết Đoàn Trưởng, chỉ huy được tăng phái vừa đến Kompong Trach lúc 11 giờ đêm, bị điều động đến bố trí qua đêm tại khu vườn tiêu cách Thị trấn Kompong Trach 2 cây số về hướng Tây Bắc thì bị tan nát trong vòng nửa tiếng đồng hồ, chỉ còn lại 21 chiếc M113. Thuốc men, thực phẩm, đạn dược... thả dù tiếp tế nếu rơi ra ngoài phòng tuyến khoảng 50 mét là coi như bỏ, không lấy được.
Chẳng lẽ lời báo trước của Nghê Thành Thân sẽ là sự thật?
Vì quá gấp rút, chỉ có 2 chiếc GMC dùng để chở anh em ở hậu cứ lên công tác và hơn 40 lao công đào binh đến để làm hàng rào ngăn chận cùng một số dụng cụ, nên tôi cho lệnh ném bỏ mấy ngàn cọc sắt và khoảng 500 cuộn kẽm gai còn lại xuống lòng kinh Vàm Rầy, nơi rộng và sâu nhất.
Khi đơn vị đang vượt kinh ở cầu Lỳnh Quỳnh, thì tôi đến gặp Nghê Thành Thân:
– Tình hình cũng... không có gì! Tôi đưa Chi Đoàn đến Tô Châu, còn anh thì dẫn anh em hậu cứ với đám lao công đào binh về nghỉ một thời gian, coi sắp xếp lại hậu cứ giùm tôi.
Thân nhìn tôi đăm đăm:
– Nhưng tại sao đi gấp quá vậy? Không có cả thời giờ để chở cọc sắt kẽm gai về nữa.
– Thì tới Tô Châu mới nhận lệnh, bây giờ chưa biết...
Thân đưa “cặp mắt Đại Hàn” nhìn thẳng tôi, rồi với cái nhếch mép cười cố hữu:
– Tôi không thể bỏ anh trong trận này được, anh Điền.
Sau đó mặc tôi nói gì thì nói, Thân quyết không về hậu cứ. Chiều hôm đó, tại Tô Châu, tôi đã nói cho Thiết Đoàn Trưởng và bạn cùng khóa Đại Úy Phạm Khắc Phước nghe về điềm báo của Thân để nhờ hai người này thuyết phục Thân về hậu cứ, nhưng vô hiệu.
Sau đó tôi đưa đơn vị qua khỏi Thạch Động khoảng 2 cây số và qua đêm ở đó.
Sáng hôm sau, trong khi chờ Biệt Động Quân đến tùng thiết, thì đơn vị tôi và Chi Đoàn 2/2 TK của Đại Úy Ngô Văn Cứ và Chi Đoàn 1/2 TK của Đại Úy Hà Văn Ron nhận tiếp tế nhiên liệu, riêng đạn dược thì chất vào xe đến mức tối đa.
Đến trưa thì Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân Đoàn 4 cùng với Chuẩn Tướng Nguyễn Huy Ánh, Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Không Quân đáp trực thăng xuống gặp tôi. Sau khi bắt tay tôi và các Sĩ quan trong Chi đoàn, vị tướng được xếp vào hàng đầu của QLVNCH bỗng ngồi xuống, tay cầm cây viết vẽ xuống đất để nói về tình hình chung cả nước, rồi nói về mặt trận mà chúng tôi sẽ phải đối mặt. Ông cũng cho biết là lực lượng đi giải tỏa Kampong Trach chỉ có chúng tôi là Thiết Đoàn 2 Kỵ Binh (gồm 3 Chi Đoàn) và tiểu đoàn 58 Biệt Động Quân mà thôi, rồi ông kết luận:
– Quân Đoàn 1 là mặt trận Quảng Trị, Quân Đoàn 2 là Kontum, Quân Đoàn 3 là An Lộc. Còn Quân Đoàn 4 là trận Kompong Trach này!
Ông nhìn tôi rồi tiếp lời:
– Các anh là lực lượng trừ bị cuối cùng của Quân Đoàn 4, nếu các anh thành công, thì Quân Đoàn 4 yên. Nếu các anh thất bại thì Quân Đoàn 4 sẽ như 3 Quân Đoàn kia.
Nói xong ông đứng lên, tôi cũng đứng lên theo và nhìn thẳng vào khuôn mặt khắc khổ của vị tướng mà tôi hết lòng ngưỡng mộ. Ông nhìn tôi một lúc rồi nói:
– Tôi biết Chi Đoàn của anh “chì” lắm, cố gắng nghe anh Điền! Tôi sẽ sử dụng tối đa hỏa lực phi pháo để yểm trợ cho các anh.
Tôi đáp:
– Trình Trung tướng, tinh thần chiến đấu của anh em cao. Trung tướng yên tâm.
Chiều hôm đó, đoàn xe chở Tiểu Đoàn 58 Biệt Động Quân đến, và người bước xuống xe đầu tiên lại là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Sau khi xuống xe, ông đi thẳng đến một cây thốt nốt rồi đứng đó nhìn đoàn quân ít ỏi chuẩn bị thi hành một nhiệm vụ quá lớn. Sau khi đến nói chuyện với người bạn cũ là Đại Úy Măng, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 58 BĐQ, tôi trở lại Chi Đoàn, thì Tướng Trưởng từ cây thốt nốt đi nhanh về phía tôi, khi đến gần tôi ông không chào đáp mà chỉ bắt tay tôi với lời dặn dò “Cố gắng nghe anh Điền”, rồi lại quay về đứng bên cây thốt nốt!
Tối hôm đó, tôi họp các Chi đội trưởng, Nghê Thành Thân đã có một câu mà cho đến giờ phút này, vẫn còn đầy đủ giá trị: “Trận này coi bộ khó nuốt!! Nhưng có tướng Trưởng đích thân điều động, thì khỏi lo!”
Ngày hôm sau, chúng tôi bắt đầu nhập trận, quân đi như gió bão, chiếm từng cụm vườn, từng khu xóm... hướng về Kompong Trach.
Đến trưa thì chạm súng, phải đến chiều hôm đó mới thanh toán xong những ổ kháng cự. Rồi 2 ngày sau đó, chúng tôi bị cầm chân ở khu vực gần ngôi chùa nằm cách Kompong Trach khoảng 5 cây số, vì cộng quân gài chốt ở khắp nơi. Đến ngày thứ 6 thì chúng tôi bám sát được ngôi chùa. Đại Úy Hà Văn Ron, Chi Đoàn Trưởng CĐ 1/2 Thiết Ky bên cánh trái, và Đại Úy Ngô Văn Cứ, Chi Đoàn Trưởng CĐ 2/2 Thiết Kỵ phía sau, cứ thế chúng tôi cùng với Biệt Động Quân tùng thiết tiến dần về hướng Bắc.
Hôm đó, trong khi yểm trợ cho BĐQ thanh toán ngôi chùa nằm sát con lộ, tự nhiên tôi linh cảm một cái gì hắc ám từ cánh đồng trống mênh mông bên phải, nhìn về hướng Thất Sơn. Đó là cánh đồng lầy ngút ngàn trông như biển khơi, tôi liền điều động một chi đội cùng với Nghê Thành Thân án ngữ về hướng đó. Khoảng một giờ sau, có lẽ tức quá, vì trong khi anh em đang chạm súng rầm rầm mà tôi lại bố trí Thân và một chi đội hướng ra đồng trống, Thân bỏ xe đi bộ tới gặp tôi:
– Ở đó trống quá có gì đâu Đông Phương?
Tôi giải thích:
– Anh nằm ngoài đó án ngữ rồi quan sát về phía Bắc dùm để trong này được yên tâm, chứ ở đây rậm quá.
Thân quay trở lại xe, khoảng nửa giờ sau thì y như rằng, một tiếng nổ ầm ngay ngoài đồng trống (họ đánh kiểu “đội mồ”) bắn trúng xe của Nghê Thành Thân. Không còn nghe tiếng Thân trên hệ thống truyền tin nữa, tôi lập tức lệnh cho Chi đội của Thiếu úy Hạnh bỏ vị trí, đến tiếp cứu Thân. Chỉ trong khoảnh khắc, ổ B41 đó bị diệt, Thân vô sự, nhưng phải dùng xe của chi đội khinh kỵ vì xe của Thân đã bị tê liệt. Hôm đó chúng tôi lại bị cầm chân.
Ngày hôm sau, trận đánh quyết liệt nhất mở màn, khi cộng quân lùa những đàn bò chạy về phía chúng tôi, rồi họ chạy theo sau với mục đích dùng biển người để cướp sống xe, trong khi đạn pháo của họ bắn chận phía sau chúng tôi. Mấy chục khẩu pháo gần Thạch Động được chúng tôi điều chỉnh bắn thật gần, và bắn tối đa. Ngay sau khi chúng tôi trụ lại được trước sức tiến công của địch quân, thì Không quân VNCH được lệnh xuất kích. Tướng Trưởng đã điều động rất hay ở điểm này, vì khi đó địch quân đã lộ diện, việc dội bom sẽ rất chính xác dù hơi nguy hiểm vì phải dội bom quá sát những đơn vị bạn đang tham chiến, có một đợt bom dội vào ngay giữa đơn vị tôi, nhưng chúng tôi vô sự. Những chiếc phản lực cơ đánh thật đẹp, vừa nghe tiếng gầm thét là họ bỗng xuất hiện, bay thật thấp và dội đủ loại bom từ bom Napalm cho đến bom CPU... Chúng tôi không cần phải liên lạc vô tuyến để điều chỉnh, mà chúng tôi chỉ cần thả những trái khói màu tại chỗ để đánh dấu đơn vị bạn, và Không Quân VNCH sẽ dội bom về hướng Bắc của những trái khói màu đó khoảng 300 mét trở lên là được.
Ngay sau đợt oanh kích cuối cùng, chúng tôi lập tức tung ra đợt phản công, tràn lên chiếm giữ những nơi vừa bị đánh bom còn đang bốc khói... Dĩ nhiên là Cộng quân phải rút lui chứ bọn chúng cũng không dại gì mà làm những con thiêu thân trước những con chiến mã đang nộ khí xung thiên gầm thét, giáng sấm sét lên đầu bọn VC hung tàn đó.
Anh em bên Biệt Động Quân có vẻ nhụt chí khiến cho Nghê Thành Thân tức giận nhảy xuống khỏi xe rồi cùng với một Đại Đội Trưởng của họ là Trung Úy Gia xông thẳng vào phòng tuyến địch để họ phải tiến lên theo. Thật ra Thân không phải rời xe để đánh như Bộ Binh như vậy, nhưng trong cơn cuồng nộ của bom đạn, Thân đã quên mình, quên cả tượng Phật...
Hôm đó Chi Đoàn tôi tịch thu được 6 máy truyền tin, 4 khẩu đại liên, 1 số B40, B41 và AK. Buồn cười cho ông Thiết Đoàn Trưởng của tôi là Trung Tá Nguyễn Hữu An, ông lấy máy chụp ảnh ra bảo Đại Úy Trạng chụp ảnh tôi và ông đang đứng trước đống chiến lợi phẩm, sau trận đánh mới biết cái máy ảnh không có phim trong đó.
Trong số những chiến lợi phẩm tịch thu được, có những quyển nhật ký. Qua những quyển nhật ký đó chúng tôi biết được họ thuộc Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt, cộng với 2 Trung đoàn 51 và 52 Đặc Công, có 1 thành phần của Sư đoàn 320 mà họ tự nhận là “Sư đoàn Thép” (Vào thời điểm đó, Sư đoàn 320 CSBV đang tham chiến ở mặt trận Kom Tum ngoài vùng 2), có những câu nhật ký mà tôi còn nhớ rõ qua cách đọc rất tếu của Thiếu Úy Hùng (Là người mang bút hiệu “Ngụy Sài Gòn” đang quậy tùm lum trên các báo chí hải ngoại đấy!): “Đoàn xe bọc thép của quân ngụy sài gòn mang hình đầu ngựa phun lửa,trong 3 ngày đầu đã tỏ ra hung hăng tàn ác... Nhưng những chiến sĩ anh hùng của ta quyết giáng cho chúng những đòn trừng trị đích đáng..”, rồi Hùng kết luận: “Sắt thép gì gặp mình cũng thành chuột lắt hết!” Cũng vui.
Hôm sau lại chạm súng lớn, chúng tôi bị tổn thất khá nặng. Phải rút về biên giới để tái tiếp tế, tái trang bị.
Nhìn những anh em bị thương nằm ngồi la liệt để chờ tản thương, bắt đầu là Đại Úy Măng, Tiểu Đoàn Trưởng 58 Biệt Động Quân, rồi Đại Úy Ron, Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn 1/2 TK. Riêng Chi Đoàn tôi đã bỏ 2 xe, phải đôn khinh kỵ lên làm xạ thủ đại liên,lính Biệt Động Quân thì trở thành khinh kỵ. Cũng được tăng cường thêm một số “tân binh” đang thụ huấn ở Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng ra.
Hôm sau lại tiến vào vùng lửa đạn, lại bị cầm chân. Có những cảnh tôi không quên được, như khi hay tin Chuẩn Úy Kỳ, 1 thiếu sinh quân tài hoa vừa bị thương, tôi chạy đến để gặp Kỳ thì nhìn thấy cảnh Kỳ đang nghiến răng dùng lưởi lê tự chặt vào phần xương dưới ống quyển còn dính lại để cho bàn chân rời hẳn đi cho đỡ khó chịu. Lúc đó lại nhận được tin người anh cả, Tướng Ngô Quang Trưởng vừa lên đường ra đảm nhận chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 1 với mặt trận Quảng Trị. Hôm sau thì Trung Tá An, Thiết đoàn trưởng, rời đơn vị và Thiếu Tá Nguyễn Văn Việt Tân lên thay thế.
Sau một tuần lễ giao tranh không có kết quả như mong muốn, lại bị tiêu hao từng ngày như thế, tôi nhận định: Quân cộng sản Bắc Việt đã sử dụng tối đa cách gài “chốt” trên trục tiến quân của chúng tôi. Những chốt dày đặc này có hiệu lực ngăn không cho bên trong ra, chận không cho bên ngoài vào, rồi khi có được những yếu tố thuận lợi như địa hình thích hợp thì những chốt đó sẽ kết hợp với lực lượng chủ động để tấn công tiêu diệt đối phương.Và cách đánh đó đã có hiệu quả ngăn chận sức tiến quân của chúng tôi! Rõ ràng là chúng tôi đã bị cầm chân và bị tiêu hao từng ngày. Như vậy, nếu muốn hoàn thành nhiệm vụ bắt tay với các đơn vị bạn bên trong, giảm thiểu thiệt hại để bảo toàn lực lượng thì chúng tôi phải vô hiệu hóa những chốt đó. Ở nội địa thì tôi đã từng nhiều lần sử dụng những toán “Lôi Hổ” của tôi để đánh đêm, tiêu diệt những cái chốt như thế. Nhưng đó là loại “chốt” lẻ tẻ để vây đồn, còn ở đây là cả một hệ thống chốt.
Trước tình thế đó, tôi thấy rằng, điều tiên quyết để bảo toàn lực lượng là phải bắt tay cho được Lữ Đoàn 4 Kỵ Binh và Liên Đoàn Biệt Động Quân, rồi cùng nhau đánh trở ra. Vì nếu chúng tôi vào bắt tay được với họ thì tình thế sẽ khác đi: Bắt tay được có nghĩa là lực lượng đang bị bao vây tại Kompong Trach và lực lượng đi giải tỏa là chúng tôi khi đó sẽ hợp thành 1 lực lượng lớn, thì việc đảo ngược tình thế là dễ dàng. Mà sau hơn 1 tuần giao tranh, tôi tin chắc là chúng tôi sẽ vào được, nếu quyết tâm! Đây chính là một cuộc Đọ SỨC VỀ TINH THẦN. Nếu nói về cuộc đọ sức về Kỷ Thuật, về Chiến Thuật thì dễ thôi: Cứ tận dụng khả năng di động cao, hỏa lực mạnh của Thiết Giáp làm lợi thế chính càn lướt qua các tuyến “chốt” của họ mà đi chứ nếu cứ dừng lại để thanh toán từng mục tiêu như mấy ngày qua thì biết đến bao giờ mới bắt tay được mà còn bị tiêu hao từng ngày.
Nghĩ sao làm vậy! Tối hôm đó tôi họp các Chi Đội Trưởng để nói về ý định của mình, rồi căn dặn:
– Chỉ còn 4 cây số nữa thôi là bắt tay được với Lữ Đoàn, phải cán lên đầu nó mà tràn vào, không cần dừng lại đánh đấm gì cả, xe nào bị bắn hư thì cứ bỏ, không cần kéo theo. Ngày mai chúng ta phải vô tới Kampong Trach!
Sau khi các Chi Đội Trưởng đi khỏi, tôi gọi 3 đệ tử ruột của tôi là Mảnh, Được và Ba đến:
– Nếu anh có chết, thì tụi em cố đem xác anh về cho chị Ba!
Những người em đã từng yêu cầu tôi đặt tên cho họ là toán “Lôi Hổ” đó đã nhìn tôi buồn bã...
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi dàn hàng ngang tiến vào những cụm vườn phía trước, không có tiếng súng bắn trả. Chúng tôi tiến sâu hơn, vừa tiến vừa tác xạ và Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn ở phía sau cũng tiến theo, Chi Đoàn của Đại Úy Cứ đi song song bên cánh phải. Vì những hố bom B52 dày đặc nên việc di chuyển hơi khó khăn, đến một ngôi chùa kế tiếp buộc chúng tôi phải thu hẹp đội hình để tránh những hố bom, thì từ trên sát nóc của ngôi chùa, một loạt đạn đại liên bắn thẳng xuống xe tôi, trúng vào phía sau lưng ghế tôi ngồi. Bằng động tác phản xạ, tôi phóng qua bên kia pháo tháp rồi nhảy xuống đất vừa núp vào thân xe vừa khoát tay bảo tài xế cứ tiếp tục chạy tới và tôi chạy theo bên hông, ngay sau đó Chi Đội của Thiếu Úy Hùng từ phía sau lập tức diệt ngay ổ súng. Trở lên xe thì chiếc ghế tôi ngồi vẫn còn đang bốc khói, đó là chiếc ghế của phi công trực thăng mà từ lâu chúng tôi lấy từ 1 chiếc trực thăng bị bắn rơi, đạn không xuyên qua được nhưng người ngồi ngay sau ghế tôi là Thiếu Úy Quyền, Tiền Sát Viên Pháo Binh thì bị bứt luôn hai chân! Sở dĩ họ chỉ nhắm bắn vào xe tôi là vì trong khi những xe khác chỉ có một ăng ten thì xe tôi có đến 5, họ biết ngay đó là xe chỉ huy.
Qua khỏi ngôi chùa khoảng 300 mét thì nhiều loạt đạn từ phía sau bắn rượt theo, có lẽ họ vừa hoàn hồn vì không ngờ chúng tôi lại cán lên đầu họ mà tiến. Còn hơn 2 cây số nữa là đến Kampong Trach, Chi Đoàn của Đại Úy Cứ bên cánh phải vừa bị bắn cháy 1 xe và anh đang dàn hàng ngang chuẩn bị thanh toán mục tiêu. Quyền Thiết ĐoànTrưởngbảo tôi án ngữ chờĐại Úy Cứ. Không thể dừng lại ở đó trong tình thế như vậy, vì như thế có khác nào đứng bất động làm bia cho địch nhắm bắn từ 4 phía, tôi lập tức nêu lên luận cứ của mình:
– Sắp vào đến nơi rồi mà ở đó lo thanh toán nó là sẽ bị nó cầm chân. Đó là chưa nói đến chuyện ở phía sau mình tụi nó vẫn còn nằm nguyên đó, mình chỉ cán qua đầu nó mà đi thôi, chứ chưa dứt điểm nó. Có nghĩa là mình coi như bị lọt giữa vòng vây, nằm lại đây chỉ làm bia cho nó bắn!
Tôi đề nghị bỏ mấy con chuột lắt đó đi, cứ tiếp tục cán qua đầu nó mà tiến. Bắt tay được rồi, tôi bảo đảm khi trở ra, mấy con chuột đó mà ló đuôi con nào là tôi sẽ chặt đuôi vạt mõm con nấy. Mấy ngày nay cho thấy tụi nó chỉ là chuột lắt thôi chứ không phải “Sư Đoàn Thép”, Trung Đoàn Đặc Công con khỉ gì đâu.
Quyền Thiết Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Việt Tân đồng ý, thế là chúng tôi tiếp tục tràn lên. Từ những phòng tuyến, cộng quân đã bắn trả theo kiểu chỉa súng lên trời mà bắn chứ không dám ngóc đầu lên để nhắm bắn vì lưới lửa của chúng tôi dày đặc. Tràn qua hết phòng tuyến này đến phòng tuyến khác, còn 1 cây số nữa là sẽ bắt tay đơn vị đầu tiên ở bên trong. Chúng tôi yêu cầu họ trú ẩn để tránh đạn cho đến khi chúng tôi vượt qua khỏi họ, vì chúng tôi vừa tiến vừa tác xạ chứ không thể ngưng bắn được. Quả thật đối phương đã bất ngờ, chúng không làm gì được ngoài việc bắn vét đuôi chúng tôi với những loạt đạn vu vơ nghe như những tiếng thét vô vọng. Trong niềm vui đang dâng tràn tôi đã đứng lên chộp lấy một trái xoài chín khi xe tôi đang tiến dưới bóng một cây xoài rồi quay nhìn về phía sau, nơi xuất phát những loạt đạn vớt vát đó, tôi nghĩ đó có thể là những cái chốt đã ngăn chận các đơn vị bị vây bên trong. Và cuối cùng, mấy chiếc M113 của đơn vị bạn hiện ra lù lù phía trước. Chiếc xe đầu tiên mà tôi gặp là xe của Đứa, người bạn thân khi 2 chúng tôi còn là Chi Đội Trưởng. Sau khi bố trí đơn vị, tôi cặp sát vào xe của Đứa. Đứa đang đứng dưới đất chờ tôi, hai anh em tay bắt mặt mừng bất kể những trái đạn pháo của họ đang nổ chụp ngay trên đầu.
Khoảng nửa giờ sau, khi tôi và Đứa vẫn còn đang đứng đấu hót, thì một chiếc C130 từ hướng Kampong Trach rà sát ngọn cây bay về hướng Hà Tiên sau khi thả đồ tiếp tế xuống cho các đơn vị trong Kompong Trach, thì cả một vùng chung quanh tôi rộ lên những tiếng súng nhỏ, súng đại liên bắn lên chiếc máy bay. Với số lượng tiếng súng nổ như thế, ít lắm cũng phải có cả ngàn tay súng. Nhìn chiếc máy bay khổng lồ bay sát ngọn cây trong rừng đạn bắn lên như thế, ta mới thấy được sự hy sinh của những người phi công như thế nào. Tôi chợt nhớ lại hình ảnh mấy chiếc trực thăng bị bắn rơi mà tôi vừa đi ngang qua lúc nãy.
Có một chuyện buồn cười là chiều hôm đó, bọn VC nhảy vào hệ thống truyền tin nội bộ của Chi Đoàn tôi rồi điều động như thể họ đang tiến sát để... diệt gọn chúng tôi vậy. Thế là mấy Chi Đội Trưởng Nguyên, Hạnh, Diện, Hùng, Lộc được dịp đấu khẩu tiếu lâm cho đến khi họ im, và chúng tôi phải thay đổi tần số truyền tin. Tôi vẫn tưởng đêm đó sẽ là đêm không ngủ, vì chắc chắn họ sẽ “dàn chào” chúng tôi. Nhưng không hiểu sao họ đã im lặng, có lẽ vì tổn thất của họ đã quá lớn. Ngày hôm sau, chúng tôi án ngữ hai bên trục lộ để yểm trợ cho các đơn vị bên trong triệt thoái về Hà Tiên, tôi cũng đã gửi những thương binh, tử sĩ của đơn vị tôi theo họ về trước, vì chúng tôi còn phải ở lại.
Cuộc triệt thoái đã diễn ra êm thắm vì cộng quân đã rút đi trong đêm đó. Sau đó đơn vị tôi cũng trở về nội địa, giữ Quốc lộ 4 từ Trung Lương đến Bắc Mỹ Thuận, cũng là để nghỉ dưỡng quân. Trong một tối nhậu ở quán của Mỹ Tiên tại Trung Lương, Thân đã ra vườn mận phía sau quán cởi bỏ cái tượng Phật, không đeo nó nữa. Mỹ Tiên đã phải cầm đèn đi ra tìm, nhưng không gặp.
Nhưng có điều là sau đó một tháng thì Thân bị thương ở Kompong Trabek, 1 mảnh đạn ghim vô ngực, phải về nằm bệnh viện, bỏ lỡ dịp đi giải tỏa quận Kiên Lương và nhà máy xi măng Hà Tiên ngay sau đó. Khi đơn vị tôi đánh bật địch ra khỏi quận Kiên Lương, chiếm lại nhà máy xi măng thì Thân mới trở ra đơn vị.
Để cho tâm hồn được thanh thản, cũng là để thực hiện lời hứa với một người bạn đã chết, và trên hết vì nỗi khổ đau của những người vợ, những đứa con, những người thân của bao nhiêu chiến sĩ đã tử trận ở Kompong Trach trong mùa Hè 1972 đó, tôi xin nói lên một sự kiện đau lòng sau đây để nhắc nhớ quý vị niên trưởng của chúng tôi, những cấp chỉ huy, trong Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn trú đóng tại Kompong Trach: Là quý vị đã bỏ rơi Tiểu Đoàn 94 BĐQ. Tiểu Đoàn BĐQ nầy nằm giữ phía Bắc Kompong Trach không hề hay biết về cuộc triệt thoái. Khi quý vị đã an toàn về đến VN thì Tiểu Đoàn 94 BĐQ bị quân CSBV xâm lược cường tập dứt điểm. Đại úy Lâm, Tiểu Đoàn Phó tử trận cùng bao nhiêu chiến sĩ BĐQ. Mãi đến hôm sau Thiếu Tá Ngọc, Tiểu Đoàn Trưởng cùng khoảng 10 chiến sĩ sống sót thất thểu ra đến xe tôi. Hình ảnh Thiếu Tá Ngọc đến bên xe tôi, không nói một lời, nặng nề cởi nón sắt và buông rơi xuống đất. Rồi ngồi bệt xuống đất gục đầu trong khổ đau bi hận đã khiến cho anh em chúng tôi cảm thấy mình bị phản bội bởi những cấp chỉ huy mà chúng tôi vừa vào sinh ra tử để cứu họ.
Ít ra quý vị cũng phải báo cho chúng tôi biết còn 1 Tiểu Đoàn 94 BĐQ tại Bắc Kampong Trach để chúng tôi khỏi bắn lầm vào họ khi họ xuất hiện từ xa. Chúng tôi đã bắn vào họ như thế đấy. Chúng tôi không thể hiểu tại sao Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn lại phải hy sinh nguyên 1 Tiểu Đoàn BĐQ khi mà chiến trường đã được giải tỏa. Chúng tôi thấy không cần thiết phải hy sinh một Tiểu Đoàn như thế.
Xin đừng bao giờ nhắc đến những chiến công của quý vị nữa, mà hãy đếm xem có bao nhiêu con người đã phải chết tức tưởi vì quý vị. Bên cạnh những cái chết oan khiên đó là bao nỗi khổ đau vô vàn của những người vợ góa, con côi, những cha mẹ, anh chị em ruột thịt, cùng những người thân yêu của họ còn ở lại...
Dẩu biết rằng chiến tranh là có chết chóc, có thương đau, là chia ly vĩnh biệt nhưng sao nghe nghẹn ngào và cay đắng quá!!!
Điền ĐôngPhương
Mùa Hè 1972
----
Kampong Trach theo Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất:
Khoảng một tuần sau khi bài được đăng trên một số báo và diễn đàn Việt ngữ Internet, tôi nhận được email của Chuẩn tướng Phạm Duy Tất, vị chỉ huy trận chiến Kampong Trach. Email của Chuẩn tướng Tất có vài điều tôi đã không viết trong bài “Kampong Trach 1972”, và vì ông có ghi chú bên ngoài là “tùy nghi xử dụng” nên tôi quyết định gởi đăng lá thơ của ông lên những nơi đã từng đăng bài “Kampong Trach 1972” hầu quý vị từng đọc bài có thêm dữ kiện, cũng như hiểu được tâm tư của người chỉ huy trận chiến này.
Ghi chú: Bút hiệu Linh Cơ ký dưới bài chính là danh hiệu truyền tin của Chuẩn tướng Phạm Duy Tất trong thời kỳ ông đang chỉ huy lực lượng Biệt Động Quân ở Quân đoàn 4 & Quân khu 4.
-----
Anh Đỗ Sơn,
Tôi đã đọc được bài Kampong Trach 1972 anh viết, bồi hồi nhớ lại một đoạn khó quên trong quãng đời chiến binh của mình. Gởi anh thêm một vài chi tiết có thể anh không rõ, không nhớ, hoặc anh chưa từng nghĩ đến về trận Kampong Trach. Chắc anh còn nhớ tôi đã trả lời với các Phóng viên ở Nam California nhân dịp về tham dự Đại Hội Biệt Động Quân: Là bại tướng thì nói gì cũng là bại tướng. Nhưng được gợi hồi tưởng lại trận Kampong Trach thì tôi lại muốn nói, nói những lời chưa có cơ hội nói.
Cho đến giờ này hẳn chưa ai quên Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, mỗi khi nhắc đến không ai khỏi chạnh lòng, ngậm ngùi về sự khốc liệt của chiến tranh. Năm 1972 là năm cuộc chiến Nam-Bắc đã lên đến cực điểm. Tổng bí thư Lê Duẫn và đảng Cộng Sản Việt Nam thật vô cùng tàn ác đẩy hàng vạn người dân Việt Nam của cả hai miền vào cảnh chết chóc chưa từng thấy. Họ mơ ước, nôn nóng nhuộm đỏ cả nước Việt Nam càng sớm càng tốt để dâng công lên quan thầy. Giữa hai lực đối trọng to lớn là Liên Xô và Trung Cộng, đảng Cộng Sản Việt Nam chơi trò đu dây và khiến nhân dân miền Bắc lầm tưởng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là “Độc Lập” qua khẩu hiệu “Chống Mỹ Cứu Nước”.
Quá bất ngờ đến bàng hoàng cho toàn đảng Cộng sản Việt Nam khi hệ thống Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Xô sụp đổ, biến dạng trên địa cầu. Nhưng thật không may, một nước cộng sản to lớn, Trung Cộng, vẫn còn tồn tại. Dần dần đảng Cộng sản Việt Nam muốn thoát hiểm thì phải bám víu vào họ, vô hình chung lọt vào cái lưới thiên la địa võng của Trung Cộng mà cả nước Việt Nam ngày nay đang giãy dụa.
Trở lại với Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, nói đến trận chiến khốc liệt này mọi người liên tưởng ngay đến 3 mặt trận lớn là An Lộc, Kontum, và Quảng Trị. Chưa đủ, còn một mặt trận nữa là chiến trường Kampong Trạch – Hà Tiên do BĐQ và KB của QĐ4/QK4 chiến đấu. Tôi không nghiên cứu để hiểu 4 mặt trận đâu là chính đâu là diện. Kampong Trach là một địa danh xa lạ, một thị trấn quá nhỏ bé nằm trên đất Kampuchia cách Hà Tiên về phía Đông Bắc khoảng 14 cây số.
Trận chiến Kampong Trach cũng khá khốc liệt về cường độ. Lực lượng tham chiến có Liên đoàn 42 BĐQ/ Chiến Thuật được tăng phái 1 chi đoàn thiết quân vận M113 đối đầu với 1 sư đoàn chính quy Cộng Sản Bắc Việt được tăng cường. Có thể nói bên ta 1 chọi 5. Khởi đầu mặt trận này do Đại Tá Vũ Quốc Gia, Tư Lệnh Lữ Đoàn 4 Kỵ Binh chỉ huy, Bộ Chỉ Huy Hành Quân đóng tại Tô Châu, Hà Tiên. Biệt Động Quân QK/4 có Bộ Chỉ Huy Hành Quân đóng tại trại Chi Lăng (vùng Thất Sơn, Châu Đốc), có Bộ Chỉ Huy Hành Quân nhẹ đóng tại bến phà Neak Luong trên đất Kampuchia chịu trách nhiệm vùng biên giới từ tỉnh Kiến Tường (Mộc Hóa) đến tỉnh Kiến Phong (Cao Lãnh).
Hai lực lượng BĐQ và KB đều dưới quyền chỉ huy của Tướng Trần Văn Hai, Tư lệnh Biệt khu 44. Tôi được Tướng Hai đưa vào Kampong Trach khi chiến trận đã lên đến cao điểm và nắm quyền chỉ huy.
Đề cập đến tương quan lực lượng thì tôi xin nói rõ về lực lượng và khả năng của BĐQ Biên Phòng một chút để thấy sức chiến đấu, tinh thần chiến đấu của anh em chiến sĩ BĐQ Biên Phòng rất kiên cường trong trận Kampong Trach. Nói đến Biệt Động Quân hầu như ai ai cũng có ý nghĩ đây là những đơn vị thiện chiến, mũi nhọn, đầu sóng ngọn gió. BĐQ luôn luôn là tuyến đầu xung trận. Quả đúng như vậy! Đó là BĐQ ở các Liên đoàn 1, 2, 3, 4, 5 đã dày dạn chiến trận mấy chục năm qua. BĐQ Biên Phòng thì khác. Là những đơn vị vừa được cải tuyển thành BĐQ từ năm 1970, họ là những Biệt Kích Quân Dân Sự Chiến Đấu ở các trại Biên Phòng/Lực Lượng Đặc Biệt. Họ chưa từng được tổ chức thành tiểu đoàn, chỉ hành quân nhỏ, phục kích, thám sát, chận đứng và tiêu diệt những cuộc xâm nhập nhỏ xuyên biên giới, từng đoàn ít người trong phạm vi vùng trách nhiệm của trại. Họ chưa có kinh nghiệm đánh cấp đại đội, tiểu đoàn, nói chi là liên đoàn, tùng thiết phối hợp với thiết quân vận thì rõ ràng là xa lạ, trang bị của họ cũng rất nhẹ nhàng.
Từ cuối năm 1970, ý thức được tình hình đã biến đổi, Cộng Sản Bắc Việt không còn xâm nhập từng đoàn nhỏ vài chục người hoặc đông hơn khoảng 100 người. Bắc Việt nay xâm nhập cấp trung đoàn, sư đoàn cho nên tôi đã cơ động hóa các tiểu đoàn biên phòng để vừa hành quân vừa học hỏi kinh nghiệm đánh cấp đại đội, tiểu đoàn và nếu cần có thể đánh cấp liên đoàn. Các tiểu đoàn này chưa được gởi đi huấn luyện bổ túc tại Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ Dục Mỹ để chính quy hóa. Vì vậy mà có LĐ42 BĐQ CT để tham chiến mặt trận Kampong Trach, tăng phái cho LĐ4 KB.
Nói về quân số cũng là một vấn đề. Tiểu đoàn thuộc các Liên Đoàn 1, 2, 3, 4, 5 đều có cấp số 800 thì khả năng tham chiến mới được 500. Ngược lại cấp số tiểu đoàn BP chỉ là 500 thì khả năng hành quân không hơn không kém 300 và chỉ trang bị nhẹ.
Với tương quan lực lượng như vậy mà LĐ42 BĐQ CT đã tạo được thành tích có thể nói “thần kỳ”.LĐ đã không bị đánh tan và không bị tiêu diệt. Ngược lại đã gây tổn thất nặng nề cho SĐ1CSBV,chận đứng họ tại Kampong Trach, bẻ gãy kế hoạch của họ làm tiêu tan mục tiêu của BV đã đề ra, đánh chiếm Hà Tiên Kiên Lương để xây một bến cảng cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Do tình hình các mặt trận trên toàn cõi Việt Nam Cộng Hòa tương đối lắng dịu, quân ta đã làm chủ được trận địa, SĐ1 CSBV tại Kampong Trach cũng đã yếu thế, không còn khả năng tấn công mạnh nên QĐ4 đã cho lệnh rút lui lực lượng khỏi Kampuchia.
Thấy quân ta rút lui, SĐ1 CSBV tuy đã yếu thế nhưng cố vớt vát tiến chiếm Kiên Lương, cơ sở Xi Măng Hà Tiên. LĐ42 BĐQ/CT vừa trở về chưa được dưỡng quân thì lập tức nhận lệnh tăng phái cho Sư đoàn 9 Bộ Binh dưới quyền Tướng Trần Bá Di, rồi được điều động đến Kiên Lương để giải tỏa khu vực này. Trung tá Trần Kim Đại cùng với LĐ nhanh chóng đến Kiên Lương để lâm trận. Bản thân tôi và Bộ Chỉ huy nhẹ không còn trách nhiệm gì trên mặt trận này,trở về Bộ Chỉ huy Hành quân ở Thất Sơn với trách nhiệm, nhiệm vụ cũ trước đây.
Có lẽ Tướng Di hiểu quá rõ khả năng và sở trường của Biệt Động Quân Biên phòng nên đã ra 1 lệnh cho Trung tá Đại vô cùng khắc nghiệt tưởng chừng như khó thực hiện được hay ít nhất cũng phải chấp nhận một tổn thất cao. Ấy thế mà Trung tá Đại thì bình tĩnh lắm, tự tin là khác. Lệnh ban ra là: BĐQ phải tái chiếm hãng Xi Măng Hà Tiên nguyên vẹn không được làm hư hại bất cứ thứ gì, có nghĩa là Trung tá Đại không được xử dụng Pháo binh, không được gọi Không quân yểm trợ, không được xử dụng vũ khí nặng. Ấy vậy mà Trung tá Đại và LĐ42 BĐQ/CT tạo được một chiến công “thần kỳ” thứ hai. Chỉ vỏn vẹn trong vài ngày ngắn ngủi, LĐ42 BĐQ/CT đã chiếm lại hoàn toàn cơ sở Xi Măng Hà Tiên, đánh tan lực lượng CS khiến họ phải tháo chạy về biên giới.
Thật ra các Tiểu đoàn BĐQ/BP còn thiếu kinh nghiệm về lối đánh trận địa chiến nhưng có quá nhiều kinh nghiệm về đánh đêm, đánh biệt kích. Chính đó là sở trường của họ mà Tướng Di đã phát huy. Trung tá Đại đã hoàn thành mệnh lệnh của Tướng Di thật hoàn hảo, xuất sắc. Tuy tôi không có trách nhiệm trong trận chiến này nhưng vùng biên giới vốn là trách nhiệm thường xuyên của tôi trong nhiều năm qua nên địa hình, địa vật trong khu vực này tôi quen thuộc lắm.
Sau khi Trung tá Đại nhận lệnh từ Tướng Di, liền cấp tốc báo cáo cho tôi. Trung tá Đại thì có vẻ tự tin nhưng tôi không thể không lo cho quân của mình dù đã tăng phái. Phản ứng thật nhanh, tôi yêu cầu SĐ9 BB chấp thuận cho tôi điều động Tiểu đoàn 86 BĐQ/BP thuộc trại Bình Thạnh Thôn do Thiếu tá Tạ Thành Lộc chỉ huy thuộc LĐ41 BĐQ/CT đóng tại Mộc Hóa trực thăng vận chớp nhoáng vào chiếm lĩnh núi Hòn Cọp. Gọi là núi nhưng thật sự là một ngọn đồi thấp nằm chận giữa con đường Kiên Lương đến Hà Tiên. Nơi đây là cơ sở chỉ huy trạm xá tiền phương, tiếp vận, giao liên, con đường tiến thối của đối phương. Cuộc đổ quân thật bất ngờ và táo bạo của TĐ86 BĐQ/BP, Thiếu tá “Paul Húc” Tạ Thành Lộc và quân của ông ta chỉ xoãi có chục bước đã chiếm lĩnh ngay rặng đồi này, đánh tan tành quân CS. Cũng phải nói thêm, Trung tá Đại, nhờ sự hỗ trợ rất tích cực của “Paul Húc”Tạ Thành Lộc và TĐ86 BĐQ/BP, đã kết thúc hoàn toàn trận chiến Kampong Trach một cách nhanh chóng vẻ vang.
Có thể nói rằng dân chúng miền Tây vẫn được vui hưởng thái bình vào lúc đó là nhờ vào trận Kampong Trach trong khi các mặt trận khác tuy bề ngoài có vẻ lắng dịu nhưng thực tế thì vẫn rất căng thẳng.
Thật là một điều không vui cho quân dân miền Tây nói chung, BĐQ nói riêng, vì sự thay đổi bất ngờ của hệ thống chỉ huy QĐ4/QK4. Tướng Trưởng được điều động ra làm Tư lệnh QĐ1/QK1, Tướng Trần Văn Hai rời BK44, Trung tá Trần Kim Đại đi nhận chức Liên đoàn trưởng LĐ1 BĐQ ở QK1. Riêng tôi đi nhận chức vụ Chỉ huy trưởng BĐQ/QK2, tại đây lập tức tham chiến vào mặt trận Kontum, BĐQ/QK2 chịu trách nhiệm mở đường Quốc lộ 14, giải tỏa cụm chốt tại núi Chu Pao. Cùng LĐ21 BĐQ/BP do Trung tá Nguyễn Văn Lang chỉ huy và TĐ90 BĐQ/BP của Đại úy Phan Bát Giác đã khai thông Quốc lộ 14 mở đường cho chuyến tiếp vận đầu tiên từ Pleiku vào Kontum bằng đường bộ.
Vào thời điểm này năm xưa, BĐQ QK 4, đặc biệt là LĐ 42 BĐQ/CT – TĐ58 BĐQ – và TĐ86 BĐQ/BP, tôi không biết các anh em này nghĩ gì nhưng chắc rằng họ bị hụt hẫng đôi chút. Chẳng còn ai nhắc nhở đến trận chiến khốc liệt tại Kampong Trach,không ai đề cập đến những chiến sĩ đã hy sinh còn nằm lại trên vùng đất lạnh của xứ Chùa Tháp, những anh em chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu tại chiến trường này may mắn còn sống sót.
Chiến trường Kampong Trach đã bị lãng quên không phải bây giờ mà ngay từ dạo ấy...
Hình như Biệt Động Quân muôn thuở là vậy đó. Họ chưa có tiếng nói mặc dù BĐQ là một đại đơn vị, một binh chủng lớn. Họ chiến đấu và tiếp tục chiến đấu cho đến khi lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh ban ra. Thôi thì hãy gióng lên tiếng than “Ôi”... Không biết anh em BĐQ có đồng tình như vậy không?
Gần 40 năm qua không ai nhắc đến danh từ Kampong Trach nhưng tôi chắc những người lính Kỵ Binh, Không Quân, Pháo Binh, Công Binh, Biệt Động Quân...đã từng tham chiến ở đó không thể quên, thân nhân bao chiến sĩ đã hy sinh, thân xác còn nằm lại nơi xứ người không bao giờ quên. Chúng ta thì chưa làm được gì cho họ trong lúc này. Ngậm ngùi thay!!
Đúng là không thể quên cho nên thật bất ngờ, ông bạn KB Điền Đông Phương đã gợi lại Kampong Trach. Tôi không hiểu ông bạn KB Điền Đông Phương suy nghĩ gì, ý tưởng của ông ta ra sao khi viết về trận chiến. Tuy vậy tôi rất chân thành và vô cùng cám ơn ông bạn KB Điền Đông Phương đã nhắc lại khiến BĐQ Đỗ Như Quyên, BĐQ Trần Duy Hòe và BĐQ Đỗ Sơn chạnh lòng, có động cơ để nhớ lại, nghiên cứu, tham khảo thêm mà viết lại cho tương đối hoàn chỉnh hầu giúp cho Quân Sử QLVNCH không bị bỏ sót.
May lắm thay! Đáng lý Đỗ Sơn đã phải viết đến từ lâu lắm khi Tướng Trưởng còn sinh thời. Tôi biết Tướng Trưởng rất muốn viết về Kampong Trach. Sau thời gian tôi đến được Hoa Kỳ (1993) tôi đã có gặp Tướng Trưởng nhiều lần. Lần nào gặp tôi Ông cũng nhắc nhở trận Kampong Trach và nói cám ơn tôi về sự có mặt của tôi ở đó. Không phải một lần mà lần nào cũng vậy, Tướng Trưởng nói và tôi ngồi suy tư.Tôi thật tình không muốn tìm hiểu Ông đang suy nghĩ gì, nhưng phải chăng Tướng Trưởng đang ân hận rằng mình đã rời chức vụ Tư lệnh QĐ/QK4 quá đột ngột nên có điều chưa làm được của một vị Tư lệnh đối với anh em chiến hữu?
LINH CƠ
Phạm Duy Tất
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét