Tổng thống Mỹ Donald Trump đã điều động một lực lượng hải quân và không quân quy mô lớn áp sát Iran, và giờ đây ông phải quyết định sẽ sử dụng hỏa lực mạnh mẽ này như thế nào. Câu hỏi đang được chú ý là nếu ra lệnh tấn công, ông sẽ nhắm vào việc phá hủy chương trình hạt nhân của Iran, lật đổ chính quyền hiện tại ở Tehran, hay kết hợp cả hai mục tiêu. Tàu sân bay USS Abraham Lincoln (CVN-72) của Hải quân Mỹ đang di chuyển trên Đại Tây Dương trong một cuộc tập trận vượt eo biển vào ngày 30/1/2019. (Nguồn ảnh: U.S. Navy photo by Mass Communication Specialist 3rd Class Clint Davis, Public domain, qua Wikimedia Commons)
<!>
Với việc nhóm tác chiến tàu sân bay USS Abraham Lincoln gần đây tiến vào khu vực trách nhiệm của Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (Centcom), sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Trung Đông đã được tăng cường thêm một bước; nhiều khu trục hạm khác đang áp sát Iran, trong khi Washington cũng triển khai thêm tiêm kích, hệ thống phòng không và máy bay không người lái đến khu vực, qua đó mở rộng đáng kể các lựa chọn tấn công – phòng thủ của ông Trump đối với Iran.
Ông Trump đang cân nhắc những phương án tấn công nào?
Theo The Wall Street Journal, các quan chức chính phủ Mỹ cho biết Washington đang thảo luận xem mục tiêu chính của bất kỳ chiến dịch quân sự nào sẽ là: triệt hạ chương trình hạt nhân của Iran, phá hủy kho tên lửa đạn đạo, lật đổ chính quyền, hay là phối hợp cả ba. Các quan chức nói rằng ông Trump đã yêu cầu các phụ tá xây dựng những phương án tấn công nhanh, dứt khoát: vừa đủ để cho phép quân đội hành động, vừa tránh đẩy Mỹ vào một cuộc chiến kéo dài ở Trung Đông. Phương án “lý tưởng”, theo mô tả của họ, là giáng đòn nặng nề vào chế độ Iran đến mức họ buộc phải nhượng bộ trước các yêu sách của Mỹ về vấn đề hạt nhân và chấm dứt đàn áp giới bất đồng chính kiến.
Họ cũng xem xét khả năng tiến hành một chiến dịch ném bom trừng phạt đủ mức có thể làm sụp đổ chính quyền Tehran. Bản thân ông Trump và ê kíp của ông đã tính tới việc sử dụng sức ép quân sự để buộc Iran phải nhượng bộ trên bàn đàm phán.
Tổng thống đã được nghe báo cáo về các kịch bản tấn công tiềm tàng do Nhà Trắng và Lầu Năm Góc xây dựng chung. Theo các quan chức, trong đó có một “kế hoạch lớn” (big plan), tức một chiến dịch không kích quy mô rộng nhắm vào các cơ sở của chính quyền Iran và lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC).
Những phương án hạn chế hơn bao gồm các đòn tấn công nhằm vào một số mục tiêu mang tính biểu tượng của chế độ, qua đó vẫn chừa “không gian leo thang” về sau: nếu Tehran không chấp nhận một thỏa thuận mà ông Trump cho là hài lòng, Mỹ có thể từng bước nâng mức độ tấn công.
Quyết định cuối cùng sẽ do Tổng thống Trump đưa ra. Một quan chức cấp cao nói rằng, dù ông liên tục tuyên bố Iran“không được phép sở hữu vũ khí hạt nhân”, ông cố ý duy trì sự mơ hồ về lập trường để khiến bên ngoài khó nắm bắt mục tiêu chiến lược cũng như toan tính quân sự của mình.
Tại Phòng Bầu dục hôm thứ Sáu, khi được hỏi bao giờ Mỹ có thể rút các chiến hạm khỏi Trung Đông, ông Trump trả lời: “Chúng (tàu chiến Mỹ) rồi cũng phải neo đâu đó chứ. Vậy thì cứ ở gần Iran cho tiện.”
Trong nhiệm kỳ thứ hai, ông Trump đã ra lệnh tấn công nhiều mục tiêu ở Yemen, Iran, Venezuela, Syria, Somalia và Nigeria, thường không có bài phát biểu giải thích trước cũng như không xin Quốc hội ủy quyền riêng cho từng chiến dịch.
Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Tướng Dan Caine, cùng các cố vấn quân sự khác của Tổng thống đã giúp Nhà Trắng giành được nhiều thắng lợi chiến thuật bằng cách dựa vào các chiến dịch tập kích được chuẩn bị trong nhiều tháng, nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro cho binh sĩ Mỹ.
Theo The Hill, tướng không quân về hưu Richard Y. Newton, cựu trợ lý Phó Tham mưu trưởng Không quân, nhận định rằng nếu ông Trump bật đèn xanh cho một chiến dịch tấn công Iran, các mục tiêu nhiều khả năng sẽ là hệ thống phòng không, năng lực phòng thủ và phóng tên lửa đạn đạo, cơ sở sản xuất UAV, các đơn vị IRGC và thậm chí cả lãnh đạo lực lượng này.
Michael Eisenstadt, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Quân sự và An ninh tại Viện Washington, nói với The Hillrằng Iran sở hữu một lượng lớn máy bay không người lái; bảo vệ các căn cứ Mỹ rải khắp khu vực khỏi các đòn tập kích UAV dày đặc và đa hướng sẽ là thách thức không nhỏ.
Mỹ đã triển khai những lực lượng nào gần Iran?
Việc triển khai nhóm tác chiến tàu sân bay Lincoln đã tăng cường đáng kể hỏa lực của Mỹ trong khu vực. Tàu sân bay này mang theo một không đoàn gồm nhiều phi đội máy bay ném bom và cảnh báo sớm, đồng thời được trang bị bệ phóng tên lửa phòng không RIM-162 ESSM (“Sea Sparrow” cải tiến). Đi kèm là ba tàu khu trục, mỗi chiếc đều mang tên lửa hành trình tầm xa Tomahawk.
Không đoàn trên tàu Lincoln bao gồm tiêm kích tàng hình F-35C Lightning II, máy bay cảnh báo sớm E-2D Hawkeye (có thể phát hiện sớm tên lửa, tiêm kích hoặc UAV Iran đang áp sát), tiêm kích F/A-18 Super Hornet dùng cho các đòn đánh chính xác, trực thăng MH-60R/S Seahawk và máy bay cánh quạt xoay CMV-22B Osprey.
F-35 là loại chiến đấu cơ tối tân nhất trên tàu Lincoln, có thể xâm nhập không phận đối phương một cách khó bị phát hiện, mang theo tên lửa diệt hạm tầm xa, đồng thời đóng vai trò “bộ não” chỉ huy tác chiến trên không.
“Chúng có thể thu thập thông tin từ hệ thống cảm biến của chính mình, kết hợp với dữ liệu từ các nền tảng trên bộ, trên không và trên biển, rồi tổng hợp thành bức tranh tình báo chung đưa ra ngoài,” ông Seth Jones, một cựu quan chức từng phục vụ trong Lực lượng Đặc nhiệm Mỹ và tại Lầu Năm Góc, cho biết.
Ông Newton gọi đây là một “bộ nhân lực chiến đấu” (force multiplier) thực thụ.
Hình ảnh vệ tinh thương mại của Planet Labs mà The Hill thu được cho thấy hôm thứ Sáu (30/1) có ba chiếc Osprey đang đậu tại sân bay Duqm ở Oman.
Dữ liệu theo dõi chuyến bay cũng cho thấy Mỹ đã điều thêm tiêm kích F-15 và nhiều loại máy bay vận tải đến khu vực, mở rộng hơn nữa những lựa chọn tác chiến mà Tổng thống có trong tay đối với Iran.
Hôm thứ Năm (29/1), hai khu trục hạm mang tên lửa dẫn đường lớp Arleigh Burke là USS McFaul và USS Mitscher hoạt động gần eo biển Hormuz, trong khi USS Bulkeley và USS Roosevelt có mặt ở phía đông Địa Trung Hải; Bộ Tư lệnh Trung tâm cho biết khu trục hạm USS Delbert D. Black, cũng thuộc lớp Arleigh Burke mang hệ thống Aegis, hiện đang triển khai trong khu vực trách nhiệm của Hạm đội 5 của Mỹ.
Theo Trương Đình / Epoch Times
Liệu chính sách “Nước Mỹ trên hết” có đang phản tác dụng khi các đồng minh của Washington bắt đầu hành động độc lập?
Thứ Bảy, ngày 31 1 m 2026 - Holly Ellyatt
- Chính sách thương mại và đối ngoại “Nước Mỹ trên hết” của Trump đã làm xa lánh các đồng minh, với thuế quan trừng phạt và những lời chỉ trích lặp đi lặp lại, khuyến khích họ tăng cường mối quan hệ với nhau.
- Năm mới chứng kiến một số quốc gia và khối quyền lực tăng cường quan hệ và thỏa thuận thương mại, nhưng không có Mỹ.
- Sự bất ổn và khó đoán của Trump, cũng như thuế quan và các mối đe dọa lãnh thổ, đã khiến các đồng minh trước đây lo ngại.
Mỹ đang ngày càng trở nên cô lập hơn trong các mối quan hệ địa chính trị và thương mại toàn cầu khi các đồng minh đánh giá lại mối quan hệ của họ với nền kinh tế lớn nhất thế giới và xem xét việc hành động độc lập.
Năm mới chứng kiến một số quốc gia và khối quyền lực tiến hành thiết lập lại quan hệ, tăng cường quan hệ thương mại và đối tác thương mại, gạt bỏ một nước Mỹ thù địch và bất ổn hơn. Chúng bao gồm “thỏa thuận sơ bộ” của Trung Quốc với Canada và sự hòa giải với Anh, cũng như các thỏa thuận của Liên minh châu Âu với Ấn Độ và các quốc gia Nam Mỹ.
Những thỏa thuận và đàm phán đó diễn ra sau một năm thực hiện chính sách thương mại và đối ngoại “Nước Mỹ trên hết” của Tổng thống Mỹ Donald Trump trong nhiệm kỳ thứ hai của ông, trong đó Nhà Trắng đã áp đặt thuế quan trừng phạt đối với cả bạn bè và kẻ thù, và thậm chí cả những mối đe dọa lãnh thổ, khi khẳng định sự thống trị kinh tế và địa chính trị của mình.
Nhưng chiến lược đó có thể đang phản tác dụng, đặc biệt là khi các bạn bè và đối tác của Mỹ tìm cách đa dạng hóa chính sách thương mại của họ, phần lớn là để tự bảo vệ mình khỏi sự khó đoán của Trump.
“Với những gì đang xảy ra với Mỹ và chính sách đối ngoại của nước này, được thể hiện trong Chiến lược An ninh Quốc gia được công bố gần đây... các ‘cường quốc tầm trung’ cần phải tìm ra hướng đi riêng và tìm ra những cách tiếp cận khác nhau”, Damian Ma, giám đốc Carnegie China, một trung tâm nghiên cứu có trụ sở tại Đông Á, nói với CNBC hôm thứ Năm.
“Các quốc gia sẽ liên kết dựa trên những lợi ích cụ thể, riêng lẻ, chứ không phải dựa trên sự liên kết toàn diện dựa trên các giá trị”, ông nói, lưu ý rằng mặc dù đây không phải là sự trở lại với tâm lý Chiến tranh Lạnh chia rẽ các khối quyền lực đối lập, mà là sự “điều chỉnh lại” lợi ích quốc gia. “Việc điều chỉnh lại và thiết lập trạng thái cân bằng mới đó sẽ kết thúc ở đâu thì không ai có thể đoán được, nhưng chúng ta đang thấy các quốc gia bắt đầu có những động thái cuối cùng. Anh và Canada sẽ không phải là những quốc gia duy nhất,” ông nói, dự đoán sẽ có “một loạt các quốc gia điều chỉnh lại cách tiếp cận của họ” đối với các siêu cường như Trung Quốc và Mỹ.
Ngoại giao, không có Trump
Việc điều chỉnh lại đó chắc chắn đã tăng tốc trong thời gian gần đây với hàng loạt hoạt động ngoại giao và các thỏa thuận thương mại được theo đuổi kể từ đầu năm, không có thỏa thuận nào liên quan đến Mỹ hoặc Tổng thống Trump.
Trung Quốc đặc biệt bận rộn, với Thủ tướng Canada Mark Carney, Thủ tướng Ireland Michael Martin, Thủ tướng Phần Lan Petteri Orpo và Starmer đều đến thăm Bắc Kinh trong tháng này.
Trung Quốc và Canada đã đồng ý giảm rào cản thương mại vào đầu tháng Giêng, gây ra phản ứng giận dữ từ Trump, trong khi Thủ tướng Anh Keir Starmer đã đến Bắc Kinh để thiết lập lại quan hệ với Chủ tịch Tập Cận Bình, với cả hai bên đồng ý giảm bớt rào cản thương mại và đi lại.
Liên minh châu Âu cũng rất bận rộn, đạt được tiến bộ trong thỏa thuận thương mại với Mercosur, cũng như ký kết thỏa thuận thương mại tự do được chờ đợi từ lâu với Ấn Độ vào tuần trước.
Những cuộc gặp gỡ đó diễn ra sau bài phát biểu gay gắt của Trump chống lại các đồng minh trong bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, trong đó ông đã xúc phạm và chỉ trích nhiều nhà lãnh đạo khác nhau, bao gồm Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Carney.
Jimena Blanco, nhà phân tích trưởng tại công ty tình báo rủi ro Verisk Maplecroft, nói với CNBC rằng đã có sự suy giảm đáng kể trong cách Mỹ giao tiếp với các đồng minh của mình.
“Dữ liệu của chúng tôi đo lường căng thẳng bằng lời nói giữa các quốc gia cho thấy mối quan hệ của Mỹ với một số đồng minh chủ chốt đã xấu đi trong năm qua,” bà nói với CNBC hôm thứ Năm.
“Những đợt tăng đột biến mạnh nhất được ghi nhận với Canada, Đan Mạch, Bỉ, Nhật Bản, Ireland, New Zealand và Pháp, phản ánh tác động của các cuộc trao đổi công khai, căng thẳng giữa các quan chức Mỹ và các đối tác của họ ở các quốc gia đồng minh.”
Tuy nhiên, Blanco lưu ý rằng các đồng minh của Mỹ có xu hướng phản ứng với những thay đổi chính sách của Washington bằng cách đa dạng hóa mối quan hệ kinh tế, chứ không phải đảo ngược quá trình hội nhập vào hệ thống thương mại toàn cầu.
“EU, Canada, Nhật Bản, Úc và Anh không thể tách rời khỏi Mỹ, mà thay vào đó đang mở rộng thương mại với các thị trường mới nổi lớn cũng như với nhau,” Blanco nói thêm, và các thị trường mới nổi là “những người thắng cuộc lớn” từ sự đa dạng hóa này.
Giai đoạn khó khăn
So sánh giai đoạn quan hệ khó khăn với Mỹ như một giai đoạn khó khăn tạm thời chứ không phải là lý do để chia rẽ, các nhà phân tích cho rằng các đồng minh của Mỹ không có nhiều lựa chọn ngoài việc cố gắng giữ Mỹ ở bên cạnh, đồng thời tìm kiếm các con đường thương mại và hợp tác khác.
“Châu Âu quá phụ thuộc vào Mỹ không chỉ về an ninh, mà còn về công nghệ và kinh tế, nên không thể lựa chọn cuộc sống ly thân vào thời điểm hiện tại,” Ivan Krastev, chủ tịch Trung tâm Chiến lược Tự do ở Sofia, Bulgaria, cho biết trong một báo cáo của Goldman Sachs đầu tuần này.
“Đối với châu Âu, mặc dù có nhiều cuộc thảo luận về việc tìm kiếm các đồng minh mới, việc liên kết với các quốc gia khác sẽ không phải là một quá trình nhanh chóng hoặc dễ dàng,” ông lưu ý, và nói thêm: “Thay vào đó, châu Âu sẽ tập trung vào việc chứng minh cho Mỹ thấy rằng châu Âu rất quan trọng.”
Joseph Parkes, nhà phân tích cấp cao tại Verisk Maplecroft, đồng ý rằng Mỹ quá lớn để bị cô lập: “Nó đơn giản là quá quan trọng từ góc độ công nghệ, thương mại, tiền tệ và an ninh,” ông nói với CNBC hôm thứ Năm.
Tuy nhiên, các đồng minh chủ chốt sẽ hướng tới việc cân bằng lại các mối quan hệ toàn cầu của họ trong các lĩnh vực chiến lược trong dài hạn, ông nói.
“Bản chất của toàn cầu hóa sẽ thay đổi. Sự phân mảnh thương mại sẽ tạo ra các nhóm quốc gia mới và khác nhau tìm cách tăng cường khả năng phục hồi kinh tế,” ông nói với CNBC hôm thứ Năm, với “sự linh hoạt địa chính trị” ngày càng quan trọng đối với các doanh nghiệp để điều hướng một bối cảnh không chắc chắn hơn. “Sự biến động gần đây đã thúc đẩy sự chuyển dịch từ mô hình ‘sản xuất đúng lúc’ sang ‘sản xuất dự phòng’ để tăng cường chuỗi cung ứng,” ông lưu ý, với việc các công ty đang chuyển sang ‘sản xuất gần bờ’ và ‘sản xuất tại các quốc gia thân thiện’ nhằm tìm nguồn nguyên liệu từ các đối tác đáng tin cậy.
Trong khi đó, ông Parkes cho biết, các chính phủ sẽ tìm cách “mở rộng các thỏa thuận thương mại để xây dựng sự linh hoạt chiến lược và giảm sự phụ thuộc vào thị trường và chuỗi cung ứng của bất kỳ quốc gia nào.”
Is 'America First' starting to backfire as Washington's allies go it alone?
****
Mỹ công bố thêm 3 triệu trang hồ sơ Epstein; tên nhiều nhân vật quyền lực xuất hiện
Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã công bố thêm hơn 3 triệu trang hồ sơ liên quan đến Tỷ phú Jeffrey Epstein theo yêu cầu của luật minh bạch, đánh dấu đợt giải mật lớn nhất từ trước đến nay. Các tài liệu bao gồm email, hình ảnh, video và ghi chép điều tra, trong đó xuất hiện tên nhiều nhân vật quyền lực nhưng không kèm theo cáo buộc hình sự mới, do phần lớn nội dung đã được biên tập để bảo vệ nạn nhân và tuân thủ pháp lý. Việc công bố tiếp tục gây tranh cãi vì mức độ che giấu thông tin, đặc biệt trong bối cảnh bà Ghislaine Maxwell tuyên bố nhiều đồng phạm tiềm năng đã thoát truy tố nhờ các thỏa thuận bí mật.
Bộ Tư pháp Mỹ (DOJ) đã công bố hơn 3 triệu trang tài liệu, 2,000 video và khoảng 180,000 hình ảnh liên quan đến vụ Jeffrey Epstein — tỉ phú bị kết án tội mua dâm, buôn bán tình dục trẻ vị thành niên, theo yêu cầu của Đạo luật Minh bạch Hồ sơ Epstein (Epstein Files Transparency Act), một đạo luật yêu cầu minh bạch toàn bộ hồ sơ.
Đây là đợt công bố lớn nhất từ trước đến nay, được coi là “kết thúc” (hoặc gần kết thúc) quá trình giải mật các hồ sơ điều tra kể từ khi luật được ký vào tháng 11/2025.
DOJ cho biết họ đã tuân thủ luật và tiếp tục bảo vệ danh tính nạn nhân — một số phần vẫn biên tập hoặc đã bị bôi đen vì lý do pháp lý, bảo vệ nạn nhân, hoặc do đặc quyền luật pháp (ví dụ: luật sư–khách hàng, quá trình nội bộ).
Nội dung và điểm đáng chú ý của hồ sơ mới
Các tài liệu công bố bao gồm:
Các tài liệu được công bố bao gồm email trao đổi, nhật ký cá nhân, danh sách cuộc gọi, hồ sơ giao dịch tài chính, cùng tài liệu nội bộ của FBI và các báo cáo điều tra liên quan.
Ngoài ra, hồ sơ còn chứa hình ảnh và video đã được biên tập (che danh tính) nhằm bảo vệ nạn nhân, nhưng vẫn bao gồm một số bằng chứng trực quan chưa từng được công bố trước đây.
Những điểm được chú ý:
Các nhân vật quyền lực xuất hiện trong hồ sơ, dù không đồng nghĩa với cáo buộc hình sự:
Cụ thể, tên của Tổng thống Donald Trump, tỷ phú Elon Musk, Bill Gates và Bộ trưởng Thương mại Howard Lutnickđược đề cập trong một số email hoặc ghi chép, chủ yếu liên quan đến các lời mời xã giao, liên hệ cá nhân hoặc sự kiện, nhưng không kèm theo bằng chứng cho thấy hành vi phạm pháp.
Một số ghi chú cá nhân do chính ông Jeffrey Epstein tự viết có đề cập đến Tỷ phú Bill Gates và các nội dung nhạy cảm, tuy nhiên những ghi chép này không phải thư trao đổi hai chiều, chưa được xác minh độc lập và không cấu thành chứng cứ pháp lý. Ông Bill Gates đã công khai bác bỏ các cáo buộc này, khẳng định chúng là “hoàn toàn sai sự thật”.
Các chi tiết gây chú ý khác:
Một số tài liệu phản ánh trao đổi nội bộ giữa các điều tra viên FBI, bao gồm những cáo buộc được gửi tới cơ quan điều tra. Tuy nhiên, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (DOJ) nhấn mạnh rằng các cáo buộc này không có cơ sở vững chắc hoặc thiếu bằng chứng xác thực.
Bên cạnh đó, một số email chỉ ghi nhận các cuộc gặp gỡ xã giao hoặc sự kiện công khai giữa ông Epstein và những nhân vật nổi tiếng, không đưa ra kết luận hay bằng chứng về hành vi phạm tội.
Quy trình pháp lý và phản ứng
Đạo luật Minh bạch Hồ sơ Epstein
Đạo luật này yêu cầu DOJ phải công bố tất cả tài liệu không mang tính mật liên quan đến ông Epstein trong vòng 30 ngày kể từ tháng 11/2025.
DOJ khởi đầu chậm trễ và bị chỉ trích vì quá trình công bố kéo dài, cũng như nhiều phần bị biên tập mạnh, dẫn tới dư luận và Quốc hội yêu cầu thúc đẩy minh bạch hơn.
Phản ứng
Một số nạn nhân và thành viên Quốc hội chỉ trích dữ liệu bị bôi đen quá nhiều, có thể che giấu những thông tin quan trọng.
DOJ và Thứ trưởng Bộ Tư pháp Hoa Kỳ Todd Blanche khẳng định việc che giấu chủ yếu nhằm bảo vệ nạn nhân, tuân thủ pháp lý và không làm gián đoạn điều tra đang diễn ra.
Tình hình dư luận và ảnh hưởng
Dư luận quốc tế tiếp tục theo dõi vì hồ sơ này đề cập tới nhiều nhân vật quyền lực, dù không có cáo buộc hình sự mới — điều này vẫn kích hoạt tranh luận về trách nhiệm, minh bạch, và mức độ che chắn của chính quyền trong quá trình điều tra.
Có chỉ trích mạnh mẽ từ các nạn nhân, lập pháp và công chúng, cho rằng DOJ còn che chắn các phần quan trọng và danh tính của những người bị tình nghi.
Bà Ghislaine Maxwell – đồng phạm lâu năm của ông Epstein và hiện đang ngồi tù – đã đệ trình lên tòa án tài liệu cho biết có tới 29 người bị cáo buộc là đồng phạm nhưng không bị truy tố.
Trong đó 25 người được cho là đạt được “thỏa thuận bí mật (secret settlements)” với các bên tố cáo mà không bị truy tố.
4 người khác chưa từng bị truy tố dù bị xem là đồng phạm.
Bà Maxwell nói rằng tổng cộng 29 người này đáng lẽ nên được xem là đồng phạm, nhưng các thỏa thuận bí mật khiến họ thoát khỏi cáo buộc và lượng thông tin này không được bà Maxwell biết đến trong phiên xét xử của bà. Chính vì vậy, điều này có thể ảnh hưởng đến quyền pháp lý của bà.
Kết quả pháp lý hiện tại:
Ngoài ông Jeffrey Epstein (đã chết trong tù năm 2019) và bà Ghislaine Maxwell (bị kết án, thụ án 20 năm), không có cáo buộc hình sự chính thức nào được đưa ra đối với các nhân vật quyền lực khác chỉ vì hồ sơ này.
Thiên Vân, theo The Epoch Times, RT (1), RT (2)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét