"Ta là đoàn chim, bay trên cao xanh!..."
ĐỌC “PHI VỤ CUỐI CÙNG!” – NGHE CẢ MỘT BẦU TRỜI KỶ NIỆM TRỞ VỀ!
-Đọc “Phi Vụ Cuối Cùng” của NT Yên Sơn, tôi không có cảm giác mình đang đọc một câu chuyện đã xảy ra hơn nửa thế kỷ trước. Tôi thấy như Tháng Tư 1975 buồn vừa mới hôm qua!Từng trang viết đưa tôi trở lại với tiếng động cơ phi cơ gầm rú, cùng với phi hành đoàn, những phi vụ giữa trời đêm, và nhất là những giờ phút cuối cùng, khi người lính vẫn còn thi hành nhiệm vụ, dù đã linh cảm quê hương đang bước vào thời khắc nghiệt ngã!
<!>
Cũng là một người Lính Không Quân, tôi càng đọc càng thấy nghẹn lòng.
Đau nhất có lẽ không chỉ là giây phút sinh tử trên phi đạo Tân Sơn Nhứt, mà là lúc chiếc C-130, đáp xuống Utapao, rồi người phi công quay nhìn lại chiếc phi cơ quân sự VNCH lần cuối. Lá cờ trên thân tàu bị phủ đi, và anh hiểu rằng một chương đời đã vĩnh viễn khép lại!..."không bao giờ tìm thấy nữa!"
Một phi vụ cuối cùng – nhưng là cả một đời không bao giờ quên!
Chiếc Hercules hôm ấy, không chỉ chở hơn một trăm con người vượt qua cửa tử; nó còn mang theo tuổi trẻ, đời lính, tình chiến hữu, gia đình và cả quê hương, vào một cuộc chia lìa, không ai ngờ kéo dài hơn nửa thế kỷ!
Cảm ơn NT Yên Sơn, đã viết lại một câu chuyện thật đến đau lòng! làm vết thương mưng mủ, lại...bật…máu...tươi!
Câu chuyện cũ, hơn 50 năm rồi… mà sao đọc đến đây, vẫn tưởng như mới hôm qua!
Và với những người Lính "yêu mây trời!" Không Quân chúng ta, có những chuyến bay đã đáp xuống từ rất lâu…
nhưng trong tim, "phi đạo chạy dài!" chưa bao giờ thật sự kết thúc!
Cảm tạ Anh đã khơi dậy cả một vùng ký ức, dù...là...quá buồn!
On Sat, Sep 5, 2026 at 5:22 PM Yen Son <yen68son@gmail.com> wrote:
Chia sẻ với quý ACE hồi ký Phi Vụ Cuối Cùng
Phi Vụ Cuối Cùng – The final flight mission
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua.
Mỗi lần cầm trên tay tờ Phi Vụ Lệnh cuối cùng đã úa nhàu theo năm tháng, lòng tôi vẫn bồi hồi như mới hôm qua. Tờ giấy photocopy mỏng manh ấy được tôi ép plastic từ nhiều năm trước để lưu giữ như một kỷ vật. Thời gian đã làm nó ngả vàng, nhưng không thể làm phai mờ những ký ức mà nó mang theo.
Chỉ cần nhìn thấy tờ Phi Vụ Lệnh ấy, mọi chuyện của những ngày cuối tháng Tư năm 1975 lại hiện về nguyên vẹn. Khuôn mặt của những người bạn bay. Tiếng cười trong phòng hành quân. Tiếng động cơ quen thuộc của những chiếc Tinh Long giữa màn đêm. Rồi những mất mát, chia ly và đau đớn của ngày đất nước đổi thay.
Năm nào cũng vậy, cứ đến tháng Tư là ký ức lại trở về.
Đây không phải là một bài viết về chính trị. Cũng không nhằm phán xét bất cứ ai. Đây chỉ là câu chuyện của một người phi công may mắn còn sống để kể lại những gì mình đã chứng kiến trong những giờ phút cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, như một lời tưởng nhớ đến những chiến hữu đã vĩnh viễn bay cao trên vùng trời miên viễn.
* * *
Chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975, tôi có tên trong Phi Vụ Lệnh của các phi vụ Tinh Long đêm đó. Những ngày ấy, chiến sự diễn biến từng giờ. Các tỉnh lần lượt thất thủ. Tin tức từ các mặt trận dồn dập báo về khiến ai cũng hiểu rằng, Sài Gòn đang đứng trước thời khắc sinh tử. Thế nhưng, đối với những người lính phi hành như chúng tôi, khi đã có tên trong Phi Vụ Lệnh thì mọi suy nghĩ khác đều phải gác lại. Việc duy nhất cần quan tâm là chuẩn bị cho phi vụ.
Phi đoàn Tinh Long sử dụng phi cơ AC-119K Stinger để yểm trợ hỏa lực cho quân bạn. Hằng đêm, chúng tôi có 6 phi vụ tác chiến và 2 phi vụ ứng chiến. Mỗi Phi Hành Đoàn có 10 người – 5 sĩ quan (Trưởng Phi Cơ, Hoa Tiêu phó, Điều hành viên, IR, NOS) và 5 hạ sĩ quan (Kỹ sư Phi hành, 3 xạ thủ, Áp tải/Trái sáng). Mỗi phi vụ bao vùng 2 tiếng – không kể thời gian cất cánh đến chiến trường và rời vùng trách nhiệm về đáp. Cứ thế hết phi vụ nầy đến phi vụ khác; hết ngày nầy đến ngày khác bắt đầu từ 6 giờ chiều cho đến 6 giờ sáng. Hai phi vụ ứng chiến chỉ bay khi chiến trường cần điều động.
Chiều hôm ấy cũng bắt đầu như bao buổi chiều khác. Nhân viên phi hành đến phi đoàn sớm để nhận Phi Vụ Lệnh. Đến giờ bay, xe quân xa đưa ra phi hành đoàn ra bãi đậu đủ sớm để làm công việc tiền phi cần thiết trước khi lên đường.
Mọi công việc diễn ra theo đúng quy trình quen thuộc đã lặp đi lặp lại suốt nhiều năm. Đâu có ai ngờ đó lại là Phi Vụ cuối cùng của đời quân ngũ. Không ai ngờ chỉ hơn hai mươi bốn giờ sau, mọi thứ sẽ vĩnh viễn đổi thay.
Đêm hôm ấy, chúng tôi – Tinh Long 02 – cất cánh làm nhiệm vụ như thường lệ. Nhưng tình hình dưới mặt đất đã hoàn toàn khác trước.
Hỏa lực phòng không của địch dày đặc hơn bao giờ hết. Tất cả đèn đóm bình thường bên ngoài của phi cơ đều tắt hết. 10 nhân viên phi hành đoàn ai cũng căng mắt canh chừng hỏa tiễn SA-7 và phòng không của đối phương. Mỗi lần chúng tôi cố nhập trận đều bị phòng không thắp sáng cả bầu trời đêm, và chúng tôi cứ phải lượn tránh. Có lúc chúng tôi chỉ còn biết vừa tránh hỏa tiễn, vừa cố giữ cao độ để tiếp tục làm nhiệm vụ yểm trợ quân bạn. Gần như suốt phi vụ, chúng tôi ở trong tư thế phòng thủ và tránh né hơn là tìm cơ hội phản kích.
Đó là lần đầu tiên trong đời bay tác chiến tôi cảm thấy bất lực. Cảm giác ấy giống như một võ sĩ bước lên võ đài nhưng hai tay đã bị trói chặt.
Không ai nói với ai một lời. Nhưng nhìn vào ánh mắt của đoàn viên phi hành đoàn, tôi biết ai cũng mang cùng một nỗi lo âu lẫn thất vọng. Nếu tình hình tiếp tục như thế này, Sài Gòn có lẽ chỉ còn được tính bằng từng giờ!
Phi vụ kết thúc vào sau 10g đêm ngày 28 tháng 4. Chiếc Tinh Long đưa chúng tôi trở về Tân Sơn Nhứt an toàn sau mấy tiếng đồng hồ căng thẳng. Không ai ngờ đó cũng là lần cuối cùng tôi bước xuống chiếc AC-119K với tư cách một phi công tác chiến của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa.
Sau khi hoàn tất các thủ tục sau chuyến bay, tôi trở về cư xá cũng đã gần 12g sáng. Hai chú em còn thức nói chuyện với người vợ mang bầu của thằng bạn vừa gửi buổi chiều trước khi đi bay. Thằng bạn đưa cô ấy vào được căn cứ buổi trưa, cùng lúc tôi mang chú em thứ bảy từ Bình Tuy chạy về Saigon. Cả đêm thức trắng, cả người rã rượi, mệt mỏi. Tôi chỉ mong tìm một góc để ngồi chợp mắt vài giờ trước khi trời sáng. Nhưng vừa lim dim chưa được bao lâu, những tiếng nổ dữ dội đây đó trong căn cứ càng lúc càng nhiều, làm cả khu cư xá rung chuyển.
Pháo kích!
Tôi bật dậy lao ra ngoài. Từng cột khói đen bốc lên từ nhiều hướng trong phi trường. Tiếng đạn nổ dồn dập hòa lẫn tiếng còi báo động và tiếng xe quân sự chạy ngược xuôi. Không cần ai giải thích, tôi cũng biết Tân Sơn Nhứt đang bị địch tấn công dữ dội.
Trở vào phòng thì thấy hai chú em và cô gái mang bầu đang chen nhau chui dưới gầm giường tránh pháo. Tôi đứng ngồi không yên giữa những tràng pháo kích dội liên hồi quanh căn cứ. Bỗng nghe một tiếng rít thật lớn, xé toạc cả màng nhĩ sát bên ngoài cư xá rồi im bặt. Hú hồn!
Trời vừa hừng sáng, bên ngoài bỗng vang lên những tiếng la thất thanh. Tôi chạy vội ra. Mọi người đang chỉ tay lên bầu trời phía đông bắc. Một chiếc Tinh Long vừa bị hỏa tiễn SA-7 bắn trúng động cơ bên trái. Chiếc phi cơ xoay nghiêng, mất kiểm soát rồi cắm thẳng xuống đất!
Tim tôi thắt lại, đau nhói.
Tôi vội trở vào phòng, trấn an hai chú em và người đàn bà, rồi nhảy lên chiếc Lambrettite chạy thẳng vào Phi đoàn 821 để biết chiếc nào vừa bị bắn hạ và những ai đang có mặt trên đó.
Vừa định chạy đi, tôi chợt nhìn sang doanh trại huấn luyện tân binh bên kia đường, đối diện khu cư xá. Cả doanh trại vắng tanh, súng đạn nằm vương vãi khắp nơi như vừa bị bỏ lại trong cơn hỗn loạn. Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu. Tôi ghé vào nhặt vài khẩu súng cá nhân cùng một mớ đạn dược mang về phòng, cẩn thận chỉ cho hai chú em cách sử dụng trong trường hợp bất trắc, rồi lập tức lên xe phóng đi.
Dọc đường, khung cảnh hỗn loạn hiện ra trước mắt. Xe cộ chen chúc. Quân nhân và gia đình hối hả tìm đường thoát khỏi căn cứ. Người đổ ra hướng cổng Phi. Long và Huỳnh Hữu Bạc đông hơn số người chạy ngược vào. Chạy ngang qua khu cư xá của nữ quân nhân, thật là một cảnh hỗn loạn – nào xe cứu thương, nào cảnh đổ nát, người người nhốn nháo.
Khi đến Phi đoàn 821, vài chiến hữu đang tụm nhau bàn tán. Hỏi ra mới biết chiếc vừa bị bắn hạ là Tinh Long 07, đang trực chiến. Lúc ấy, tôi chỉ biết trưởng phi cơ là Trung Uý Trang Văn Thành và co-pilot Tào Thuận. Trang Văn Thành đã bay Tinh Long 01 đêm qua, vì nhà xa nên ngủ lại chờ sáng. Trong Phi Vụ Lệnh, trực chiến Tinh Long 07 là ông Phi Đoàn Trưởng nhưng không biết vì lý do gì Trang Văn Thành lại bay thế và gồm những ai.
Xin mở ngoặc nói thêm về Trung Uý Trang Văn Thành.
Thành rất gan dạ trong tất cả các phi vụ tác chiến, dù ở chiến trường hung hiểm nào, vùng nào. Hắn đeo nanh heo, bảo với anh em rằng hắn có bùa Miên nên đạn không bắn trúng được. Trong những phi vụ “nóng” thường bị vắng mặt một số đoàn viên, phải tìm người thay ở phút cuối. Thành là nỗi khiếp đảm cho địch quân trên chiến trường, từ miền Nam cho đến tận miền Trung Việt Nam. Tôi không ngại đi bay với Thành chỉ vì muốn xem cái gan của mình chịu đựng tới đâu.
Đóng ngoặc.
Tôi đau đớn đứng lặng người một lúc khá lâu rồi lặng lẽ quay xe trở lại cư xá.
Trên đường về, đầu óc tôi hoang mang tột độ. Chợt nghĩ tới những khó khăn mọi mặt trong thời gian tới. Tôi ghé qua khu gia binh, tới quán của Trung sĩ Ngọn – một đoàn viên vừa bay cùng tôi trong phi vụ đêm trước – mua ít gạo và vài chai nước mắm. Trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ là sẽ phải cố thủ trong căn cứ.
Đường về cư xá càng lúc càng hỗn loạn. Dòng người vẫn không ngừng đổ về phía hai cổng chính của căn cứ. Khung cảnh ấy báo cho tôi biết cuộc chiến đã bước vào những giờ phút cuối cùng. Chiến tranh đã tràn vào tận Sài Gòn, tràn vào ngay trung tâm đầu não của Bộ Tư lệnh Không Quân Miền Nam.
Về đến phòng, tôi chợt nhìn thấy ngay bên hông cư xá một phần đuôi của quả hỏa tiễn, trong trận pháo kích đêm qua, cắm sâu xuống đất mà không phát nổ. Tôi rùng mình. Nếu nó nổ đêm qua, có lẽ anh em chúng tôi và nhiều chiến hữu quanh đây đã không còn ai sống sót.
Tôi nhìn quanh một lượt. Trong đầu nổi lên quyết định dứt khoát, phải rời khỏi căn cứ bằng mọi giá. Tôi bước nhanh vào phòng, người đàn bà mang bầu của bạn đã không còn ở đó; giục hai chú em lên xe rồi chạy thẳng ra bãi đậu phi cơ, hy vọng vẫn còn một cơ hội để thoát khỏi Tân Sơn Nhứt.
Chạy khắp các bãi đậu phi cơ các loại phi cơ, cầu mong gặp được chiếc nào đang chuẩn bị ra đi. Thế nhưng, tất cả đều vắng lặng, ngoại trừ tiếng pháo kích của địch quân vẫn lác đác vang vọng. Chạy về phía bãi đậu phi cơ AC-119K, gặp một chú phi đạo quen, chú nói chú biết chỗ những chiếc khả dụng. Chú còn dặn dò, tìm được cho hắn theo với. Dĩ nhiên rồi.
Tôi chạy theo chú một lúc khá lâu. Những chiếc khả dụng đã không còn. Nỗi thất vọng tràn ngập. Chợt thấy một chiếc Tinh Long còn trong ụ, gần trạm tiếp liên Không Quân. Tôi vụt chạy đến, bảo hai chú em ngồi trên xe, tôi nhảy lên cánh xem hai bình xăng. Thấy xăng đầy. Vào phòng lái quay thử máy. Máy hoạt động tốt, chỉ một số phi cụ bị hỏng. Tôi quyết định liều mạng.
Thế nhưng nhìn quanh không thấy hai chú em. Tôi tắt máy, ra khỏi phi cơ tìm quanh vẫn không thấy. Bỗng nhiên thấy vài chiến hữu pilot của phi đoàn, ở đâu không biết, nhảy lên phi cơ, nổ máy, taxi ra khỏi ụ. Tôi không thể đi theo vì vẫn không thấy bóng dáng hai chú em. Tôi cố ra hiệu cho họ chờ tôi nhưng họ vẫn tiếp tục chạy đi về phía phi đạo. Tôi đứng sững nhìn chiếc Tinh Long từ từ mất hút tầm mắt. Lòng nặng trĩu vì giận họ, giận cả hai chú em và lo lắng, hoang mang cực độ.
Nhiều năm sau, mỗi lần nhớ lại chuyện ấy, tôi không còn giận các chiến hữu của mình như trước nữa. Tôi hiểu rằng trong hoàn cảnh sinh tử lúc bấy giờ, ai cũng có thể làm những điều mà trong cuộc sống bình thường, lương tâm mình không bao giờ cho phép.
Đang lúc chưa biết hành xử ra sao thì thấy hai chủ em chạy lại. Lòng mừng rỡ nhưng quạu quá. Hai chú cho biết là muốn chạy về Bình Tuy tìm gia đình nhưng ngoài cổng vô cùng rối loạn. Quân Cảnh không cho ai ra vào. Dùng súng bắn chỉ thiên, bắn luôn xuống đất xua đuổi mọi người không cho ra vào.
Điều đó có nghĩa là con đường bộ duy nhất còn lại để rời khỏi căn cứ cũng đã bị cắt đứt. Trong lúc đó, tâm trí tôi cứ văng vẳng những lời cha mẹ đã dạy từ thuở bé, “Cộng sản là những kẻ vô cảm. Chúng là hiện thân của sự lừa lọc, dối trá, lòng thù hận và sự giết chóc.” Tôi cứ tự nhủ trong lòng, “Bằng mọi giá, chúng tôi phải thoát khỏi nơi này.” Dù tôi vẫn chưa biết bằng cách nào.
Ba Mẹ tôi lúc này ở đâu? Các anh chị em tôi bây giờ ra sao? Gần hai năm rồi tôi chưa có dịp về thăm nhà. Hơn hai tháng qua, mọi liên lạc đều bị cắt đứt cho tới khi chú em thứ bảy về đến Saigon mới nói cho tôi biết cả gia đình tản cư đi nhiều nơi nhưng vẫn được an toàn khi chú rời đi. Nhưng trong giờ phút ấy, tôi vẫn rất lo lắng cho số phận của gia đình, không biết họ ở đâu, có an toàn hay không. Tôi chỉ còn biết rằng, lúc này chỉ còn ba anh em, dù chuyện gì xảy ra… ba anh em cũng phải sống chết có nhau.
Đột nhiên nghe tiếng hét lớn, “Thuận! Thuận! Chạy theo đi với anh! Anh cần co-pilot!”
Tôi quay phắt lại. Một chiếc xe pickup màu xanh của Không Quân vừa vượt lên. Ngồi sau tay lái là Thiếu tá Phan Vũ Điện. Trên thùng xe còn có một số người, gồm anh em cơ phi và áp tải, đang vẫy tay gọi chúng tôi.
Trong khoảnh khắc ấy, tôi có cảm giác như người sắp chết đuối bỗng nhìn thấy một chiếc phao. Không suy nghĩ gì thêm. Tôi lập tức quay xe, bảo hai chú em bám thật chặt rồi phóng theo chiếc pickup đang lao vun vút về phía đông bắc phi trường, gần khu hàng không dân sự.
Đến bên chiếc C-130, đã thấy một số người lố nhố chen nhau lên máy bay. Tôi đưa hai chú em lên cửa trước bên hông của phi cơ, tìm một góc trống bảo ngồi yên, rồi vội bước lên phòng lái. Không ai nói với ai một lời. Cùng nhảy vội lên máy bay, ai lo việc nấy.
Anh Điện đã bắt đầu khởi động máy. Tôi cầm vội cuốn checklist, lướt thật nhanh từng hạng mục để phụ anh hoàn tất các thủ tục cần thiết trong lúc chiếc C-130 bắt đầu lăn bánh ra khỏi ụ đậu. Áp tải Hoàng thông báo vẫn chưa đóng được cửa ramp vì còn nhiều người đang cố leo lên. Anh Điện ra lệnh đóng cửa vì sợ quá tải trong hoàn cảnh chiếc máy bay không hoàn hảo. Anh Điện nói như phân trần, “Đành lòng thôi!” Nhưng trong intercom, Áp tải Hoàng báo người lên đông quá, chưa đóng cửa được. Anh Điện hỏi trên phi cơ đã có bao nhiêu người tất cả. Hoàng nói đã đếm được tổng cộng 115 onboard. Anh ra lệnh phải đóng cửa ngay vì sắp ra tới đường băng cất cánh.
Chiếc Hercules tăng tốc lao về phía trước. Tôi nhìn nhanh các đồng hồ động cơ rồi đưa mắt nhìn ra ngoài. Không còn thì giờ để suy nghĩ gì thêm. Mọi hy vọng của hơn một trăm con người trên chiếc máy bay lúc ấy đều đặt vào bốn động cơ đang gầm lên phía trước.
Chúng tôi nhập vào phi đạo ngay tại taxiway gần nhất, chỉ khoảng nửa chiều dài đường băng, thay vì tới đầu phi đạo như quy trình thông thường. Điều đó có nghĩa là chúng tôi phải cất cánh với quãng đường ngắn hơn rất nhiều.
Anh Điện đẩy bốn cần ga lên tối đa. Tiếng động cơ gầm lên dữ dội. Chiếc C-130 rung chuyển rồi lao đi như một con thú khổng lồ đang dốc hết sức để thoát khỏi mặt đất. Tôi phụ giữ chặt cần lái, cùng anh Điện giữ cho chiếc phi cơ ổn định.
Trên đường băng, nhiều chỗ hư hại, vật dụng nằm vương vãi sau trận pháo kích. Anh Điện vừa điều khiển máy bay tăng tốc, vừa phải lạng tránh những chướng ngại vật ngay trước mũi phi cơ. Tốc độ vẫn chưa đạt mức cất cánh như bình thường. Cuối đường băng đã đến rất gần.
Chiếc C-130 vẫn tiếp tục lao về phía trước. Tôi liếc nhanh đồng hồ tốc độ. Vẫn chưa đủ. Trong buồng lái, không ai nói một lời. Thoáng nhìn sắc mặt của những sĩ quan có mặt, tôi biết ai cũng đang nghĩ đến cùng một điều. Nếu không nhấc được con tàu lên trước cuối phi đạo… Mọi chuyện sẽ chấm hết.
Anh Điện vẫn bình tĩnh một cách lạ thường. Hai tay anh giữ chặt cần lái, mắt không rời đường băng phía trước. Đúng vào những giây cuối cùng, anh nhẹ nhàng kéo cần. Chiếc Hercules như miễn cưỡng rời khỏi mặt đất, thân tàu rung lên dữ dội. Đó không phải là cảm giác của một cú cất cánh bình thường. Chiếc máy bay quá nặng, lại chưa đạt đủ tốc độ an toàn. Một ý nghĩ thoáng trong đầu làm tôi tê điếng… không biết sẽ có ai tìm xác rơi!
Tôi đảo mắt liên tục giữa đồng hồ tốc độ, cao độ, tốc độ lên cao và tình trạng bốn động cơ, bầu trời phía trước mặt… Chiếc phi cơ chỉ có thể từ từ lấy cao độ, hoàn toàn không thể ngóc đầu lên nhanh như bình thường. Đã vậy còn phải quẹo trái ngay về hướng Vũng Tàu, tránh Trường Đua Phú Thọ, nơi được báo có hỏa lực phòng không của địch quân.
Và đó là những giây phút hồi hộp và cận kề sinh tử nhất, không khác những lần nhập trận trong đời. Chiếc Hercules vẫn rung bần bật. Từng giây trôi qua như dài vô tận. Rồi dần dần… kim đồng hồ tốc độ bắt đầu nhích lên. Tiếng động cơ trở nên đều hơn. Những rung động dữ dội cũng từ từ dịu xuống.
Anh Điện nhìn sang tôi. Không ai nói với ai một lời nhưng cả hai đều hiểu, chúng tôi vừa vượt qua cửa tử. Chiếc Hercules bắt đầu lấy được cao độ an toàn hướng về phía Vũng Tàu, bỏ lại phía sau lưng chúng tôi là một Tân Sơn Nhứt, một Sài Gòn trong mịt mù khói lửa của một ngày tháng Tư định mệnh.
Nhìn đồng hồ tay, đã hơn một giờ chiều. Trong buồng lái, không khí vẫn căng như dây đàn. Không ai dám nghĩ rằng mình đã thật sự thoát hiểm. Anh Điện vẫn bay, rất muốn đáp Côn Sơn vì vợ con của anh ấy đã được đưa đi trước ra đó từ sáng sớm. Phần tôi tiếp tục giữ liên lạc với nhiều tần số khác nhau để quyết định cho phi trình.
Trên tần số không lưu bỏ ngõ vang lên đủ mọi tiếng gọi, tiếng hướng dẫn và những cuộc trao đổi chồng chéo. Từ các phi cơ khác, từ các trạm kiểm soát, rồi cả những ý kiến khác nhau của các sĩ quan cao cấp đang có mặt trong buồng lái. Người muốn bay thẳng sang Bangkok xin tỵ nạn. Có người đề nghị đến Utapao, Thái Lan. Trong lúc mọi người còn tranh luận, Thiếu tá Phan Vũ Điện vẫn chăm chú điều khiển chiếc Hercules. Cuối cùng, anh không nén được nữa, quay sang lớn tiếng, “Xin mọi người im lặng, tôi là người quyết định sẽ đáp ở đâu!”
Trong những liên lạc, đài kiểm soát Côn Sơn và Phú Quốc cho biết không có chỗ đáp. Không an toàn vì tù đang sổng chuồng, quậy quá lung tung. Nghe thế, anh Điện buông tay lái ôm mặt khóc, gọi tên vợ con. Tôi cầm lái và giữ liên lạc vô tuyến được một lúc. Khi anh Điện bình tỉnh lại, anh điều khiển phi cơ và tỏ ý muốn đáp xuống biển (ditching) để Hạm Đội 7 của Hoa Kỳ cứu vớt. Nhưng mọi người phản đối quyết liệt vì tàu đang mang theo hơn một trăm nhân mạng, sẽ có rất nhiều người không thể sống sót.
Trên tần số nhiều chiến hữu phi cơ khác kêu gọi nhau trực chỉ căn cứ Không Quân Utapao. Sau vài phút trao đổi, mọi người cuối cùng cũng đi đến một quyết định chung… đi Utapao.
Chiếc Hercules từ từ đổi hướng. Không còn ai nói gì thêm. Mỗi người lặng lẽ theo đuổi những suy nghĩ riêng. Tôi ngồi yên trong ghế hoa tiêu phụ, mắt vẫn dõi theo các đồng hồ phi cụ. Ngoài khung cửa kính, Biển Đông trải dài bất tận dưới cánh. Phía trước là một chân trời hoàn toàn xa lạ. Không ai biết điều gì sẽ xảy ra phía trước.
Sau hơn hai giờ bay, từ Tân Sơn Nhứt vòng qua Vũng Tàu rồi hướng về Utapao, Thái Lan, chiếc Hercules bắt đầu giảm cao độ để vào đáp xuống căn cứ Không Quân Utapao.
Đồng hồ chỉ hơn ba giờ chiều. Đó là ngày 29 tháng 4 năm 1975.
Khi bánh máy bay vừa chạm xuống đường băng, cả thân tàu rung lên theo tiếng thắng hãm. Không ai bảo ai, gần như mọi người cùng lúc thở phào nhẹ nhõm. Chúng tôi đã sống.
Chiếc Hercules tiếp tục lăn bánh vào khu đậu. Động cơ lần lượt tắt. Trong khoảnh khắc hiếm hoi ấy, cả phi hành đoàn và hơn một trăm người trên máy bay gần như im lặng. Sau những giờ phút căng thẳng tưởng chừng không thể vượt qua, ai cũng cần vài giây để tin rằng mình vẫn còn hiện diện trên cõi đời.
Khi cánh cửa vừa mở, một toán quân nhân Hoa Kỳ đã nhanh chóng bước lên máy bay. Họ làm việc rất chuyên nghiệp, thu gom, tước đoạt tất cả vũ khí trước khi mọi người được hướng dẫn xuống máy bay. Không có một lời giải thích. Không một phản ứng. Hơn một trăm con người lặng lẽ nối đuôi nhau bước xuống chiếc Hercules đi vào trạm.
Tôi bước những bước chậm cuối cùng rời khỏi chiếc máy bay. Vừa đặt chân xuống mặt đất, tôi quay lại nhìn chiếc Hercules đã đưa chúng tôi vượt qua cửa tử. Đó là lần cuối cùng tôi đứng cạnh một chiếc phi cơ quân sự của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa.
Một toán quân nhân Hoa Kỳ khác mang thang đến. Họ nhanh nhẹn xịt sơn phủ lên lá cờ Việt Nam Cộng Hòa trên thân máy bay rồi tháo luôn số hiệu của con tàu. Tôi lặng lẽ đứng nhìn. Không ai nói một lời. Trong lòng tôi quặn thắt như muốn khóc. Đến lúc ấy, tôi mới chợt hiểu rằng một chương đời vừa khép lại. Tôi không khóc. Nhưng từ giây phút ấy, lòng tôi ngập tràn hoang mang. Tôi không biết rồi mình có còn cơ hội để trở về với gia đình, với Tổ quốc hay không.
Chúng tôi lặng lẽ theo người lính Mỹ đi về khu tập trung dành cho người tỵ nạn. Con đường không dài. Nhưng đối với tôi, đó là quãng đường dài nhất trong cuộc đời. Mỗi bước chân đưa tôi rời xa quê hương thêm một chút. Không ai còn tâm trạng để trò chuyện. Thỉnh thoảng chỉ có vài tiếng trẻ con khóc vì mệt và khát nước. Những người lớn lặng lẽ bước đi, mỗi người mang theo một nỗi niềm riêng. Có người vừa đi vừa ngoái đầu nhìn về phía phi trường. Có người ôm chặt chiếc túi nhỏ như sợ đánh mất tất cả những gì còn lại của cuộc đời mình. Ba anh em chúng tôi lặng lẽ đi bên nhau. Không ai nói một lời. Chỉ cần còn nhìn thấy nhau trong dòng người ấy cũng đã là một niềm an ủi.
Đến khu tập trung, binh sĩ Hoa Kỳ phát nước uống và một ít thực phẩm. Từ sáng đến giờ, giữa những biến cố dồn dập, tôi gần như quên mất mình chưa ăn uống gì suốt mấy canh giờ. Cầm chai nước trên tay, tôi uống từng ngụm nhỏ. Lần đầu tiên sau nhiều giờ căng thẳng, tôi mới cảm thấy mình thật sự kiệt sức. Tôi ngồi bệt xuống nền xi măng, tựa lưng vào một vách tường. Đưa mắt nhìn quanh. Hàng trăm khuôn mặt. Hàng trăm số phận.
Có những người vừa mới sáng nay còn là sĩ quan, phi công, công chức, hay những người mẹ bình thường đang sống trong căn cứ. Chỉ trong vài giờ ngắn ngủi… Tất cả đều trở thành những người tỵ nạn trên một quốc gia láng giềng. Không ai biết ngày mai sẽ đi đâu. Không ai biết tương lai sẽ ra sao.
Tôi ngẩng nhìn bầu trời Utapao trong xanh. Bình yên. Hoàn toàn trái ngược với bầu trời đầy khói lửa mà chúng tôi vừa rời khỏi. Nhìn hai chú em chợt quặn lòng nghĩ đến cha mẹ và anh chị em, không biết bây giờ họ đang ở đâu, sống chết ra sao! Dù vậy, tôi vẫn tin rằng rồi chiến sự sẽ lắng xuống. Rồi sẽ có ngày mình được trở về đoàn tụ với cha mẹ anh em.
Nhưng tôi đâu ngờ… Chuyến bay trên chiếc Hercules trưa ngày 29 tháng 4 năm 1975 không chỉ đưa tôi rời khỏi Tân Sơn Nhứt mà nó đã đưa tôi đi xa Tổ quốc hơn nửa vùng trời, hơn nửa thế kỷ.
Yên Sơn
Tháng 4/2025--

GIỚI THIỆU TRANG NHÀ:
“I am patient with stupidity, but not with those who are proud of it.”― Edith Sitwell


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét