Cải tạo thiếu thốn đủ điều,
Lao tù khắc nghiệt chịu nhiều bi thương.
Từ ngày Anh mất quê hương,
Trại tù miền Bắc tha phương đọa đày.
Khổ đau chồng chất lâu nay,
Án tù nghiệt ngã... biết ngày nào ra?...
Nghe nói trước đây trong những trại tù “cải tạo” ở ngoài miền Bắc, hàng tháng mọi người được phát cho thuốc lào gọi là tiêu chuẩn.
Nói là tiêu chuẩn cho “oai”, chứ thật ra chỉ là một bịch nhỏ, cỡ chừng một nắm tay. Nếu tính ra, thì cũng có thể “hít” được đôi ba ngày, là “đi đứt”... cho một phần tiêu chuẩn được phân phát cho trại viên hàng tháng.
<!>
Việc “thưởng thức” những loại “thuốc” này thì cũng công phu lắm chứ chẳng phải chơi. Đầu tiên là phải có cái điếu cày để nhét “bi thuốc” vào cái nỏ, và đốt lên rồi thì mới bắt đầu “hít” được. Ngoài ra, còn phải đổ một ít nước vào thân điếu để giúp lọc bớt nhựa thuốc. Tuy nhiên, vì đây là “tiêu chuẩn” được phát cho mọi người, nên chẳng có ai từ chối, hoặc nhận… rồi đem cho người khác. Điều này có lẽ là vì trong lòng ai cũng cảm thấy... tiếc. Và cũng vì giữ lại cho mình, nên bắt đầu tập tành hút thử xem sao, nhất là trong những lúc trời lạnh hy vọng khi hút vào sẽ cảm thấy ấm hơn chăng. Mà hút riết rồi trở thành thói quen và đâm ra... ghiền hồi nào cũng không biết nữa! Đã vậy, trong hoàn cảnh tù đày mà còn “nghiện ngập” như thế này, thì quả thật gian nan chớ không phải bở. Ở chốn lao tù, cơm còn chẳng đủ no, nói gì đến mấy thứ “xa xí phẩm” như thuốc lào, thì làm sao mà có sẵn hoài cho được! Chỉ những ai được gia đình thăm nuôi, thì may ra còn có nguồn tiếp viện. Có tiếp viện để ít ra, mỗi khi buồn, thì “kéo” được “vài hơi” cho cuộc đời “lên hương” một chút !
Có thể nói, một hơi thuốc lào đối với người tù không chỉ là chất kích thích, mà còn là một thứ "cứu cánh" tinh thần, một phút giây thăng hoa để thoát ly khỏi hoàn cảnh thực tại bi thương. Chỉ tội cho những người không có thăm nuôi, nên mỗi lần “thèm” thì chỉ có nước... “nhịn” mà thôi. Chứ giờ biết tìm ở đâu ra nguồn “hàng hiếm quý” đó! Có người vì chịu không nổi, nên đi kiếm mấy lá cải trời mọc hoang trong rừng, đem về phơi khô làm thuốc hút. Hoặc đôi khi bí quá thì làm liều, phải chịu nhịn ăn một hoặc hai phần cơm của mình, để đổi lấy một lần thuốc lào tiêu chuẩn. Thật ra, phần ăn cũng chỉ là một chén cơm “lưng lửng” độn với khoai mì. Tệ hơn nữa, có người còn chịu khó... chờ. Đợi tới khi có người nào đó “kéo” xong vài hơi thuốc lào của họ, thì tới xin “hít” đỡ “xái nhì”… còn sót lại. Nói chung là chuyện thiếu thốn thì đủ điều, từ miếng ăn, thuốc lào cho tới một vài nhu cầu cần thiết khác.
Sẵn nói về thức ăn như khoai mì, thì cũng xin mở dấu ngoặc ở đây để được nói thêm cho rõ ràng. Hy vọng người đọc sẽ hình dung được khoai mì ở ngoài miền Bắc ra sao, có giống như khoai mì ở miền Nam mà mọi người thường hay ăn vặt. Thật ra, khoai mì là tiếng gọi của người Nam. Còn đối với người Bắc, thì gọi là sắn. Trong những năm đói khổ thời “bao cấp”, thì khoai mì, khoai lang, bo bo… được nấu chung với cơm gọi là ăn độn. Cái đáng nói ở đây, là khoai mì ở trong tù thì rất là “đặc biệt”. Đặc biệt là bởi vì chúng có nguồn gốc “xuất thân” từ nghĩa vụ đóng thuế của người dân cho nhà nước. Bình thường người dân còn không đủ ăn, vậy thì lấy cái gì để mà đóng thuế?! Cực chẳng đã, họ phải tưới nước vào những đóng khoai mì cho nặng cân. Mục đích là để đủ “chỉ tiêu“ đóng thuế cho nhà nước. Sau đó số khoai mì này được chứa trong kho chờ ngày đem ra phân phát cho các trại cải tạo.
Một thực tế hết sức đau lòng tưởng như nói chơi, nhưng mà có thật. Đó là khi khoai mì được chuyển về tới trại để phân phát cho anh em, thì hỡi ôi, cả đống khoai đã nổi mốc xanh mốc đỏ vì ngâm nước lâu ngày. Nhìn thứ gọi là "lương thực" ấy, anh em tù nhân chỉ biết nhìn nhau ngán ngẩm xen lẫn xót xa. Họ hiểu rằng, dù trông chẳng khác gì đồ ăn hư thúi đáng được bỏ đi, nhưng đây lại chính là "tiêu chuẩn" sống còn, là nguồn năng lượng duy nhất để duy trì sự sống của các anh.
Ai dám từ chối đây? Bởi nếu không ăn, thì lấy gì để "trám" vào những cái bao tử đang đói meo, đang cào xé từng ngày? Giữa cái thực tế phũ phàng ấy, cô cán bộ bỗng lên tiếng thuyết phục bằng giọng điệu như đang van nài:
— Các anh ráng ăn giùm đi. Tại vì cái này mà đem cho heo... thì heo nó ăn vào cũng chết!
Trời đất ơi! Còn lời lẽ nào phũ phàng hơn thế? Câu nói của cô cán bộ nghe thì có vẻ "thật lòng", nhưng lại phơi bày một sự thật đắng cay. Thử hỏi trên đời này, còn thực trạng nào đau lòng hơn thế nữa?
Ở vào cái thế kẹt ấy, anh em cũng chỉ biết nín lặng chấp nhận chứ chẳng ai dám kêu ca hay lắc đầu từ chối. Bởi khước từ là đồng nghĩa với việc mất đi phần tiêu chuẩn lương thực, và cơn đói sẽ còn cào xé dài dài cho những ngày sau.
Thực tâm, người nữ cán bộ kia chắc cũng chẳng biết làm sao hơn. Lệnh trên đưa xuống, cô phải thi hành nghiêm chỉnh. Cô hiểu rằng chỉ có những người tù mới đủ "can đảm" ăn thứ lương thực ấy để sinh tồn. Có lẽ trong thâm tâm, cô tự trấn an rằng con người dù sao vẫn còn... "khôn" hơn heo. Vì heo thấy đồ ăn là "táp" ngay để rồi toi mạng. Còn người tù thì còn biết gọt rửa, châm chước, cố gắng biến cái hư thúi thành cái ăn được, cốt để sống qua ngày.
Nói cho cùng, cô ta cũng tỏ ra chút "nhân đạo" khi dặn anh em nhớ rửa mì thật kỹ trước khi nấu. Cô cũng không quên nhắc nhở rằng tiêu chuẩn mỗi người chỉ vỏn vẹn 15 ký một tháng (tính luôn cả đống khoai mốc này), nên ai nấy đều phải biết "tằn tiện", nếu không sẽ không đủ ăn.
Thế nhưng, đằng sau lời dặn dò ấy là một lời cảnh cáo ngầm: kẻ nào dám phản đối, tiêu chuẩn sẽ lập tức bị cắt xuống còn 9 ký — cái mà họ gọi là "thi hành kỷ luật". Đây rõ ràng là một biện pháp “răn đe” đánh thẳng vào bản năng sinh tồn, buộc mọi người phải chấp hành nghiêm chỉnh nội quy. Bất kỳ một biểu hiện "không tốt" nào cũng sẽ được trả giá bằng chính khẩu phần ăn vốn đã quá ít ỏi, thì sẽ càng ít hơn nhất là cho những ngày sắp tới.
oOo
Như đã nói ở trên, ở trong tù chuyện túng thiếu là lẽ đương nhiên từ năm này tới tháng nọ, trong khi phải lao động vất vả hàng ngày. Trong tù, hầu như cái gì cũng không có, cái gì mà “ăn được” thì cũng trở nên quý hiếm.
Chính vì sự thiếu thốn cùng cực mà việc "phân chia" khẩu phần giữa những người bạn tù đã trở thành một vấn đề sống còn. Dù là khoai lang, bo bo hay là khoai mì... hễ cứ có đợt "tiêu chuẩn" nào về tới trại là y như rằng mọi người đều dồn hết tâm trí để theo dõi. Ai cũng mong mỏi một sự công bằng, "vô tư" tuyệt đối để không ai phải chịu cảnh người ít, người nhiều.
Thường thì cả đội phải mất rất nhiều thời giờ để bàn tán xôn xao. Anh em phải cùng nhau "lên kế hoạch", tìm ra những "phương án" tối ưu nhất sao cho việc phân chia đạt hiệu quả cao nhất. Công đoạn "cân đong đo đếm" diễn ra vô cùng chi li, tỉ mỉ. Dẫu có tốn bao công sức cũng chẳng sao, bởi chuyện gì có thể bỏ qua chứ riêng vấn đề "tiêu chuẩn" liên quan trực tiếp đến cái dạ dày thì phải được xem là "cực kỳ" quan trọng.
Anh em sẵn sàng tham gia "phát biểu" ý kiến, thậm chí "hy sinh" cả giờ nghỉ trưa quý giá chỉ để việc "chia chác" được hoàn thành tốt đẹp. Miễn sao cuối cùng, ai nấy đều cảm thấy hài lòng và đồng lòng... "nhất trí"…
oOo
Đơn cử cho việc chia chác vừa nêu thì phải kể tới một chuyện khá là ly kỳ sau đây.
Đó là vào một buổi trưa trên đường đi lao động, anh em tù cải tạo phát hiện xác một con rắn bị xe cán chết nằm bên lề đường, bụi bám đầy và ruồi bu kín mít. Với những người đang đói khát, thì con rắn chết ấy chẳng khác nào một "bảo vật" trời cho. Các anh mừng lắm, nhưng ngặt nỗi cán bộ “hộ tống” đang đi kè kè ngay bên cạnh, nên không ai dám cúi xuống nhặt vì sợ bị kỷ luật. Nhìn món quà "vô chủ" nằm lại ở phía sau, cả đội vừa đi, vừa tiếc rẻ và vừa âm thầm bàn tính xem có cách nào "thu hoạch" con rắn để cải thiện cho bữa cơm chiều.
Vừa đi, anh đội trưởng tên K vừa khẽ nhắc các anh em phải lao động thật tốt để tạo lòng tin. Ra tới cánh đồng, anh sốt sắng phân công chỉ tiêu cho tổ và đốc thúc mọi người hoàn thành sớm. Anh cố tình nói lớn cho cán bộ nghe thấy, cốt để lấy cớ xin cho cả đội được về trại sớm chiều nay. Thấy thái độ tích cực của đội, viên cán bộ hài lòng và gật đầu đồng ý. Thừa thắng xông lên, anh đội trưởng liền đề nghị cán bộ cho anh được về trại để gánh nước giếng ra bồi dưỡng cho anh em.
Đề nghị này của anh được cán bộ chấp thuận, làm cho cả đội “phấn khởi” vô cùng. Nhìn dáng vẻ vội vã của anh đội trưởng, ai cũng hiểu là anh đang chạy đua với thời gian vì sợ có ai đó "hớt tay trên" thì uổng lắm! Anh đội trưởng chân bước đi vội vã, trong lúc đầu óc của anh chắc là rối bời. Anh phải tính toán sao cho thật chính xác, nhất là lúc đi ngang qua chỗ con rắn thì anh sẽ cúi xuống cho nhanh lẹ, để không gây nghi ngờ gì đối với tay vệ binh đang đứng nhìn từ xa. May mắn thay, cuối cùng thì chuyện nhặt lấy con rắn cũng được anh thực hiện một cách êm xuôi và gọn gàng như dự tính.
Nửa giờ chờ đợi dài đăng đẳng trôi qua trong sự thấp thỏm của mọi người. Khi bóng dáng anh đội trưởng thấp thoáng từ xa đi tới với hai thùng nước trên vai, và gương mặt thì rạng rỡ. Đã vậy, anh còn nháy mắt ra dấu, như muốn báo cho mọi người biết để an tâm. Bởi vì đó chính là dấu hiệu thay cho câu trả lời rằng con rắn đã được anh thu hoạch rồi! Điều này đã làm cho các anh em vui mừng và... “lên tinh thần” ngay lập tức!
Tâm trạng của các anh lúc bấy giờ, phải nói là vô cùng náo nức giống như trẻ con chờ mẹ đi chợ về. Trong đầu mỗi người bắt đầu vẽ ra những viễn cảnh "thịnh soạn" như nên hầm, chiên, hay kho để ăn cho đã thèm và ngon miệng? Những "sáng kiến" chế biến món ăn liên tục được nghĩ tới trong đầu. Phần anh đội trưởng thì mon men đến từng người, không chỉ để đôn đốc mà còn để rỉ tai hỏi xem ai có gia vị gì không. Người này còn chút muối, người kia dành dụm được tí đường, anh khác lại may mắn còn một ít bột ngọt từ kỳ tiếp tế trước đây…
Tất cả đều hào hứng trong việc đóng góp để mong sẽ có được một thực đơn nào vừa ý nhất. Buổi chiều lao động cực nhọc bỗng hóa thành một ngày hội ý với nhau. Tưởng tượng tới bữa cơm chiều nay sẽ có thêm miếng thịt rắn, khiến cho ai nấy đều cảm thấy phấn khởi, quên hết vất vả mệt nhọc của buổi chiều lao động. Họ chỉ mong mau tới giờ trở về trại để bắt tay vào việc "xử lý" món quà trời cho ấy.
Vừa về đến trại, “anh nuôi” - người phụ trách nấu nướng đã quên luôn chuyện tắm rửa, và vệ sinh cá nhân. Anh lao ngay vào bếp để bắt tay vào việc chế biến món thịt rắn sao cho vừa ý nhất.
oOo
Cuối cùng thì món rắn cải thiện cho một ngày “đáng nhớ” cũng được chế biến xong, mùi thơm nhờ có chút muối, chút đường và chút bột ngọt hiếm hoi cũng bắt đầu phảng phất trong không gian. Các anh tề tựu đông đủ không sót một ai để được chia phần. Lúc này tinh thần các anh cảm thấy vui hơn bao giờ hết. Anh đầu bếp thì lăng xăng tính toán sao cho món ăn được “kinh tế” nhất. Rồi đến việc phân chia cũng phải làm sao cho được đồng đều, cả mười mấy hai mươi phần ăn chớ đâu phải ít. Họ chỉ lo một điều là nếu các phần ăn không đồng đều bằng nhau thì các anh chưa... “nhất trí”
. Sau khi cẩn thận chia nhỏ ra nhiều phần xong, thì còn phải hỏi ý kiến mọi người, xem các anh em có đồng ý chưa? Nếu đồng ý rồi thì sẽ chuyển qua “khâu” phân phát. Đây là giai đoạn cuối cùng của một “quá trình” “xử lý” con rắn vừa thu hoạch được hôm nay. Cái khâu “chia chác” này phải thực hiện sao cho thật là chu đáo, phải công bằng và minh bạch. Mà muốn được như thế thì phải dùng tới một “phương án” “cực kỳ”... tinh vi, mà các anh thường áp dụng. Phương pháp này được các anh gọi là “quay lưng cho số”. Có nghĩa là anh đội trưởng sẽ đánh dấu một phần ăn nào đó. Tiếp theo, anh kêu một ai đó quay mặt sang một hướng khác và cho đại một con số. Thí dụ anh đó nói con số “13” thì anh nào có tên theo thứ tự số 13 (từ trong danh sách) tới để nhận lấy phần ăn mà anh đội trưởng đã đánh dấu hồi nãy. Sau đó tuần tự anh số 14 nhận phần kế tiếp, theo chiều kim đồng hồ. Cứ như vậy cho đến khi nào các phần ăn không còn nữa, là kể như công việc phân chia được hoàn thành và mọi người có thể an tâm “nhâm nhi” cái phần thịt rắn vừa được chia đó.
Thế là xong, xem như bữa cơm chiều hôm nay trong trại tù không chỉ có nước muối, và rau rừng nhạt nhẽo (tức là món canh “đại dương”) như mọi ngày. Món canh này thì khỏi cần phải diễn tả dông dài, vì nó toàn là nước... muối. Nếu quậy lên thì sẽ thấy vài cọng rau muống héo khô, đang “bồng bềnh” trong đó. Mà buổi chiều tối hôm nay dưới ánh đèn dầu leo lét, mùi thơm của thịt rắn dường như đang phảng phất trong không khí. Tuy miếng thịt rắn nhỏ xíu vì được chia năm sẻ bảy, phần xương cũng được “tận dụng” nhai nát cho đỡ thèm. Nhưng cái dư vị ngọt ngào nhất, có lẽ là niềm vui "cải thiện", và cái tình anh em được thắt chặt hơn trong hoàn cảnh hoạn nạn như thế này. Tương lai tù đày thì dù vẫn mù mịt, nhưng ít nhất trong đêm nay, những cái bụng đói cũng đã được an ủi phần nào, nhờ một món quà bất ngờ là con rắn chết…
. Phải công nhận là nhờ có món thịt rắn bổ sung, nên ai ai cũng lấy làm phấn khởi. Thật ra, thì nó cũng chẳng có bao nhiêu, mỗi người cuối cùng đều được chia một chút ít là đã cảm thấy an ủi và mãn nguyện lắm rồi!
Có thể nói, hôm đó đối với các anh là một ngày vui, giống như là tham dự một buổi liên hoan gì đặc sắc lắm! Sự kiện con rắn bị xe cán chết trên đường đi lao động, đối với các anh thật là quan trọng. Mà không quan trọng sao được, vì rõ ràng nhờ con rắn chết này mà đã làm cho các anh cảm thấy vui. Và theo như lời một anh bạn tù khi được hỏi sau đó, thì anh bất ngờ cười lên và nói:
- Ối giời ơi, nó làm cho tinh thần các anh em mình “lên cao” dữ lắm !!!...
oOo
Là một người đã từng đi thăm nuôi tù cải tạo ở ngoài miền Bắc, nên nhờ thế mà biết được hoàn cảnh bi thương của những người tù cải tạo năm xưa. Có lẽ, chính nhờ những điều này mà mỗi khi có dịp hồi tưởng lại, thì chắc cũng giống như nhiều người khác trong chúng ta, người viết ít nhiều cũng không khỏi ngậm ngùi và nghe trong lòng một niềm thương cảm.
Giờ đây, cuộc sống đã đổi thay, nhiều người tù cải tạo năm xưa đã được định cư và có cuộc sống tốt đẹp nơi xứ người (nhờ được đi theo diện HO cùng gia đình). Liệu có phút giây nào những người tù ấy chợt nhớ về quãng đời đầy đau thương, đói khổ và tủi nhục khi xưa? Dù thê lương đến mấy, dù quá khứ có gian khổ thế nào, nhưng tin rằng những thử thách ngày ấy vẫn không thể làm lay chuyển niềm tin và tinh thần trung can của những người lính VNCH năm xưa.
Cầu chúc các anh và gia đình nhiều sức khỏe cùng mọi điều tốt lành và an bình nhất cho tâm hồn, nhất là trong những tháng ngày còn lại… 
Nước non vạn dặm xa vời,
Tinh thần chiến sĩ trọn đời sắt son.
Dẫu cho sông cạn đá mòn,
Khí hùng người lính vẫn còn không phai
Lê Nguyên
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét