Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang ( hiện vẫn còn ở VN) : “Chế độ VNCH ngày xưa có nhiều điểm ưu việt hơn chế độ chính trị của miền Bắc. Khi giải phóng vào thì tôi thấy là nền giáo dục của họ rất tốt, họ giáo dục cho trẻ em cái Lễ, chứ không phải là đấu tranh giai cấp. Con người ở miền Nam họ sống với nhau cũng có nghĩa hơn, chứ không phải như những con người giả dối, trong hội trường thì tung hô một nẻo, về nhà thì nói một nẻo. Rồi còn có báo chí, nhân quyền được tôn trọng hơn, có tự do ngôn luận hơn chứ không như ở miền Bắc là bưng bít, phải nói theo đảng làm theo đảng, không được phê bình đảng, không nói được nguyện vọng của nhân dân, của quần chúng ” .
<!>
“Bên Thắng Cuộc” – Huy Đức : Ước mơ của người Hà Nội trong thập niên 1970 là một chiếc xe đạp Thống Nhất, một cái quạt tai voi hay một đôi dép nhựa Tiền Phong. Tiêu chuẩn của các cô gái Hà Nội cũng thật là đơn giản: Một yêu anh có may ô / Hai yêu anh có cá khô ăn dần / Ba yêu rửa mặt bằng khăn / Bốn yêu anh có chiếc quần đùi hoa.. Chỉ những người đạt các danh hiệu thi đua mới có thể được phân phối xe đạp. Xe đạp muốn lưu hành cũng phải đăng kí xin cấp giấy chứng nhận sở hữu và biển số xe.
***Nhà văn miền Bắc Tô Hoài : Các cửa hàng, phiếu thịt chỉ bán mỡ – mà hoạ hoằn mới có. Người đổ ra đường, suốt ngày nháo nhác sắp hàng, xếp hàng mua từ mớ rau đay. Bom đánh trên đầu, dưới đất thì kéo dài hàng như thế này, biết sẽ ra sao. Tôi ra nhận làm công tác trưởng khối phố, tôi đi xem xét các nhà thiếu đói để xin cứu tế cuối năm. Vào một nhà, chị ấy làm nghề y tá, chồng li dị. Ba mẹ con cả tháng ăn cháo quấy lẫn rau muống. Nửa phần gạo phiếu đã bán để thêm tiền chi tiêu và mua rau, mắm muối.
” Bên Thắng Cuộc”- Huy Đức: Ngay từ cuối thập niên 1960, trong khi ở miền Bắc xe đạp cũng rất hiếm người có mà đi, ở miền Nam người dân đã có thể sở hữu ô tô, còn xe máy hai bánh thì tới đầu thập niên 1970 đã trở thành phương tiện giao thông cá nhân phổ biến.
*** Nhà văn miền Bắc Dương thu Hương: “… Chúng tôi sống như những người nông dân và tất cả mọi người đều chịu sự tàn phá của bom đạn chiến tranh. Thức ăn thức uống vô cùng khan hiếm, thậm chí rau cũng không có. Gạo ở bên kia sông, chỉ vì mấy cân gạo có thể mất mạng, vì bom Mỹ ném liên tục “.
Ông Dương Danh Dy, nguyên tổng lãnh sự CS Việt Nam tại Quảng Châu ( Trung quoc6) bàn về quan hệ Việt – Trung thời kỳ chiến tranh :
Những người ở lứa tuổi tôi (và trẻ hơn hai mưoi, hai nhăm tuổi) hiện nay đều không quên những viện trợ to lớn của nhân dân Trung Quốc anh em cho chúng ta trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Từ vũ khí đạn dược đến gạo ăn vải mặc, từ ô tô, tầu thủy, máy bay đến chiếc xe đạp, máy khâu, từ gói mì chính đến cái kim sợi chỉ…, không sao kể hết.
Tôi còn nhớ, từ chiếc mũ cối và đôi dép cao su Việt Nam đưa mẫu sang, các kỹ sư và công nhân Trung Quốc đã chế tạo cho quân đội ta và nhân dân ta những chiếc mũ cối và đôi dép lốp nổi tiếng một thời (mũ cối có thể làm ghế ngồi nghỉ sau một trạm hành quân và dùng làm gầu múc nước tắm, còn dép lốp thì bền tới mức chông sắt đâm không thủng, đi mãi không đứt quai).
Nhiều người Việt Nam thời đó từng được ăn nếm những phong lương khô rất ngon của Trung Quốc, nhưng ít ai biết rằng để đảm bảo sức khỏe cho các chiến sĩ ta, một số cán bộ kỹ thuật của nhà máy Ích Dân Thượng Hải đã trực tiếp thử nghiệm trong hơn hai mươi ngày liền chỉ ăn những phong lương khô đó trên đường hành quân mang nặng như các chiến sĩ ta. (Tôi may mắn được đến thăm nhà máy này ba lần và nếm thủ lương khô tại chỗ).
Ít người Việt Nam được biết những con tầu Giải phóng tải trọng chỉ có 50 tấn nhưng dùng động cơ mạnh tới 800 mã lực(nghĩa là có tốc độ rất nhanh) để có thể từ một cảng miền Bắc chở vũ khí, lương thực… vào cập bến tại một nơi ở vùng giải phóng miền Nam rồi trở lại ngay miền Bắc trong đêm đã được các kỹ sư và công nhân một nhà máy đóng tầu Trung Quốc thiết kế và chế tạo xong trong một thời gian ngắn kỷ lục theo yêu cầu của chúng ta.
Tôi cũng không thể nào quên những ngày nhiều công dân Trung Quốc sôi nổi gửi tiền ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ đến Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc kinh và vẫn còn nhớ nhiều vở kịch lấy đề tài từ cuốn “Những lá thư miền Nam” được các nghệ sĩ Trung Quốc chuyển thể thành các vở diễn mang tên “Những bức thư tiền tuyến” công diễn tại nhiều nơi ở Trung Quốc.
***Ngày 18 tháng 2, 1973, ba sĩ quan VNCH Phạm Huấn, Phan Nhật Nam và Dương Phục đã đi trên một cái máy bay của Ủy Ban Liên Hợp 4 Bên đến Hà Nội chứng kiến cuộc trả tù binh Hoa Kỳ đợt thứ hai ở Gia Lâm .
Dưới đây là thủ đô Hà nội theo lời thuật lại của Phạm Huấn :
Tháp Rùa vẫn như tự bao giờ giữ màu vôi cũ kỹ. Nhưng tất cả vẻ đẹp của Hà Nội, màu sắc của Hà Nội đã mất hết. Những người dân tôi nhìn thấy quanh hồ, chỉ còn là những người dân lam lũ, nghèo khổ, quần thâm, áo cánh, cắm cúi đi lại, hoặc đứng đợi những chuyến tàu điện, khăn gói vắt vai, quang gánh xếp bên lề đường, người nào cũng chỉ còn lại trên vẻ mặt một sự âm thầm, tất tưởi, gần như không còn ai có thì giờ hoặc muốn trò chuyện với ai nữa.
Ngày 18 tháng 2 chúng tôi trở về Hà Nội là ngày chủ nhật, nhưng Hà Nội không có một vẻ gì là được nghỉ ngơi cả. Suốt một ngày ở Hà Nội chúng tôi chỉ nhìn thấy độ một chục chiếc xe hơi, hầu hết đều của các phái đoàn ngoại giao ở Hà Nội, còn toàn thể dân Hà Nội đều di chuyển bằng xe đạp, tàu điện hoặc đi bộ. Năm 1954, số xe hơi ở Hà Nội đâu có ít ?
Những thiếu nữ yêu kiều, thướt tha của Hà Nội xưa, đã biến hết, chỉ còn lại mấy cô nữ cán bộ mặc đồng phục màu xám nhạt, hoặc những nữ công nhân quần đen bạc, áo cháo lòng. Cả thành phố không có lấy một người mặc áo dài.
Cả thành phố không lấy một cửa hàng mở cửa. Tất cả sinh hoạt thương mãi của thủ đô tập trung ở một cửa hiệu bách hóa của nhà nước.
Khi đi qua công viên Thống Nhất, công viên mới được nhà nước Cộng Sản Bắc Việt lấp một phần hồ Bẩy Mẩu, lập nên sau 1954 và đó cũng là kiến trúc duy nhất tại Hà Nội kể từ 1954 đến giờ, chúng tôi đã nhìn thấy những em bé, trong cái rét tháng giêng ở Hà Nội, cái rét cắt thịt như vậy, nhưng các em chỉ mặc phong phanh có một chiếc áo cánh mỏng hoặc một chiếc áo len cũ, và đi chân đất.
Thấy khách lạ, các em chỉ giương những cặp mắt ngây thơ ngó nhìn, chứ không nói cũng không em nào cười, như bản tính hồn nhiên thường thấy ở các em nhỏ.
…….
( Trích đoạn ) Nhà văn miền Bắc Phạm Thanh Nghiên (hiện ở VN):" … Bố tôi thậm chí còn lập bàn thờ ông Hồ trong nhiều năm, cho đến khi ông gần qua đời thì ông đập bỏ. Tôi từng yêu ông Hồ và đảng Cộng Sản Việt Nam, đấy là hệ quả một nền (tạm gọi là) giáo dục, nhồi nhét mà sau này tôi mới nhận ra và cảm thấy thật đáng ghê tởm. Mãi đến năm 29 tuổi, tôi mới nhìn ra sự thật. Tôi trải qua một cú sốc tinh thần ghê gớm và có lần tôi đã mô tả nó là “vừa trải qua một cơn ốm nặng.”
"Tôi đã khóc rất nhiều, cả day dứt nữa, khi tìm hiểu về miền Nam giai đoạn 1975 trở về trước. Có một miền Nam đẹp đẽ và tốt lành đến không ngờ trong sự hình dung của tôi. Một sự tiếc nuối đến thắt lòng, cảm giác như mình bị mất đi một thứ vô giá không bao giờ tìm lại được, dù tôi sinh tại miền Bắc, sau năm 1975, và chưa được sống ngày nào trên xứ sở đẹp đẽ ấy.
"…….Làm sao mà một người miền Nam có thể hình dung những người phụ nữ miền Bắc phải vạch áo, tự cho tay bóp thật mạnh vào bầu vú trước mặt cán bộ để chứng minh mình không có sữa, hòng kiếm được cho đứa trẻ sơ sinh con mình một xuất sữa bò theo tiêu chuẩn nhà nước. Nếu nặn hết sức và đầu vú còn chảy ra vài giọt sữa, đứa trẻ sẽ không có tên trong danh sách được hưởng chế độ hỗ trợ của Nhà nước. Làm sao một người miền Nam hình dung nổi một ông thầy giáo phải cúi mình, chào một thằng nhãi ranh bằng “ông” chỉ vì bố nó là cán bộ Cộng Sản.
"Khi người dân miền Nam có tivi, tủ lạnh dùng, người miền Bắc vẫn bị cái đói bủa vây. Khi phụ nữ miền Nam biết trang điểm, mặc áo dài, váy đầm, đi giày cao gót thì phụ nữ miền Bắc vẫn chưa biết đến cái băng vệ sinh. Họ phải dùng vải vụn, thậm chí nhà nào đông chị em gái thì dùng chung mấy tấm khăn vải màn. Dùng xong giặt sạch sẽ để các tháng sau mỗi kỳ kinh nguyệt lại sử dụng tiếp. Tôi không muốn kể ra chuyện này, nhưng đó là nỗi khổ sở, thiếu thốn điển hình của người dân miền Bắc từ những năm 1960, kéo dài đến tận thời bao cấp.
Nền giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa dạy rằng “Tiên học lễ, hậu học văn “.
BBC News 26 tháng 11 2021 : Sau 1975, dấu tích chế độ cũ hầu như bị xóa sạch. Từ tên đường, bậc học, môn học dến sách học; từ ngôn ngữ đến áo dài lẫn cách chào vòng tay cúi đầu, cách đối nhân xử thế . Sau 1975, học trò vòng tay chào thầy cô bị xem là không bình đẳng. Quan hệ cha – con, thầy – trò đều “đồng chí tất”. Thương cảm, cứu giúp người nghèo khó bị lên án là “Tiểu tư sản”. Điều gì gắn với phong kiến đều bị lên án kịch liệt.
Cả thế giới, nước nào cũng có quốc phục riêng, trừ Việt Nam. Thời bao cấp, có lãnh đạo từng phê phán áo dài là “Tàn dư phong kiến lẫn tư sản, rườm rà, một áo dài có thể may được vài áo ngắn”.
Chuyện cậu bé lớp 4 ở Cần Thơ vòng tay cám ơn tài xế nhường đường, dậy sóng dư luận, rồi được khen thưởng hồi tháng 4/2021. Việc quá đỗi bình thường, “nhỏ như con thỏ” của tất cả học sinh ở miền Nam trước 1975.
* Nhận xét của nhạc sĩ miền Bắc Tô Hoài khi được vào Nam sau tháng Tư năm 75: “….Tớ muốn chửi cha cái thằng dám viết báo nói rằng “phong cách trẻ em khoanh tay, cúi đầu khi chào người lớn ở miền Nam là rơi rớt từ chế độ phong kiến!”
” Đặc biệt là đối với giới trí thức miền Nam, họ có được cái đầu và trái tim phóng khoáng, tự do hơn chúng tớ nhiều. Hơn thế nữa họ có nhiều điều kiện để trau dồi trí thức, được đọc nhiều, xem nhiều, đi nhiều …”.
Nhà văn Huy Phương- 27/3/2016 : “Sau Tháng Tư, 1975, dân Bắc, ai đi Nam về cùng có chung một nhận xét “trẻ con trong Nam hầu như rất ít nói bậy và viết những điều tục tĩu lên tường nơi công cộng, đi đâu về nhà thì lễ phép cung kính vòng hai tay thưa gửi người bề trên. Đặc biệt, ngoài đường, xe cộ nếu có đụng chạm thì cũng không dẫn đến xô xát, chửi bới nhau như ngày nay.”

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét