SƯ Đoàn 22 Bộ Binh án ngữ Bình Định - Qui Nhơn: 3 vị Trung Đoàn Trưởng 40,41,47 đã tái hồi sinh một Sư Đoàn 22 mãnh liệt và dũng cảm hơn bao giờ hết.Sư Đoàn 22 cùng với Sư Đoàn 23 từ đó đã tái chiếm, trấn giữ vùng Cao nguyên từ Pleiku đến KonTum, từ Pleime đến Bình Định. Nhưng cho đến một ngày….. Một ngày vào cuối tháng 3 năm 1975.… Tình thế biến chuyển thật lẹ làng. Quyết định sai lầm trong việc triệt thoái Quân đoàn 2 ra khỏi Cao nguyên chẳng nhữngđã không duy trì được lực lượng tác chiến mà còn làm rối loạn hậu phương và cũng chẳng có một lợi ích chính trị nào hết nếu không muốn nói đến sự phá sản của mọi mặt khi Quân đoàn 2 bắt đầu đổ vỡ.
Tháng 3 năm 1975, khi Ban Mê Thuột thất thủ, SĐ22 chỉ còn 3 Trung Đoàn để phòng thủ Bình Định vì Trung đoàn 40 đã phải tăng phái cho SĐ23 BB tại tuyến bắc Khánh Dương. Tại Bình Định, Trung Đoàn 47 của Đại tá Lê Cầu (Khóa 18/Võ Bị Đà Lạt) được giao khu vực bắc Bình Định, lo trấn giữ Bồng Sơn, cửa ngõ ra vào thung lũng An Lão.
Trung Đoàn 41 của Đại tá Nguyễn Thiều giữ Quốc lộ 19 từ Bình Khê đến An Khê trong khi Trung Đoàn 42 của Đại tá Nguyễn Hữu Thông giữ Quốc lộ 19 phía Nam Bình Khê và phần lãnh thổ còn lại của Bình Định.
Trong lúc Trung Đoàn 42 đang cầm cự một cách dũng mãnh với Sư Đoàn 3 Sao vàng của CS ở mặt trận Bình khê thì được lệnh phải di tản về Nha Trang để yểm trợ cho Lữ đoàn 3 Nhảy Dù đang cầm chân Cộng quân ở Khánh Dương. Nhưng lui binh bao giờ cũng là vấn đề khó khăn của các nhà quân sự tài danh vẫn không khỏi khốn đốn khi phải rút lui, khi trận địa không còn ưu đãi.
Trước khi mặt trận Ban Mê Thuột bùng nổ, một lần nữa, Trung Đoàn 42 Bộ Binh cũng đã tái chiếm và biến hai ngọn đồi vô danh từ Tây Tây Nam quận Hoài Nhơn, Bình Định thành những “di tích” của chiến sử, với tinh thần chiến đấu chống Cộng phi thường của người quân nhân QLVNCH. Hai ngọn đồi vô danh, đó là những ngọn đồi chiến lược, được mang số 82 và 174, nằm trên huyết lộ vận chuyển của Cộng quân, trên trục Quảng Ngãi – Bình Định.
Ngày 31 tháng 3 năm 1975, trước và sau đó suốt 22 tiếng đồng hồ, các Trung Đoàn 41, 42, 47, trên chặng đường rút quân này, đã phải đương đầu một trận tuyến dài hơn 30 cây số; từng đơn vị bị phục kích, bị “chặt đứt” ra từng đoạn nhỏ. Họ phải trực diện một cuộc trả thù tàn ác, man rợ nhất trong trận chiến sau cùng của chiến tranh Việt Nam.
Trên 30 cây số đường máu, chiến đấu không yểm trợ, không tiếp tế, không tản thương...
“Đối thủ” lần này tuy vẫn là Sư Đoàn 3 Sao Vàng CS, và những tiểu đoàn đặc công CS, Cộng quân ở thế thượng phong, có pháo và chiến xa yểm trợ. Cộng sản đã không cần biết đến quy luật của chiến tranh. Chúng thẳng tay tàn sát “kẻ thù” mà trước đây đã gây cho chúng những tổn thất lớn lao, những thất bại đau đớn.
Trên 30 cây số đường máu, các chiến sĩ Sư Đoàn 22 Bộ Binh đã chiến đấu trong tình trạng tuyệt vọng nhưng vẫn dũng cảm, anh hùng. Tưởng cũng cần nhắc lại, Sư Đoàn 22 BB gồm có 4 Trung Đoàn bộ binh, Trung Đoàn 40, 41, 42 và 47.
Nhiều người đã bắn đến viên đạn cuối cùng, rồi ngã gục! Những hành động thật hào hùng, thật phi thường, trong đó có Đại tá Lê Cầu, Trung Đoàn trưởng Trung Đoàn 47...
Mọi kế hoạch thật không diễn tiến đúng như những bàn thảo ban đầu. Thành phố Quy Nhơn hỗn loạn sớm hơn dự tính vì đã có sự trà trộn của các đặc công và sự quấy phá của cộng sản nằm vùng. Tuy nhiên khi Trung Đoàn 42 từ An Túc rút về tử thủ ở chân đèo An Khê, tại đây, Trung Đoàn 42 đã lần chót đã đánh bật sư đoàn 3 Cộng quân không cho tràn xuống từ đèo An Khê, đã tiêu diệt trên 600 địch quân. Sư Đoàn 3 CS (SĐ3) phải bọc qua dẫy Nam Triều cố tràn xuống chiếm Quy Nhơn, nhưng Đại tá Thông đã kết hợp với Trung Đoàn 41 của Đại tá Thiều (bạn cùng khóa 16/Trường Võ Bị Đà Lạt) tức tốc kéo về thành phố Quy Nhơn trước, đã cầm chân Sư Đoàn 3 và các lực lượng địa phương Cộng sản để bảo vệ cho Quân Dân di tản, và đã ở lại tử thủ Quy Nhơn cho đến ngày 2 tháng Tư.
HQ3, Soái hạm có Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh; HQ07 có HQ Trung tá Lê Thuần Phong, CHT Hải đội 2 Tuần dương, sau đó đã lên HQ403 để điều động cuộc nhập hạm của 2 Trung Đoàn 41 và 42; HQ 08 có HQ Trung tá Lê Thành Uyển, CHT Hải đội 3 Tuần dương, trách nhiệm phối hợp với các đơn vị Bộ Binh trên bờ; HQ400 có nhiệm vụ đón các đơn vị sau cùng của Sư Đoàn 22BB và 2 vị Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 41 và 42.
Ngày 2 tháng tư năm 1975, Sư Đoàn 22BB có lệnh từ Bô Tổng Tham Mưu phải rút quân, Đại tá Nguyễn Hữu Thông và Đại Tá Nguyễn Thiều, Trung Đoàn trưởng Trung Đòan 41 đành phải điều động gần 5 Tiểu Đoàn thuộc quyền lên các chiến hạm Hải Quân đậu gần bờ dưới những lằn đạn pháo kích nghiệt ngã của Cộng quân. Nhưng vẫn còn một Tiểu Đoàn của Đại Tá Thông còn chưa đến. Hai ông quyết định một người phải ở lại chờ đợi, một người phải lên tàu để chỉ huy đoàn quân. Thông và vài người đã chọn ở lại, quyết chờ đợi.
HQ3 là Soái hạm trong chiến trận hành quân phối hợp sau cùng tại Qui Nhơn.
Vì chiến hạm phải cứu nguy hàng ngàn người di tản khác khi địch quân hàng hàng lớp lớp đang truy kích quân ta sát bờ, nên phải nhổ neo. Từ trong bờ, CS bắn ra chiến hạm dữ dội khiến chiến hạm không thể nào cặp bãi được. Cuối cùng, một số các quân nhân của Sư Đoàn 22 phải bơi ra. Trong số những quân nhân đã lên tàu, có Thiếu Tướng Phan Đình Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh.
Trong khi đó, từ thành phố Quy Nhơn, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 42 Bộ Binh, Đại Tá Nguyễn Hữu Thông tiếp tục trấn an Hải Quân Trung Tá Lê Thành Uyển, Chỉ huy trưởng Hải Đội 3 tuần dương trên HQ08. Ông cho biết rằng trong thành phố Quy Nhơn không có một tên Cộng quân nào cả. Trung Tá Uyển hỏi tại sao lại có nhiều tiếng súng thì Đại Tá Thông trả lời, đó là của Nhân Dân Tự Vệ bắn vu vơ, để ông ấy cho dẹp ngay. Vì đã biết tình hình thật sự trên bờ, Trung Tá Uyển yêu cầu Đại Tá Thông nên ra tàu sớm. Đại Tá Thông bảo Trung Tá Uyển cho tàu đón quân lính của ông ra trước đi…. Sau cùng, Trung Tá Uyển lại liên lạc với Đại Tá Nguyễn Hữu Thông lần chót, hỏi tại sao chưa thấy ông lên tàu? Đại Tá Thông đáp: “Tôi không thể ra với anh được. Lính của tôi có lẽ ra cũng gần hết rồi. Cảm ơn anh. Tôi đi về đây!” Nhưng không ai biết vị Anh hùng ấy đi về đâu?!
Theo lời của Đại tá Nguyễn Thiều, Đại tá Thông cùng với vài binh sĩ đã đi ngược lại về phía những Ngọn Đồi Vô Danh tức cao điểm 82 và 174 phía Tây Tây Nam Quận Hoài Nhơn tỉnh Bình Định, có lẽ ông đã cùng chết với những binh sĩ sau cùng của ông vừa mới tử trận trên những ngọn đồi lịch sử này.
Vị Đại tá nằm xuống ngày 2 tháng 4, ông chỉ mới 38 tuổi đời, Đại tá Nguyễn Hữu Thông, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 42, Sư Đoàn 22 Bộ Binh- QLVNCH
Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng TrÐ 42/SÐ 22BB, tự sát vào
cuối tháng 4, 1975 và được chôn trong nấm mộ tập thể tại Quy Nhơn.
Thi hài ông được mai táng trong một ngôi mộ tập thể khổng lồ, dưới
chân cột cờ bên ngoài Quân Y Viện Quy Nhơn, trong đó có 47 thi hài tử
sĩ. Câu chuyện này được một hạ sĩ quan pháo binh kể lại, đồng thời gợi
lại ký ức đau buồn nơi một vị bác sĩ hiện đang hành nghề ở New York.
Vào đầu năm 1975, anh Dương Công An nguyên là một hạ sĩ quan Pháo
Binh thuộc tiểu đoàn 223 Pháo Binh, nay anh đang sống tại Ðức. Anh An
cho biết, vào những ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1975, đơn vị
của anh bị tan hàng trên bờ biển Quy Nhơn, anh và một số anh em binh sĩ
khác đã lẩn trốn nhiều ngày trong Quân Y Viện Quy Nhơn.
Ở đấy, khi đó chỉ còn có một bác sĩ duy nhất, là Trung Úy Nguyễn Công
Trứ. Ông Trứ hiện là bác sĩ quang tuyến tại một trường đại học ở New
York. Khi tin về nấm mộ tập thể tại Quân Y Viện Quy Nhơn được tôi đưa
lên net, nhiều người đã điện thoại cho Bác Sĩ Trứ. Những cú điện thoại
này nhắc nhở cho ông quá nhiều chuyện kinh hoàng trong quá khứ, khiến
ông nhiều đêm mất ngủ.
Sau nhiều lần gọi và nhắn trong máy là chúng tôi sẽ gọi lại, Bác Sĩ
Trứ mới bốc máy. Ông kể, vào những ngày sau cùng, một buổi sáng ông được
tiếp Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42 đi trực
thăng đến thăm Quân Y Viện. Thấy tình cảnh trong quân y viện chỉ còn một
bác sĩ và hằng trăm thương binh trong tình trạng thiếu ăn, thiếu thuốc,
cũng như nhiều thương binh chết chưa được chôn cất, Ðại Tá Thông đã
khóc trước mặt Bác Sĩ Trứ.
Và chỉ một ngày sau đó, Quân Y Viện tiếp nhận một tử thi nữa, và đó
chính là tử thi Ðại Tá Thông. Binh sĩ đưa xác ông tới, và cho biết ông
đã tự sát. Nhiều nguồn tin sau này cho biết, Ðại Tá Thông đã từ chối
xuống tàu vì binh sĩ dưới quyền ông còn kẹt lại quá nhiều, không di tản
được.
Khi đó, tại quân y viện này, có cả hàng trăm bệnh nhân cho một mình
Bác Sĩ Trứ. Ðồng thời cũng có rất nhiều binh sĩ tử trận được mang về nằm
từ trong nhà xác và rải rác ra khắp hành lang. Các thi hài tại nhà xác
QYV đã bốc mùi, và chó đã vào nhà xác ăn, gặm các tử thi này, nên Bác Sĩ
Trứ đã nhờ khoảng 20 anh em quân nhân còn sức khỏe phụ với Bác Sĩ Trứ
đào một huyệt mộ rất lớn dưới cột cờ, gần khu quân xa của Quân Y Viện.
Ở đây gần biển cát nên việc đào đất tương đối dễ dàng. Ðầu tiên là
những tử sĩ đã được khâm liệm trong quan tài có phủ quốc kỳ được sắp
xuống trước, tiếp theo là những người chết nằm trên băng ca được đặt lên
trên những quan tài, cứ thế mà sắp xếp. Tất cả là 47 thi hài tử sĩ,
trong số này có Ðại Tá Thông, là cấp chỉ huy trực tiếp của anh An.
Lúc bấy giờ Saigòn chưa thất thủ, ngay cả sinh mạng của anh em binh
sĩ bại trận cũng không biết sẽ ra sao nên sự việc chôn cất anh em tử sĩ
lúc đó chỉ được thực hiện rất sơ sài hầu như là lén lút và vội vàng. Sau
đó vài ngày tất cả bị bắt làm tù binh.
Anh An cho biết câu chuyện đã đeo đuổi theo anh suốt bao nhiêu năm
nay, tâm nguyện của anh là ước sao, có ai đó, có khả năng để cải táng
được ngôi mộ tập thể này, đó cũng là dịp mà mình an ủi được phần nào
linh hồn của những tử sĩ này, nhưng những hy vọng càng ngày càng bị thu
nhỏ lại, vì qua tin tức báo chí đất đai ở Việt Nam đã bị lạm dụng xây
cất bừa bãi, hay khu đất này thuộc phạm vi của bộ đội Cộng Sản thì không
thể làm gì được.
Khi bộ đội vào Quy Nhơn, họ bắt Bác Sĩ Trứ. Nhưng ông không chỉ bị
bắt làm tù binh, mà còn bị buộc tội làm việc cho CIA vì mọi người đi hết
sao chỉ còn một mình Bác Sĩ Trứ ở lại. Trong Quân Y Viện lúc ấy, có một
lính Việt Cộng bị thương được một đơn vị đem gởi điều trị, nhưng lại bị
khóa tay vào thành giường, Bác Sĩ Trứ không có chìa khóa mở còng nên
nhóm bộ đội càng căm thù Bác Sĩ Trứ. Ông bị tù 4 năm 11 tháng, ra tù ông
vượt biển đến Mỹ từ năm 1981, lúc còn độc thân, hiện nay đã có ba con
theo học đại học.
Nhiều bạn của Bác Sĩ Trứ cho biết có gặp ông vào năm 1976 tại trại tù
Kim Sơn, Bình định. Họ đều cho rằng Bác Sĩ Trứ là một người thầy thuốc
rất tận tâm, hết lòng với anh em bạn tù trong trại.
Bác Sĩ Nguyễn Công Trứ cho biết những ngày cuối cùng tại Quân Y Viện
Quy Nhơn ông đã mục kích bao nhiêu cảnh chết chóc thương tâm mà đành bó
tay không làm gì được, cũng như những năm ở trong các trại tù “cải tạo”
ông đã chứng kiến hay tự tay chôn hàng trăm xác đồng đội. Những điều này
ám ảnh ông không bao giờ quên được. Trong những ngày qua, có nhiều điện
thoại hỏi đến ông về câu chuyện cũ gần 36 năm về trước khiến cho ông có
nhiều đêm bị mất ngủ vì những cơn ác mộng. Bác Sĩ Nguyễn Công Trứ nói
rằng ông đã làm theo lương tâm và với tình đồng đội, đã chôn 47 tử sĩ
dưới chân cột cờ của Quân Y Viện. Ông đã nhiều lần về lại Quy Nhơn, qua
lại trước khu Quân Y Viện cũ, ngày nay đã là doanh trại của bộ đội Cộng
Sản, mà không thể làm gì hơn.
Tin về ngôi mộ tập thể cũng đến tai bà quả phụ cố Ðại Tá Thông, nhũ
danh Phùng Ngọc Hiếu. Liên lạc được qua điện thoại hôm Thứ Năm, bà cho
biết mấy ngày hôm nay, nhiều bạn bè đã chuyển cho bà về tin tức ngôi mộ
tại Quân Y Viện Quy Nhơn, cũng là nơi yên nghỉ của Ðại Tá Thông.
Từ 35 năm nay, bà cũng nghe nhiều tin tức về chồng và bà cũng có nghe
tin ông tự sát. Bà cũng đã về Quy Nhơn tìm kiếm nhưng không có tin tức,
và không biết xác ông được chôn cất ở đâu. Bà kể, trước khi mất liên
lạc, Ðại Tá Thông có liên lạc với vợ và than phiền rằng trung đoàn của
ông đang chiến thắng, vì sao lại có lệnh rút bỏ Pleiku.
Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông sinh năm 1937, nguyên quán tại Thạch Hãn,
Quảng Trị, tốt nghiệp khóa 16 Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt. Ông được vinh thăng
đại tá năm 1972. Hiện nay bà quả phụ cố Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông cư ngụ
tại Sacramento và ông bà có 5 người con đã thành đạt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét