Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2026

QUA TRẠM — MỘT THỜI NGĂN SÔNG CẤM CHỢ - Lê Liên


Tháng 11 năm 1982. Gió bấc từ biển Đông hun hút thổi qua triền đèo Cả, quất từng luồng lạnh ngắt vào mặt người đi đường. Chiếc xe Renault cũ kỹ, loại xe khách Pháp còn sót lại, ì ạch bò lên dốc như con trâu già kéo cày giữa mùa hạn. Khói than đặc quánh phả ra từ ống xả, quyện với mùi dầu, mùi áo quần ẩm và tiếng trẻ con khóc khàn khàn. Tôi, sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang, ngồi chen giữa đám hành khách lam lũ. Sau mấy ngày về quê Phú Thứ thăm nhà, tôi lại lên đường trở lại trường, trong túi chỉ còn vài đồng bạc và niềm háo hức mơ hồ của tuổi trẻ.
<!>
Xe bò chậm như rùa. Mỗi khi gặp đoạn dốc khó, phụ xe lại nhảy xuống, tay cầm “cục canh”, khúc gỗ dằn bánh đề phòng xe tụt, rồi hô to:
“Lên đi anh Năm! Mở thêm xăng phụ!”
Tiếng máy gầm gừ, xe trườn được vài mét rồi khựng lại. Gần đến đỉnh đèo, bỗng nhiên xe khựng mạnh, rồi tụt lùi. Tài xế gào lên:
“Canh mau! Canh mau!”
Phụ xe hớt hải đáp:
“Mở thêm xăng chớ! Ai tắt xăng vậy trời!”
Một tiếng ẦM! vang rền. Đuôi xe húc thẳng vào vách đá, thân xe nghiêng hẳn sang một bên. Tiếng la hét, tiếng bà cụ niệm Phật, tiếng kim loại lạo xạo hòa vào mùi khói than nồng nặc.

Khi mọi người hoàn hồn mới biết mình vừa thoát chết trong gang tấc. Xe nằm chết dí bên vách đá, không thể đi tiếp. Những chuyến xe sau cũng chẳng dừng, vì đã chật kín người. Đêm xuống, gió trên đèo thổi hun hút, lạnh buốt đến tận xương. Tôi lục túi, mấy đồng bạc ít ỏi đi đường đã không cánh mà bay. Thế là, tôi đành cuốc bộ suốt đêm, từ đèo Cả về Phú Thứ.
Mưa táp vào mặt, đường trơn trượt, mỗi bước chân như nặng gấp đôi. Gần 1 giờ sáng, tôi về đến nhà, ướt như chuột lột. Cha tôi ra mở cửa, thấy tôi, tròn mắt hỏi:
“Sao thế con? Gặp chuyện rồi hả?”
Nghe kể lại, cả nhà thở phào nhẹ nhõm. Cha tôi chỉ lặng nói:
“Còn sống là may. Xe mà lọt xuống vực thì xong rồi.”
Nhưng “còn sống” cũng chẳng giúp tôi có tiền quay lại trường. Vài ngày sau, cha tôi lặng lẽ bảo:
“Thôi, tao cho bao lúa. Bán đi mà lấy tiền học.”

Bao lúa ấy là phần ăn của cả nhà trong tháng. Nhưng cha vẫn cho, không một chút đắn đo. Tôi rủ thằng cháu, nó học nghề ở xã bên, cùng đem lúa xay lấy gạo, rồi chất lên 2 chiếc xe đạp cà tàng. Mỗi đứa chở chừng 30 chục ký, chọn đêm trời tối để xuống Phú Lâm bán.
Đêm ấy, trăng non mảnh như sợi chỉ. Tiếng bánh xe nghiến sỏi kèn kẹt giữa con đường tỉnh lộ chi chít ổ gà. Khi đến gần trạm kiểm soát đặt gần ủy ban xã Hòa Bình 1 thời nay, nơi “ngăn sông cấm chợ” gắt gao nhất vùng, hai đứa tôi xuống xe, dắt bộ, đi thật khẽ.
Nhưng chưa kịp qua khỏi trạm, bỗng có tiếng quát:
“Đứng lại! Ai đó?”
Hai luồng đèn pin rọi thẳng vào mặt. Tôi đứng chết trân, tay run cầm cập. Một người trong nhóm du kích tiến lại gần, soi kỹ, rồi quát:
“Mấy thằng nhóc tụi mày mà cũng buôn lậu hả?”
Tôi nhận ra giọng ông MT, người bà con xa trong xóm, vẫn hay nhờ cha tôi coi ngày dựng nhà, đào giếng.
Tôi khẩn khoản:
“Dạ, tụi con đem ít gạo xuống bán lấy tiền học, chứ không buôn lậu đâu ạ...”
Ông MT im lặng một lát, rồi lạnh giọng:
“Luật là luật. Tịch thu hết! Xe, gạo, tất cả.”
Tôi sững người. Mấy anh du kích ùa đến, khiêng hai nửa bao gạo ném vào kho. Tôi vừa giận, vừa tủi, vừa đói. Đêm ấy, hai thằng dắt xe về trong mưa, áo quần ướt đẫm, bụng lép kẹp.
Sáng hôm sau, cha tôi đến nhà ông MT, mang theo ít quà quê nhỏ, năn nỉ xin lại gạo. Ông ta chỉ cười nhạt:
“Để tui nói lại với đội rồi trả.”
Nhưng sau đó thì im bặt. Người ta đồn, kho lương thực của đội du kích chất đầy gạo tịch thu. Không ai biết số đó có sung công hay... “vào túi riêng”.

Trớ trêu thay, ngay đêm đó tôi chứng kiến có những chuyến xe lam của mấy người quen biết, chở cả tạ gạo đi qua trạm, lại được cho qua dễ dàng.
Vài năm sau, nhiều người trong nhóm du kích năm ấy lần lượt “ra đi”, trong đó có cả ông MT. Dân làng xì xào:
“Ác giả ác báo.”
Tôi không dám tin, nhưng lòng vẫn se sắt, bởi suy cho cùng, họ cũng chỉ là những nạn nhân của một thời...
Giờ đây, đoạn đường đặt trạm năm xưa đã đổi thay, xe cộ tấp nập, hàng hóa qua lại tự do. Nhưng mỗi lần đi qua, tôi vẫn nhớ như in đêm hai thằng dắt xe run rẩy trong mưa lạnh, bị tịch thu bao gạo, phải quay về trong nỗi buồn nặng trĩu.
Gió vẫn thổi qua rặng phi lao, nghe như tiếng thở dài của bao kiếp người trong cái thời đói nghèo, khi chỉ một bao gạo nhỏ cũng đủ khiến người ta khốn đốn, khiến lòng người ngả nghiêng.

Lê Liên

Không có nhận xét nào: