Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2026

NGƯỜI LÍNH TRẺ - Xuân An Cao Hoài Sơn


Dòng hồi ức dẫn tôi quay về với những ngày tháng tôi là lính mới tò te, mới ra trường Bộ Binh Thủ Đức. Giờ đây tan tác muôn phương, nhưng tất cả dường như chỉ mới hôm qua đây thôi... Những cuộc tấn công của cộng quân, những ẩn nấp của bọn VC chém vè chuyên nghề chui rúc.. Tôi đã hòa vào cuộc sống mà nhịp thở của nó là các chiến trường, âm thanh của nó là tiếng bom nổ đạn bay, tiếng ồn ào bổ bã lính tráng... Tuy tiếng là sĩ quan nhưng thực sự tôi còn quá non trẻ, và đã được rất nhiều quân nhân Hạ sĩ quan nhưng già dặn chiến trường không những chỉ dạy thực tế, mà còn “bảo bọc” tôi trong các tình huống nguy hiểm nữa. Trong số đó có ông thượng sĩ Tồn.
<!>
Từ khi bước chân về Đại đội 118/ĐPQ này, tôi được rất nhiều thiện cảm của mấy ông Thượng sĩ già người Chàm. Tôi còn nhớ những lần đi hành quân trong Động Thái An, vùng Đồi Lạc Sơn, hay trong những trận phục kích địch tại Xuân Quang, Hiệp Thành, Cà Nuôi v..v.. tôi đều được các ông Thượng sĩ già Trung đội phó chỉ bảo những kinh nghiệm tác chiến quý giá mà không có quân trường nào hướng dẫn cả. Tôi rất nghiêm chỉnh trong việc ghi nhận những chỉ bảo này, coi đó là những bài học thiết thực mà người Chỉ huy mới ra trường chưa có đầy đủ kinh nghiệm chỉ huy 1 đơn vị chiến đấu cần phải có để giảm bớt tối thiểu máu xương của binh sĩ dưới quyền. May mắn cho tôi là về được 1 đơn vị thiện chiến nhất nhì của Tiểu Khu Bình Thuận và tôi biết chắc rằng với Đại đội này khi lâm trận chỉ biết có xung phong giết địch chứ không hề có tư tưởng tháo chạy, và chắc chắn một điều là khó có nội tuyến VC nằm vùng trong đại đội này. Đó là nhận xét riêng của tôi sau 1 thời gian ở đây.

Có những lúc trầm ngâm một mình, tôi như nghe lại rất rõ những âm thanh năm xưa đã đi vào ký ức đầu đời của tôi, nó vào sớm hơn cả những ký ức tình yêu nên nó sâu đậm có khi còn hơn cả một ký ức tình yêu...
Đó là một ngày ít việc của một đoàn quân tác chiến.
– Hôm nay ông Thiếu úy đi uống với tôi ít chai!
Tôi chần chừ nhìn ông Thượng sĩ già Tồn bận bộ đồ lính nhưng rất luộm thuộm, bèo nhèo. Sáng nào nếu không đi hành quân, Đại đội thường tập hợp vào 8 giờ sáng tại sân cờ Chi khu Phan Lý Chàm để điểm danh sau đó mới tan hàng sau khi nhận lệnh phân công từ Đại Đội Trưởng Trung úy Ngư. Ông Thượng sĩ già này đã nhiều lần mời tôi nhưng tôi đã khéo léo từ chối, hôm nay thì chắc không thể nữa rồi vì Đại đội hôm nay không có công tác quan trọng, vả lại quán nhậu cũng gần đây, nếu có gì thì cũng có thể về ngay Chi khu để nhận công việc, nếu tiếp tục từ chối nữa có thể làm mất lòng người HSQ già này thì không tốt. Tính của tôi ít khi bỏ đơn vị để đi rong chơi, lúc này tôi còn độc thân nên ít khi vắng tại đơn vị.Vì vậy Chi khu PLC một lần nhận được nguồn tin từ một người Chàm Hậu Quách cho biết có khoảng một Tiểu đoàn Cộng quân đang tập trung bên đường rày xe lửa bên kia xóm Hậu Quách, chúng tôi đã vội vã tập hợp đầy đủ sau 1 hồi kẻng đánh và lên đường truy kích cộng quân ngay bằng 2 chuyến xe GMC đổ xuống bên xóm Chàm Hậu Quách. Lần đó có Cố vấn Mỹ Chi Khu PLC cùng đi với Đại Đội, đến nơi thì cộng quân đã chém vè nên khôngcó đụng độ xảy ra.

Thật tình tôi cũng muốn có dịp để tâm sự với ông Thượng sĩ già người Chàm gốc Ma Lâm Thiện Giáo tên Tồn này để tìm hiểu về người Cha quá cố của mình vì ông ta thường nói Thiếu úy (tức tôi) giống ông già y hệt, mới nhìn đã biết Thiếu úy là con của ông Sếp. Ông ta cũng thường thố lộ là mình và một vài bạn đồng ngũ hiện đang có mặt trong đơn vị Đại đội 118/ĐPQ này lúc trước đã từng là lính dưới quyền của ông già tôi. Tôi rất muốn tìm hiểu để biết thêm về người Cha quá cố của mình, nhưng tại quê tôi rất ít người biết chỉ trừ ông Quế Râu, người ông bà con bên ngoại của tôi, là còn nhớ chút ít vì ông đã từng làm thông ngôn (thông dịch viên) cho ông già tôi khi ông ấy còn làm Sếp ở cầu số 4 Xóm Lụa, chiếc cầu duy nhất bắc qua con sông Lũy khi băng qua QL1 ở chợ Lầu, tại đây có một đồn rất lớn của lính Pháp đồn trú. Còn sau đó khi ông già đổi vào Thiện Giáo thì chính má tôi cũng không còn rõ nữa.

Riêng Thượng Sĩ Tồn này mặc dù là người Chàm nhưng cũng khá đẹp trai, mặc dù tuổi đã lớn sắp phải về hưu. Ông ta có màu da cũng sáng sủa, với chiếc mũi cao đẹp, nếu ông không nói với giọng hơi cứng của người Chàm nói tiếng Việt thì không ai nghĩ ông là người Chàm. Tôi để ý thấy ông ta không bao giờ cười, với gương mặt lầm lì trước binh sĩ trong Trung đội, nếu là người lạ chắc cũng ớn ông Thượng sĩ này lắm. Tôi cũng muốn tìm hiểu về người Trung đội phó của mình nên vui vẻ đồng ý đi làm vài chai với ông ta. Nhưng tôi nói trước, tôi chỉ làm vài chai chơi thôi, chừng nào thấy hết uống nổi nữa thì tôi xin về, đồng ý như vậy thì tôi mới dám đi lai rai với bố già. Vì tôi biết rằng, bố này ít khi uống bia mà khi đã uống rồi thì uống tới 3 ngày 3 đêm, không cần mồi nhậu, chỉ uống một mình, không bao giờ uống với người thứ hai và ngủ luôn tại quán, tỉnh dậy lại uống với chỉ độc nhất thứ La Ve con cọp loại chai lớn không cần đá.
Hôm nay đơn vị mới đi hành quân dài ngày về lại được phòng thủ Chi Khu PLC một nơi an toàn nhất trong lãnh thổ Bình Thuận vì từ hồi có chiến tranh đến giờ, nơi đây chưa từng bị tấn công hay đột nhập kể cả trong xóm Chàm Hựu An nơi đặt BCH Chi Khu PLC. Thôi thì cứ để ổng say vài hôm cho đã, có gì tôi lo Trung đội Vũ Khí Nặng này cũng không có gì khó khăn trở ngại.

Lần này có lẽ là đầu tiên, bố già Tồn uống bia với người thứ hai nên trông ông ta rất mừng rỡ vì thật sự quý mến tôi vì thế ông ta kêu thêm dĩa mồi cho tôi. Người chủ quán biết ý khỏi cần kêu đem ra 2 chai bia con cọp loại lớn nhưng chỉ một ly đá cho tôi. Sau khi uống vài hớp lấy giọng, tôi liền vào đề ngay hỏi về ông già của tôi thì được ông cho biết cũng giống như những tin tức mà tôi hỏi được từ ông thông ngôn Nhạn, người Phan Thiết, trước cũng làm thông ngôn cho ông già tôi lúc ông làm Sếp đồn Thiện Giáo. Trước đó không lâu, cũng có lần bố già Tồn cho biết ông Đại Úy Đồn Trưởng tức ba tôi, một Đại úy người Pháp, đã chết trong một lần quân Việt Minh Cộng Sản phục kích đoàn quân do ba tôi chỉ huy, may mắn là bố già Tồn không chết trong trận đó. Nhớ lúc đó tôi đã hỏi bố già Tồn là “Bố ơi, mặt mũi ông ra sao hở bố?” thì ổng cười ha hả nói “Thiếu úy về coi kiếng là thấy mặt ổng liền, hỏi tôi làm chi”. Thế là tôi đã kiểm chứng chính xác về ông già của tôi. Thực sự ông đã chết không còn nghi ngờ gì nữa dù trước đó có người nói ông đã về Pháp. Nhưng cho tới lúc đó tôi vẫn còn lấn cấn về mối quan hệ giữa má tôi với ba tôi.Trong hoàn cảnh thời bấy giờ,những quan hệ như vậy thường bị cho là cưỡng ép, cưỡng hôn, dồn hết mọi xấu xa lên đầu những ông lính Pháp, và cả tôi, tôi cũng suy nghĩ như vậy, nên dù hỏi thì hỏi, tôi cũng không tha thiết lắm với việc tận tường về cha ruột của tôi, một Đại úy Pháp.

Sau 1 vài chai coi bộ nóng máy, tôi mới hỏi qua chuyện khác, như chuyện bố già đi lính hồi mấy tuổi, nhà chính thức ở đâu mà sao tôi không thấy vợ con của bố già đâu cả. Đưa tay bưng chai uống một hơi cạn, búng tay ra hiệu cho chủ quán đem 2 chai khác, đưa ngón tay trỏ vào miệng chai búng một cái phát ra tiếng “Bóc” rồi mới tu một hơi lấy trớn xong rồi ông mới nói: “Mời Thiếu úy làm đi chớ, (tôi mới Chuẩn úy nhưng ông ta đã phong lên Thiếu úy), chuyện vợ con của tui không có gì đặc sắc. Mà tui thấy chuyện vợ con của ông sếp Cao của tui mới là đáng nói đây!!” Rồi với một giọng trầm buồn, bố già kể lại câu chuyện mà tôi đang cần nghe...
“Lúc bấy giờ Việt Minh đang nổi lên mạnh lắm, tụi tui lớp thanh niên Chàm ở Thiện Giáo đa số là đi lính cho Pháp và Quốc gia để chống lại Việt Minh. Như Thiếu úy biết người Chàm không ưa cái tụi Việt Minh Cộng Sản này và mấy ông Sếp người Pháp chỉ tin vào đám lính người Chàm vì bảo đảm không có nội tuyến. Cái vùng Ma Lâm Thiện Giáo, Việt Minh rình mò phục kích đánh nhau với Pháp nhiều trận lớn lắm vì địa thế hiểm trở lại dễ dàng rút lui vào rừng. Hàng tháng quân Pháp đều tổ chức các cuộc hành quân lục soát trong các làng xã nằm dọc Tỉnh lộ 8 bây giờ. Tui vào lính năm đâu 18 tuổi, có đi tham gia hầu hết những cuộc càn quét Việt Minh trong vùng”.
Ông Thượng sĩ già để mạnh cái chai xuống bàn, đưa đôi bàn tay lên xoa mặt vài cái rồi như xúc động vì nhớ về chuyện cũ. Với giọng đều đều, có chút lè nhè bố già kể cho tôi nghe về câu chuyện mà ông cho là quan trọng hơn cả câu chuyện tình sử của chính ông:
“Một ngày đó, (khoảng năm 1950-1951), hai Đại đội lính tại Thiện Giáo do Sếp Cao người Pháp chỉ huy, tổng quát trong đó hơn một nửa là lính Pháp còn 1 số là lính người Chàm đang hành quân ngang qua một cái làng trên Tỉnh lộ 8 (bố không nói rõ tên làng) thì bị quân Việt Minh phục kích núp từ trong những nhà hai bên đường bắn ra làm tử thương rất nhiều lính người Pháp và lính người Chàm chúng tôi. Đây là lối đánh của Việt Minh thời đó, dựa vào nhà dân để phục kích bất ngờ, đánh xong là bỏ chạy mặc kệ. Pháp vì tức giận mấy cuộc đột kích này nên sau khi VM rút sau khi giết được vài tên Pháp, cướp được vài khẩu súng để lấy công dâng đảng, báo cáo thành tích, thì Pháp nổi cáu nên làng xã, người trong xóm bị lính Pháp tàn sát, hãm hiếp để trả thù VM nhưng oan gia tội báo lại đổ lên dân lành vô tội”.

Nghe đến đây đôi mắt của tôi bỗng dưng cay xè, vì thấy thương cho những người dân trong vùng đó quá, và tôi nhìn vào đôi mắt của bố già thấy như có lửa trong đó, tôi hỏi nhỏ:
– Rồi sao nữa bố?
Tôi đã biết câu chuyện đến hồi gay cấn. Bố già Tồn ngưng lại tu một hơi lấy trớn kể tiếp:
– Tui không theo đoàn quân trả thù bằng cách bắn giết, đốt nhà trả thù đó, tui chợt buồn, đi với một tiểu đội lục soát lọt vào một vườn cây vắng vẻ sau xóm nhà hồi nào không biết để cho lòng lắng xuống... Và tui đã chợt thấy một chuyện kinh người, trời ơi, là ổng... là Sếp Cao... người chỉ huy kính mến.
Tôi chồm dậy dù chưa nghe kể hết câu. Tôi vẫn ám ảnh bởi những mẩu ký ức không đầu không đuôi mà khi rượu vào lời ra ổng nói, nhưng chưa bao giờ nói hết.
– Sao lâu nay ông không chịu nói?
Tôi chợt nhận ra là tôi đang chồm người lên túm lấy hai vai bố già lắc mạnh một cách thô bạo với sức lực của một chàng trai trẻ. Nhưng tôi đã bị hất trở lại, bởi một cái hất tay thật mạnh, ông Thượng sĩ già đã dư sức bắt tôi trở lại xuống ghế, phải ngồi nghiêm chỉnh mà nghe cho hết một câu chuyện nghiêm chỉnh:
– Ngồi yên đó ông Thiếu úy con ông Sếp.
Ông ta như ngấm hơi men rất nặng rồi, nói như quát:
– Thiếu úy không hiểu tại sao tui không nói hả? Tui giữ lại cho ông một ký ức mù mờ về chuyện này thì tốt hơn, tốt hơn là cho ông biết chuyện của ông Sếp mà giờ này xương tan thịt nát như thế nào cũng chưa biết rõ... Lúc đó, thấy ổng, tui hết hồn, tôi không biết tại sao ổng lại nằm yên nơi này một mình, không người lính cận vệ nào, nhìn kỹ, ổng chết thật rồi, hai lỗ đạn còn mới nên đỏ hoét bên sườn. Hình như ổng trúng đạn, ráng lê vào nơi hoang vắng này rồi mới gục chết, mới chết không lâu, gương mặt hơi tái trong đám cỏ dại mênh mông, nhưng nhìn không thấy ghê chút nào, mà lại giống như một cậu trai nhỏ xíu đang đau ốm, vành môi nhẹ nhếch cái cười mơ hồ nũng nịu, người thì đã chết nhưng mái tóc vàng nâu dường như chưa chết. Nó còn phất phơ nhẹ khi một làn gió thoảng qua.

Tôi không nói gì nữa. Không uống nữa. Không thấy gì chung quanh tôi nữa. Lúc này nếu có đạn pháo rơi xuống ngay đây chắc cũng không nghe thấy luôn.
– Là chính tui đã bế ổng vào trong vòng tay, thất thểu quay trở lại nơi đánh nhau, mùi khói súng còn nồng cay, những căn nhà tranh còn đang bốc cháy với làn khói mịt mờ. Trong tay tui là cái xác vô hồn, nhưng đó là cả một trời bi thương, nặng trĩu. Cây thánh giá bằng cây rừng do chính tay tui làm đặt trước thi thể trên chiếc băng ca vì biết Sếp là người có đạo. Rồi sau đó là một buổi lễ truy điệu cho ông Sếp, Đại úy De L’Afforce, lá cờ Tam Tài được phủ lên chiếc quan tài sau một hồi kèn với 21 phát đạn tiễn đưa. Chiếc quan tài của Sếp được đưa về đâu tui không rõ. Sau đó, chiến tranh dằng dai, tui thì theo đơn vị đi khắp đó đây, vợ con còn ít gặp, nhưng chuyện này thì tui không bao giờ quên, mỗi khi nghe tiếng súng nổ, tui vẫn thấy bóng hình ông Sếp như ẩn hiện đâu đây...
Tôi cũng còn nín thinh, cây thánh giá hoang sơ ấy cũng đã cắm luôn vào tim tôi ngay lúc này. Tôi không nhớ bằng cách nào tôi đã ra khỏi quán, bằng cách nào tôi đã gạt mạnh tay ông Thượng sĩ già chạy theo sau vừa chạy vừa nói. Hơi rượu, nỗi buồn... làm ổng chẳng còn gọi tôi một cách lịch sự tôn ti nữa:
- Nè con ông Sếp, ông đừng có mà dại dột kể lại những thứ này cho má ông nghe đó nha.

Tôi trở về đồn với nỗi ám ảnh về một cây thánh giá lẻ loi trên chiếc băng ca người tử sĩ Pháp, và đã lại cắm sâu hơn nữa trong tim tôi. Nó làm tôi rơi vào một trạng thái kỳ lạ. Mấy bữa sau, dường như tôi và bố già đã trở lại trạng thái bình thường với lu bù việc là việc. Nhưng ít nhất tôi đã nghe lời khuyên chí lý của một người lớn tuổi, tôi đã không bao giờ nói lại với má tôi về điều này. Tôi để nó trong lòng một cách cố chấp để nghĩ về một tình yêu của má tôi dành cho ba tôi, thôi vậy đi cho khỏe, bề nào cũng chết rồi.

Rồi cơn lốc lịch sử tàn bạo đã quét ngang qua lãnh thổ VNCH thân thương của tôi,qua quê hương Bình Thuận, qua quãng đời ở trại tù cộng sản... Cuối cùng cơn bão xiêu dạt ném tôi lên xứ Mỹ này. Tôi chấp nhận sự yên ổn, ngoài tầm nanh vuốt cộng sản, rồi thêm viết lách đỡ buồn... Một hôm tôi vô tình đọc được một bài thơ tiếng Pháp “Le Dormeur du val” của Arthur Rimbaud, bản dịch Việt rất hay. Đây là một bài thơ có thể làm cay mắt người đa cảm ngay khi tiếp xúc lần đầu:

Một khoảng trời xanh, một con sông hát
Bám cỏ non những mảnh vải trắng lòa
Từ ngọn núi cao mặt trời gieo ánh bạc
Lũng nhỏ bừng ngàn tia nắng ngân nga
Một anh lính trẻ đầu trần, miệng hé
Chiếc gáy đầm trong lá cải xanh tơ
Trên thảm cỏ, dưới trời mây, anh ngủ
Mặt xanh rờn, ánh sáng trút như mưa
Anh thiêm thiếp, chân trong hoa, cười mỉm
Như hững hờ đứa trẻ ốm cười duyên
Thiên nhiên hỡi! Ru anh đi, anh lạnh
Hương thơm không giúp cánh mũi phập phồng
Anh ngủ dưới mặt trời, tay co trên ngực rộng
Rất lặng yên. Hai lỗ đỏ bên sườn.

Bài thơ này làm trong bối cảnh chiến tranh Pháp- Đức 1870-1872. Nói về một người trai trẻ Pháp đã chết như ba tôi đã chết trong chiến tranh Việt Nam năm xưa, chắc cũng ở trong một thung lũng vắng hoang sơ như chàng trai này.
Bài thơ hay ở chỗ tất cả những gì của chiến tranh bạo liệt đã bị đẩy ra xa. Chàng trai trẻ tử trận nằm lại yên bình trong thiên nhiên yên ả. Chàng nằm tay để lên ngực, ngủ giấc ngủ bình an giữa những luống rau thanh bình, giữa làn hương mà chàng không còn cảm nhận, như đứa trẻ ốm hơi nũng nịu trên giường, vẻ mặt tái xanh lại chan hòa ánh sáng của nắng gió.
“Thiên nhiên hỡi, ru anh đi, anh lạnh...”
Tôi cũng đã là một ông già, mệt mỏi với lập luận, cảm nhận, phân tích.. tôi chỉ sống với ký ức của mình, tôi lục lại tập ảnh gia đình.


Đây má tôi bế tôi trong tay lúc mới một tháng tuổi. Ngoài việc nhận ra là bức hình rất đẹp, và một câu nói của má mà tôi chợt nhớ ra từ ký ức mịt mờ, là “cái ót của nó in như cái ót của cha nó vậy”...

Gương mặt người mẹ trẻ bế con tươi cười rạng rỡ trông thật xinh đẹp, đẹp lắm. Điều này cho thấy đây không phải là một cuộc cưỡng hôn, mà là một tình yêu thực sự, tôi là kết quả của tình yêu đó. Một người đàn bà nhớ mãi một nét riêng của người đàn ông đã từng đi qua đời mình thì má tôi không thể nào không từng yêu người ấy, dù mối tình do thời cuộc có bị phủ lên một màu sắc nào đi nữa...
Ngọn gió vô thường của thế gian có thể thổi cuốn tất cả bay đi. Nhưng dù sao, tôi cũng đã được ba tôi di tặng một ngoại hình đẹp đẽ thời thiếu niên, một thể trạng khỏe mạnh để có đủ sức đi qua các cuộc chiến khốc liệt, các trại tù cộng sản tàn bạo... và một tuổi già khỏe mạnh. Nhưng thực sự có một điều tôi thừa nhận, là sau khi viết lại truyện này, tôi thấy nhẹ nhàng hơn hẳn, như đã thực sự trả xong một món nợ ân tình, nhất là từ đây mỗi khi rửa mặt, chải đầu, cạo râu, nhìn vào gương, tôi lại nhớ lời của ông thượng sĩ già năm xưa:
“Thiếu úy nhìn vào gương là thấy mặt ổng liền...”

Thực sự, ba tôi chưa bao giờ lìa xa tôi trong chừng ấy năm từ khi tôi trẻ tới lúc tôi già. Bóng dáng của ông hãy còn đây, ngày ngày vẫn bên tôi mà xưa giờ tôi đâu có biết, nay mới biết, dù là rất muộn màng...

Xuân An Cao Hoài Sơn

Không có nhận xét nào: