Tuy Lý Vương Nguyễn Phúc Miên Trinh - Tuy Lý Vương 綏理王 (1820-1897) là tước hiệu của Nguyễn Phúc Miên Trinh 阮福綿寊, sinh ngày 19 tháng 12 năm Kỷ Mão (3 tháng 2 năm 1820) tại viện sau Thanh Hòa điện. Tự là Khôn Chương 坤章, Quý Trọng 季仲, hiệu Tĩnh Phố 靜圃, biệt hiệu Vĩ Dạ 葦野. Minh Mạng đặt cho tên Thư, Tự Đức ban thêm tên Thuyết, thuỵ Đoan Trang. Ông là con thứ 11 của vua Minh Mạng. Nguyễn Phúc Miên Trinh từng giữ các chức Đổng Sự Tôn Học Đường, Hữu Tôn Nhân, Phụ Chính Thân Thần, Phụ Nghị Cận Thần.
Năm 1889, Thành Thái nguyên niên, ông được cử làm Đệ nhất Phụ chính Thân thần, kiêm nhiếp Tông Nhân Phủ Tả Tôn Chính, tấn thăng Tuy Lý Quận vương như trước. Năm 1894, tháng 7, vì có công lao lớn, ông lại được tấn phong làm Tuy Lý Vương (綏理王).
Năm 1897, vì tuổi già, ông xin về nghỉ, chẳng bao lâu thì bị bệnh mất ngày 24 tháng 10 năm Đinh Dậu (18 tháng 11 năm 1897), hưởng thọ 77 tuổi. Nghe tin ông mất, Thành Thái cấp một ngàn quan tiền lo việc tang và ban thụy là Đoan Cung (端恭). Mộ Tuy Lý Vương nay thuộc phường Phường Đúc, sát bên đường Bùi Thị Xuân, thành phố Huế.
Tác phẩm:
- Vĩ Dạ hợp tập 葦野合集 (thơ và văn bằng chữ Hán)
- Nữ phạm diễn nghĩa từ 女範演義詞 (thơ chữ Nôm viết bằng thể lục bát)
Dưới đây là những bài thơ tiêu biểu của ông.
1. Bài thơ PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU 訪阮文超 :
偶攀桂樹懷高士, Ngẫu phan quế thụ hoài cao sĩ,
為扣柴扉訪友生。 Vị khấu sài phi phỏng hữu sinh.
華鬢潘郎仍宦拙, Hoa mấn Phan lang nhưng hoạn chuyết,
青年阮瑀舊詩名。 Thanh niên Nguyễn Vũ cựu thi danh.
Ảnh nguyễn Văn Siêu trên mạng
* Chú thích :
- Phỏng 訪 : là Bái Phỏng, là đến thăm ai đó; đây là cách nói trịnh trọng và lịch sự. PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU là Đến thăm viếng nguyễn Văn Siêu. Nói thêm : Nguyễn Văn Siêu sanh năm 1799, còn Tuy Lý Vương sanh 1820, nhỏ hơn Nguyễn Văn Siêu 22 tuổi. Siêu lại bậc đại khoa làm quan đến chức Án Sát, nên Vương rất kính trọng và ngưỡng mộ Siêu.
- Ngẫu 偶 : là Ngẫu nhiên; Chuyện đưa đến mà không có dự tính trước.
- Phan Quế 攀桂 : là Trèo lên cây quế; chỉ Thi Đậu. Ở đây chỉ "Đi thăm người có khoa cử" như là đèo bồng mà trèo lên cây quế vậy. Hàm ý khiêm nhượng và tôn trọng của Tuy Lý Vương đối với Nguyễn Văn Siêu.
- Cao Sĩ 高士 : Kẻ sĩ cao nhã; chỉ Nguyễn Văn Siêu.
- Sài Phi 柴扉 : là Cánh cửa bằng gỗ, chỉ ở trong nhà tranh vách đất.
- Hữu Sinh 友生 : là Bạn bè cùng học tập hay cùng là giới văn bút với nhau. Có xuất xứ từ Kinh Thi. Chương Tiểu Nhã. bài Thường Đệ《诗·小雅·常棣》 có câu : "Tuy hữu huynh đệ, Bất như HỮU SINH 虽有兄弟,不如友生". Có nghĩa : Mặc dù có anh em, nhưng vẫn không bằng được bạn cùng học tập".
- Hoa Mấn Phan Lang 華鬢潘郎 : Tóc mai hoa râm của chàng họ Phan. Có xuất xứ từ câu từ của Sử Đạt Tổ đời Tống 宋。史達祖 : Thu phong tảo nhập Phan Lang mấn 秋風早入潘郎鬢. Có nghĩa "Gío thu sớm đã thổi vào tóc mai của chàng Phan". Y chỉ "tóc mai" đã hoa râm, đã già qúa nữa đời người rồi.
- Hoạn Chuyết 宦拙 : là Quan trường vụng về; ý chỉ "Quan trường trắc trở".
- Nguyễn Vũ 阮瑀 : là cháu của Nguyễn Tịch 阮籍. Hai chú cháu đều có tên trong Trúc Lâm Thất Hiền đời Tấn. Nên THANH NIÊN NGUYỄN VŨ 青年阮瑀 chỉ chung "những người tuổi trẻ mà tài cao". Đây là lời ca ngợi Nguyễn Văn Siêu của Tuy Lý Vương.
* Nghĩa bài thơ :
ĐẾN THĂM NGUYỄN VĂN SIÊU
Ngẫu nhiên mà ta có ý muốn trèo cao để đến với kẻ sĩ cao nhã; Vì thế mới gỏ cửa sài để thăm viếng người cùng trong giới văn chương học tập. Thương thay cái anh chàng Siêu nầy cũng giống như anh chàng Phan, tóc đã hoa râm rồi mà đường hoạn lộ vẫn còn nhiều trắc trở; trong khi lại có tài hoa như là chàng Nguyễn Vũ lúc còn thanh niên trai trẻ vậy.
Nguyễn Vũ và Nguyễn Tịch trong Trúc Lâm Thất Hiền
Bài thơ chỉ cò 4 câu mà đầy rẫy những điển tích và điển tích. Đây cũng là điều chứng tỏ Tuy Lý Vương có sở học uyên bác hơn người, xuất khẩu thành chương đối với giới học thuật, chớ giới bình dân thì không bao giờ với tới nổi...
* Diễn Nôm :
PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU
Đèo bồng đến với người cao nhã,
Nên gõ cửa sài viếng bạn văn.
Tóc bạc Phan lang còn lận đận,
Thanh niên Nguyễn Vũ qủa tài năng !
Lục bát :
Đèo bồng với tới người cao,
Cửa sài đánh bạo gỏ ào viếng thăm.
Chàng Phan tóc đã hoa râm,
Thanh niên Nguyễn Vũ tài năng vang lừng !
2. Bài thơ TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ 贈黎凝甫 :
詞賦鄒枚舊勝流, Từ phú Trâu Mai cựu thắng lưu,
一麾出守幾清秋。 Nhất huy xuất thú kỷ thanh thu.
三千風月留吟賞, Tam thiên phong nguyệt lưu ngâm thưởng,
羨殺輕篷印渚舟。 Tiện sát khinh bồng Ấn chử chu.
Ảnh minh họa Trâu Dương &Mai Thừa
* Chú thích :
- TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ 贈黎凝甫 : Thơ làm tặng cho Lê Ngưng Phủ. Chưa rõ Lê Ngưng Phủ là ai, chỉ biết ông làm quan tại Quảng Ngãi. Tuy Lý Vương Miên Trinh có đề thơ tặng cho ông. Lời thơ thành thật, thẳng thắn, đề cao tài năng xuất chúng của họ Lê.
- Trâu Mai 鄒枚 : Tức Trâu Dương 鄒陽 (206-129 Trước Công nguyên) và Mai Thừa 枚乘 (?-140 Trước Công nguyên), hai nhà Tản văn và nhà Từ phú thời Tây Hán. Trâu Dương là tác giả bài "Thướng Ngô vương thư 上吳王書", "Vu ngục trung thướng thư tự minh 于獄中上書自明". Mai Thừa là tác giả bài phú "Thất phát 七發". Ở đây, Tuy Lý Vương Miên Trinh đề cao tài văn chương của Lê Ngưng Phủ hơn hẳn hai họ Trâu, Mai của thời Tây Hán, là thời cực thịnh của Tản văn và Từ phú.
- Nhất Huy Xuất Thú 一麾出守 : Mệnh quan triều đình được đặc phái ra làm quan ở bên ngoài. Có xuất xứ từ hai câu thơ cuả Nhan Diên Chi, nhà Tống ở Nam Triều 南朝·宋·颜延之 là : Lũ tiến bất nhập quan, Nhất huy nãi xuất thú 屢荐不入官,一麾乃出守. Có nghĩa : Mấy lần tiến cử chẳng nên quan, Chỉ phất cờ chỉ huy là làm ngay Thái Thú.
- Tam Thiên Phong Nguyệt 三千風月 : Ba ngàn bài thơ ngâm vịnh gió trăng. Có xuất xứ từ hai câu thơ nói về sự xung đột giữa Tễ tướng Vương An Thạch và nhà từ phú Âu Dương Tu là : Hàn lâm phong nguyệt tam thiên thủ, Lại bộ văn chương nhị bách niên 翰林風月三千首,吏部文章二百年. Có nghĩa : Hai trăm năm văn chương Lại bộ, Ba ngàn bài trăng gió Hàn lâm. Ý chỉ "Những áng văn chương tuyệt tác".
- Tiện Sát Khinh Bồng Ấn Chử Chu 羨殺輕篷印渚舟 : là "Rất hâm mộ cho cánh buồm nhẹ để lại dấu ấn cho chiếc thuyền trên bến nước sông". Có thể là tích của tướng quân Tạ Thượng 謝尚 của đời Đông Tấn, là người đất Thái Khang tỉnh Hà Nam, là anh họ chú bác của danh tướng Tạ An 謝安. Ông là người văn võ song toàn, giỏi cả cầm kỳ thi họa, được phong là Trấn Tây Tướng Quân trấn thủ vùng núi Ngưu Chử. Trong một đêm thu khi ông cùng các tuỳ tùng thả thuyền theo dòng Tây Giang để ngắm trăng, tình cờ nghe được trong một chiếc thuyền nan có một chàng thư sinh đang ngâm thơ vịnh sử; Ông bèn cho người đến mời lên thuyền của mình và hai người đã cùng đàm đạo với nhau suốt đêm rất là tương đắc. Người thư sinh đó chính là Viên Hoằng 袁宏, nhà nghèo lại mồ côi sớm, đang làm nghề đưa đò để độ nhật. Sau hôm gặp gỡ và cùng đàm đạo suốt đêm với Tướng Tạ Thượng, tiếng tăm tài giỏi của Viên Hoằng được đồn đại khắp nơi, và sau nầy phát tích làm quan đến chức Thái Thú của Đông Dương.
* Nghĩa bài thơ :
THƠ TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ
Từ và phú của hai họ Trâu và họ Mai là những bậc nổi tiếng từ xưa. Là mệnh quan triều đình được điều đi làm Thái Thú bên ngoài mấy mùa thu rồi. Ba ngàn gió trăng phong nguyệt còn để lại để ngâm vịnh thưởng thức; Làm cho người ta hâm mộ muốn chết về chiếc buồn con để lại dấu ấn bên bến nước sông.
Lại cũng chỉ là một bài Thất ngôn tứ tuyệt nhưng lại tràn ngập những điển tích và điển tích ! Thơ qúa bác học làm cho người đọc không sao theo kịp để nhận biết được cái hay ho thi vị của nó mà thưởng thức. Và... Ông đã ca ngợi đề cao Lê Ngưng Phủ một cách qúa đáng, xa rời thực tế đến không thể chấp nhận được.
* Diễn Nôm :
TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ
Từ phú Trâu Mai cũng chịu thua,
Cử làm Thái Thú mấy thu qua.
Ba ngàn phong nguyệt thơ ngâm vịnh,
Hâm mộ cánh buồm bến nước xưa.
Lục bát :
Trâu Mai từ phú thua xa,
Cử làm Thái Thú thu qua mấy mùa,
Ba ngàn trăng gió ngâm nga,
Bến xa Ngưu chữ thuyền qua in bờ.
3. Bài thơ TUẾ MỘ 歲暮 :
北望閭簷空杼柚, Bắc vọng lư thiềm không trữ trục,
南來壁壘尚干戈。 Nam lai bích luỹ thượng can qua.
衮衣肉食終無補, Cổn y nhục thực chung vô bổ,
愧爾飧英帶女蘿。 Quý nhĩ san anh đới nữ la.
* Chú thích :
- TUẾ MỘ 歲暮 : TUẾ là Tuổi, là Năm; MỘ có bộ Nhật ở dưới, chỉ mặt trời lặn, là đã về chiều. Nên TUẾ MỘ là Năm đã về chiều, là CUỐI NĂM.
- Bắc Vọng 北望 : là Ngóng về phương bắc.
- Lư Thiềm 閭簷 : là Cổng và Mái nhà; chỉ chung cho "Nhà cửa".
- Trữ Trục 杼柚 : là Con thoi dùng để dệt vải. TRỮ để dệt sợi ngang, còn TRỤC thì dệt sợi dọc.
- Nam Lai 南來 : là Đi về hướng Nam.
- Bích Luỹ 壁壘 : là Những Bờ lũy và Tường chắn trong chiến tranh.
- Can Qua 干戈 : CAN là cái khiên để đở; QUA là cây mác để đâm chém. Nên CAN QUA có nghĩa là Đánh nhau là Chiến tranh.
- Cổn Y Nhục Thực 衮衣肉食 : CỔN Y là Quần áo qúy giá của vua quan mặc; NHỤC THỰC là Ăn thịt thà sang trọng. Nên CỔN Y NHỤC THỰC là Ăn ngon mặc đẹp. Có xuất xứ từ hai câu thơ cuả Khu Sĩ Hành 區仕衡 đời Tống là : Hạt y tằng thế cổn y sầu, Nhục thực thùy tri hoắc thực ưu 褐衣曾替衮衣愁,肉食誰知藿食憂。Có nghĩa : Người mặc áo vải thô thường sầu thế cho người mặc áo đẹp; còn người ăn thịt có ai biết được cái ưu tư của người ăn rau cải đâu !.
- Qúy 愧 : là Thẹn thùa, là mắc cở.
- San Anh Đới Nữ La 飧英帶女蘿 : Ăn bông hoa và đeo những dây leo chằng chịt; Chỉ Ăn mặc cầu kỳ diêm dúa. Có xuất xứ từ bài Sơn Qũy trong Cửu Ca của Khuất Nguyên 屈原的《九歌·山鬼》đời Tiên Tần với hai câu mở đầu : Nhược hữu nhân hề sơn chi a, Bị bệ lệ hề đới nữ la 若有人兮山之阿,被薜荔兮带女萝。Có nghĩa : Nếu như có người đi ở trên triền núi, khoác áo dâu tằm và đeo những dây leo có bông hoa sặc sỡ (Chỉ "Ăn mặc diêm dúa").
* Nghĩa bài thơ :
CUỐI NĂM
Ngóng về phương bắc thì nhà cửa không có nghe tiếng của khung cửi con thoi nào cả; còn đi về phương nam thì đồn luỹ chập chùng đang trong cơn chiến loạn. Ăn ngon mặc đẹp trong ngày Tết đâm ra rất vô bổ, không làm sao cả. Thẹn cho người còn ăn mặc cầu kỳ diêm dúa như một con qũy núi.
Ý chỉ đơn giản có thế, nhưng ông Tuy Lý Vương của ta lại sử dụng chữ nghĩa cầu kỳ cao siêu và điển tích hiễm hóc làm cho người đọc hoang mang mơ hồ không biết là ông định nói lên điều gì...
* Diễn Nôm :
TUẾ MỘ
Trông lên bắc nhà không dệt cửi,
Xuôi về nam thành lũy can qua.
Ăn ngon mặc đẹp chừng vô ích,
Thẹn bạn cầu kỳ với áo hoa !
Song thất Lục bát :
Về bắc ngóng nhà không dệt cửi,
Xuôi nam thì chiến lũy can qua.
Ăn ngon mặc đẹp chi mà...
Thẹn người diêm dúa áo hoa làm gì ?!
4. Bài thơ LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ 旅夜得故人書 :
小館閉柴荊, Tiểu quán bế sài kinh,
寒燈暗復明。 Hàn đăng ám phục minh.
忽驚書問訊, Hốt kinh thư vấn tín,
坐覺歲崢嶸。 Tọa giác tuế tranh vanh.
曉月兼霜色, Hiểu nguyệt kiêm sương sắc,
秋風似雨聲。 Thu phong tự vũ thanh.
酒醒相憶處, Tửu tinh tương ức xứ,
鐘漏隔嚴城。 Chung lậu cách nghiêm thành.
* Chú thích :
- LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ 旅夜得故人書 : là "Đêm ở đất khách, nhận được thư bạn cũ".
- Sài Kinh 柴荊 : SÀI là Củi, KINH là loại cây mọc thành bụi. Ở nhà quê hay dùng cây Kinh để đan phên, vì thế nên cánh cửa phên ở dưới quê gọi là “Sài Kinh”.
- Hốt Kinh 忽驚 : KINH ở đây là Ngạc nhiên chớ không phải Sợ hãi. Nên HỐT KINH là Bỗng cảm thấy ngạc nhiên.
- Tranh Vanh 崢嶸 : Chót vót, ở đây có nghĩa là Lơ Lửng chập chờn.
- Hiểu Nguyệt 曉月 : là Ánh trăng buổi sáng.
- Chung Lậu 鐘漏 : Tiếng chuông đồng hồ nhỏ giọt báo thời gian.
- Nghiêm Thành 嚴城 : Thành quách được giới nghiêm và phòng bị kỹ càng.
* Nghĩa bài thơ :
ĐÊM Ở ĐẤT KHÁCH NHẬN ĐƯỢC THƯ BẠN CŨ
Ta đóng lại cửa phên nơi quán trọ nhỏ nhoi nầy, trong ngọn đèn lạnh lẽo tranh tối tranh sáng. Bỗng ngạc nhiên làm sao khi nhận được thư hỏi thăm tin tức, ngồi đây mà cảm thấy như thời gian của năm tháng đang lơ lửng ở trên đầu. Trong cảnh trăng tàn buổi sáng hòa vào trong màu sương sớm, tiếng gió thu hiu hắt tựa như là những tiếng mưa rơi. Rượu đã tỉnh nhớ lại chỗ nhớ nhau là nơi thành quách đang giới nghiêm trong tiếng thời gian nhỏ giọt của khắc lậu canh tàn !
* Diễn Nôm :
LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ
Cửa gài phên quán nhỏ,
Đèn lạnh khi mờ tỏ.
Bỗng nhận thư hỏi tin,
Thời gian như bỏ ngỏ.
Trăng sớm mờ sương đêm,
Mưa thu ngờ tiếng gió.
Rượu tỉnh nhớ nhau đây,
Khắc lậu thành nghiêm đó !
Lục bát :
Cửa sài quán nhỏ phên kinh,
Chập chờn đèn lạnh chợt minh chợt mờ.
Bỗng dưng nhận được tin thơ,
Thời gian lơ lửng ngồi trơ canh dài.
Trăng hòa sương sớm ban mai,
Gió thu xào xạt ngỡ ngoài đổ mưa.
Rượu say tỉnh giấc nhớ xưa,
Giới nghiêm thành quách canh vừa điểm chuông.
5. Bài thơ ĐÔNG DẠ TẠP THI 冬夜雜詩 :
有客至自遠, Hữu khách chí tự viễn,
排闥升堂階。 Bài thát thăng đường giai.
矍然執手笑, Quắc nhiên chấp thủ tiếu,
乃心久所懷。 Nãi tâm cửu sở hoài.
淵塞固景仰, Uyên tắc cố cảnh ngưỡng,
矧茲富藻辭。 Thẩn tư phú tảo từ.
瑤琴久不弄, Dao cầm cửu bất lộng,
為君理朱絲。 Vị quân lý chu ty.
施恐風雨散, Thi khủng phong vũ tán,
仳我念裨離。 Tỷ ngã niệm bì ly.
* Chú thích :
- ĐÔNG DẠ TẠP THI 冬夜雜詩 : TẠP là Tạp nhạp, vặt vãnh; Nên ĐÔNG DẠ TẠP THI là Bài thơ vặt vãnh được làm trong đêm đông.
- Bài Thát 排闥 : THÁT là cái cửa ngách, cửa nhỏ bên hông; Nên BÀI THÁT là Đẩy cửa hông mà vào.
- Quắc nhiên 矍然 : là Nhớn nhác; ở đây có nghĩa là Vội vàng.
- Uyên Tắc 淵塞 : UYÊN là Vực sâu; TẮC là bế tắc, cách trở. Nên UYÊN TẮC là Xa xôi cách trở.
- Thẩn Tư 矧茲 : là Huống hồ, Huống chi...
- Tảo Từ 藻辭 : là Nói những lời lẽ tốt đẹp.
- Chu Ty 朱絲 : là những sợi tơ dùng làm dây đàn.
- Tỷ 仳 : TỶ là TỶ LY 仳離 là Chia tay, Chia lìa.
- Bì Ly 裨離 : Một nước nhỏ xa xôi ở vùng Cam Túc xưa. Ở đây mượn chỉ Vùng xa xôi cách trở.
* Nghĩa bài thơ :
BÀI THƠ VẶT LÀM TRONG ĐÊM ĐÔNG
Có khách từ phương xa đến, đẩy cửa hông mà vào lên đến bậc thềm phòng khách. Ta vội vàng đến nắm tay mà cười đón, vì đây chính là người mà hằng lâu ta đã nhớ mong. Đường xá xa xôi cách trở nên luôn ngưỡng mộ nhau, huống hồ chi là những lời nói tốt đẹp dành cho nhau. Chiếc dao cầm lâu ngày đã không đụng đến; Bây giờ sẽ vì bạn mà sửa lại dây tơ (để đàn một khúc). Chỉnh e rồi mưa gió lại phải phân tán chia ly. Rời xa ta rồi thì chỉ còn có nước thương nhớ về nơi xa xôi!...
* Diễn Nôm :
ĐÔNG DẠ TẠP THI
Có khách từ xa đến,
Đẩy cửa hông bước vào.
Vội vàng cười đón tiếp,
Vì lòng những ước ao.
Xa xôi luôn ngưỡng mộ,
Lời khách sáo nhớ sao.
Dao cầm lâu chưa gãy,
Vì bạn thay dây nào.
Chỉnh e trời mưa gió,
Chia tay nhớ biết bao !
Lục bát :
Từ xa có khách đến chơi,
Xô cửa thẳng bước tới nơi công đường.
Vội vàng tay bắt mặt mừng,
Bởi lòng luống những bâng khuâng nhớ người.
Xa xôi ngưỡng mộ lâu rồi,
Bao lời khách sáo nói cười cùng nhau.
Dao cầm ngày tháng tiêu hao,
Vì người vội vả thay mau dây đàn.
Chỉnh e mưa gió ly tan,
Chia tay lại nhớ ngút ngàn nơi xa !
Xin được tạm ngưng bài dịch thơ của Tuy Lý Vương Miên Trinh ở đây. Sẽ dịch tiếp khi có cơ duyên mới !...
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét