“Đã rõ ràng là Quân Khu I nay không còn có thể chống đở nổi một cuộc tổng tấn công từ phương Bắc xuống, khi so sánh cán cân lực lượng đôi bên vào lúc đó, cũng như là địa hình gập ghềnh mà đã giúp cho địch quá ư là nhiều cực kỳ lợi thế về chiến thuật. Nhưng đúng ra sự kiện tình hình tan vở quá nhanh thì lại là kết quả của tình trạng hỗn loạn cùng mất tinh thần hơn là do áp lực của địch. Quyết định tái phối trí lực lượng, tuy là bất khả tránh, thì lại không được rõ ràng và cứng ngắt trong trường hợp của Quân Khu I. Tổng Thống Thiệu đã không dám có can đảm để đưa ra một lệnh dứt khoát cho vị tư lệnh vùng.
Thật rõ ràng là vụ thất bại toàn vẹn tại Quân Khu II đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong tâm tư ông ta và cũng đã khiến ông ta không còn muốn lại phải đóng vai trò tổng chỉ huy quân đội nữa rồi. Ngược lại, do vẫn là một chính trị gia khôn lanh, ông ta bèn chơi chữ nhân khi ra lệnh, bằng ngay cả luôn những lần cố ý làm thinh, để khiến cho vị tư lệnh đang quá ư là bối rối phải tự mình phiên diễn ra mà thôi. Lệnh bỏ Huế của Tổng Thống Thiệu đã được ban ra, chỉ một ngày sau khi chính ông ta đã cương quyết công bố và hứa hẹn với nhân dân là sẽ chống giữ “thành phố thủ đô củ”. Và rồi cũng rất đúng với bản tính cố hữu, ông ta cũng không đưa ra chỉ dẫn gì về thời khóa biểu của cuộc rút quân.
*****
1/ - Vì Sao Tôi Bỏ Quân Ðoàn I?
Ngô Quang Trưởng
18 May 1972, Hue, South Vietnam — Inspection. Hue, Vietnam: Newly installed Commanding General of the South Vietnamese forces defending Hue, Lt. Gen. Ngo Quang Truong, inspects soldier’s weapons as U.S. advisor Maj. Gen. Frederick Kroesen looks on here May 17th. Some 900 government troops of 2nd Division were airlifted into artillery base Rakkasan, 15 miles West of Hue, to form what commanders called a “circle of steel” to protect the once imperial capital. — Image by © Bettmann/CORBIS
Ngày 13 tháng 3 năm 1975, được lệnh vào Sài Gòn họp, tôi vào tới Sài Gòn nhưng với sự ngạc nhiên là chỉ có mình tôi vào gặp Tổng thống và Thủ tướng (Trần Thiện Khiêm) mà thôi. Ngoài tôi ra không có ai khác. Thường lệ khi được lệnh về Sài Gòn họp thì đều có đầy đủ mặt các vị Tư lệnh Quân đoàn và Tư lệnh các quân binh chủng khác. Lần nầy thì chỉ có một mình tôi. Tôi thắc mắc lo lắng.
Nhưng khi Tổng thống Thiệu cho biết ý định của ông ta là phải rút bỏ Quân đoàn I ngay hôm nay thì tôi mới vỡ lẽ, cay đắng, và uất ức vì lệnh ra quá đột ngột ngoài sức tưởng tượng và ngoài ước muốn của tôi. Thật ra, lúc đó tình hình tại Huế, Quảng Ngãi và Ðà Nẵng tuy có hơi nặng nề vì địch tấn công liên tiếp, tuy nhiên tôi đủ sức chống giữ và sẽ tăng cường Sư đoàn Dù cùng với Thuỷ Quân Lục Chiến ra những vùng đó để lấy lại ưu thế. Tôi trình bày cặn kẽ những ý kiến của tôi lên Tổng thống và Thủ tướng nhưng không được chấp thuận.
Lệnh bất dịch di là: Phải rút khỏi Quân đoàn I càng sớm càng hay. Trở ra Quân đoàn I, tôi cho triệu tập tất cả các Tư Lệnh Sư đoàn để họp. Thái độ khác thường của tôi làm các Sĩ quan trong buổi họp hôm đó có vẻ nghi ngờ, thắc mắc. Nhưng rốt cuộc tôi chỉ hỏi sơ qua tình hình và nói vu vơ quanh quẩn.
Chứ làm sao tôi ra lịnh thẳng khi chỉ với một mình tôi là Tư lệnh Quân đoàn mà thôi. Vì vậy, cuộc họp hôm đó chẳng mang lại một kết quả nào mà tôi mong muốn. Lệnh của Tổng thống Thiệu yêu cầu tôi rút khỏi Quân đoàn I vào ngày 13 tháng 3. Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú Yên. lấy Quốc lộ 22 làm ranh giới Việt Nam thu gọn sẽ chạy dài từ Phú Yên đến Hà Tiên.
Cái lẩm cẩm của trung ương là không cho các thuộc cấp biết ý định của mình. Nghĩa là các Tư lệnh các quân binh chủng, Tổng Bộ trưởng, Tư lệnh Sư đoàn, v.v… đã không biết gì về lệnh rút quân của Quân đoàn I và II cả. Lệnh nầy chỉ có Tổng thống và Thủ tướng, Ðại tướng Cao Văn Viên, tôi (Tư lệnh Quân đoàn I) và Tư lệnh Quân đoàn II (Tướng Phạm Văn Phú) biết mà thôi. Do đó thiếu sự phối họp chặt chẽ giữa tham mưu và các cấp, không có kế hoạch rút quân đàng hoàng, lệnh đột ngột không có đủ thì giờ để xếp đặt kế hoạch, gây hoang mang cho binh sĩ, nhất là khi gia đình họ cũng không được bảo vệ đúng mức thì làm sao tránh khỏi hoang mang? Ai cũng lắng nghe tin tức thân nhân ở bên ngoài doanh trại. Thêm vào đó, tin tức Ban Mê Thuột, Pleiku, Kontum bị chiếm, Huế bỏ ngỏ, dân chúng Huế chạy vào Ðà Nẵng ngày một đông gây cảnh xáo trộn kinh hoàng cho dân Ðà Nẵng. Rồi sau đó là Chu Lai bị áp lực nặng.
Tôi ra lệnh cho Tướng Trần Văn Nhựt rút Sư đoàn 2 từ Chu Lai ra trấn tại Lý Sơn (Cù Lao Ré) để kiểm soát đường bể, sợ địch ra chiếm đóng đường biển thì sẽ khó khăn. Trong khi đó, cảnh hỗn loạn đã xảy ra phần lớn do dân chúng hốt hoảng từ chỗ nầy sang chỗ khác làm cho binh sĩ nao núng và chạy cùng theo thân nhân. Mở miệng ra lệnh cho họ rút quân, trong khi mới hôm qua với lòng sắt đá và giọng nói cứng rắn hằng ngày buộc anh em phải giữ không để mất một cục sỏi ở Vùng I.
Sau đó tôi suy nghĩ kỹ hơn. Tôi quyết định gọi Ðai tướng Cao Văn Viên nhờ xin Tổng thống cho tôi được dùng mọi cách để giữ Huế và Vùng I. Làm sao tôi bỏ Huế và Vùng I được? Làm sao tôi bỏ được vùng đất sỏi đá nầy mà bao nhiêu chiến hữu của tôi đã đổ máu để gìn giữ? Nhất là trong vụ Mậu Thân.
Tổng thống Thiệu rung động, chấp thuận cho tôi giữ Huế. Sáng 18 tháng 3 năm 1975, tôi ra Huế gặp Tướng Lâm Quang Thi (Tư lệnh phó Quân đoàn) chỉ huy tại Huế. Tôi ra lệnh: Giữ Huế cho thật vững. Chiều hôm đó về đến Ðà Nẵng, tôi nhận được một lệnh do Ðại tướng Cao Văn Viên, thừa lệnh Tổng thống yêu cầu tôi “bỏ Huế”. Thật làm tôi chết lặng người. Vì mới buổi sáng nay ở Huế tôi ra lệnh cho Tướng Thi giữ Huế. Bây giờ đột nhiên được lệnh bỏ thì tôi biết nói làm sao với Tướng Thi và anh em binh sĩ.
Tổng thống Thiệu rung động, chấp thuận cho tôi giữ Huế. Sáng 18 tháng 3 năm 1975, tôi ra Huế gặp Tướng Lâm Quang Thi (Tư lệnh phó Quân đoàn) chỉ huy tại Huế. Tôi ra lệnh: Giữ Huế cho thật vững. Chiều hôm đó về đến Ðà Nẵng, tôi nhận được một lệnh do Ðại tướng Cao Văn Viên, thừa lệnh Tổng thống yêu cầu tôi “bỏ Huế”. Thật làm tôi chết lặng người. Vì mới buổi sáng nay ở Huế tôi ra lệnh cho Tướng Thi giữ Huế. Bây giờ đột nhiên được lệnh bỏ thì tôi biết nói làm sao với Tướng Thi và anh em binh sĩ.
Nhưng vẫn phải đành thi hành theo lệnh trên. Tôi gọi điện thoại thông báo lệnh bỏ Huế cho tướng Thi. Tướng Thi trả lời ngay: “Ở Huế bây giờ xã ấp phường khóm tốt quá, đâu đâu tình hình cũng tốt cả mà tại sao anh bảo tôi bỏ là bỏ làm sao? Tôi buồn bã trả lời: “Tôi biết rồi, nhưng xin anh bỏ Huế giùm tôi. Ðó là lệnh trên, không bỏ là không được”. Kết quả là Tướng Thi thi hành lệnh, bỏ Huế, và dồn quân đến cửa Thuận An để được tàu Hải quân rút về Ðà Nẵng.
Trong khoảng thời gian từ 13 đến 18 tháng 3, hàng đêm tôi gọi điện thoại cho Thủ tướng Khiêm và báo cáo mọi biến chuyển từ công việc hành chánh đến quân sự. Tình hình khó khăn, địch tấn công, mà lại thêm cái lệnh phải rút càng sớm càng tốt, lan truyền rỉ rả cho nên binh sĩ và công chức hết sức xôn xao. Tôi báo cáo mọi việc và xin Thủ tướng ra quan sát tình hình. Sáng 19 tháng 3, 1975, Thủ tướng Khiêm đến, tôi cho họp tất cả vị Tư lệnh Sư đoàn, Tỉnh trưởng, Thị trưởng, Bộ tham mưu, và các Trưởng phòng sở của hành chánh để Thủ tướng nói chuyện.
Trước khi Thủ tướng đến, tôi đã nói chuyện với anh em có mặt tại hôm đó rằng tình hình khẩn trương, anh em phải nói lên sự thật đang xảy ra trong thực tế tại nơi nầy để Thủ tướng biết rõ tình hình và giải quyết cấp thời, chứ đừng có giữ thái độ “trình thưa dạ bẩm” trong lúc nầy nữa. Phải thẳng thắn mà nói lên sự thật. Nhưng sau khi Thủ tướng nói chuyện xong, đến phần thắc mắc thì cũng chẳng có ai nói gì cả. Tôi rất buồn vì anh em không chịu nghe lời tôi để nói cho Thủ tướng biết những sự thật về tình hình hiện nay. Duy chỉ có một mình Ðại tá Kỳ , tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, có hỏi một câu: “Thưa Thủ tướng, trong mấy ngày vừa qua, có một số công chức đã tự ý rời bỏ nhiệm sở không đến làm việc, thưa Thủ tướng, phải dùng biện pháp gì để trừng phạt những người đó? Câu hỏi thật hay, nhưng Thủ tướng không trả lời và lảng sang chuyện khác. Vì Thủ tướng làm sao nói được khi lệnh trên đã muốn giải tán Quân đoàn I và Quân khu I càng sớm càng tốt.
Ðúng ngày 22 tháng 3 năm 1975, tôi được lệnh rút Sư đoàn Dù và Sư đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến về giữ Nha Trang. Ngày 29 tháng 3, cộng quân tràn vào Ðà Nẵng với những trận giao tranh nhỏ. Tôi được chiến hạm HQ404 đưa về Sài Gòn. Trên tàu cũng có một Lữ đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến. Khi tàu chạy ngoài khơi, Tổng thống Thiệu liên lạc yêu cầu tôi ra tái chiếm lại Ðà Nẵng. Tôi trả lời ngay là bây giờ tôi lấy ai để theo chân tôi tái chiếm Ðà Nẵng? Lính tráng đã phân tán mỗi người một nơi. Cấp chỉ huy thì mạnh ai nấy thoát. Làm sao tôi có thể làm chuyện đó (tái chiếm Ðà Nẵng) được? Sau đó tôi được lệnh cho Hạm trưởng ghé tàu vào Cam Ranh, bỏ hết Thuỷ Quân Lục Chiến xuống, rồi chỉ chở một mình tôi về Sài Gòn. Tôi không chịu mặc dù lúc đó tàu đã cập bến Cam Ranh rồi.
Tôi nhờ Hạm trưởng gọi về Bộ Tổng tham mưu xin cho anh em Thuỷ Quân Lục Chiến được về Sài Gòn tĩnh dưỡng nghỉ ngơi cùng tôi. Còn nếu không thì tôi sẽ ở lại Cam Ranh và đi theo anh em Thuỷ Quân Lục Chiến và cùng nhau chiến đấu. Sau đó, Sài Gòn bằng lòng cho tàu chở tất cả về Sài Gòn.
Về đến Sài Gòn tôi được bổ nhiệm vào Bộ Tư lệnh Hành quân lưu động ở Bộ Tổng tham mưu. Khi vào đây, tôi gặp Phó Ðề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên Hải) và Chuẩn tướng Nguyễn Văn Khánh (Tư lệnh Sư đoàn 1 Không quân) đang ngồi viết bản tự khai, và Trung tướng Thi thì bị phạt quản thúc về tội bỏ Huế. Tôi không hiểu vì sao lại có chuyện kỳ lạ như vậy. Họ đâu có tội gì. Họ chỉ thi hành theo đúng lệnh mà lại bị phạt thì quả thật bất công.
Tướng Thi thực sự là người chống lại việc bỏ Huế. Lúc trước, khi nghe tôi cho biết là Tổng thống đã ra lệnh bỏ Huế thì Tướng Thi đã trả lời thẳng với tôi rằng: “Xã ấp tốt quá mà bỏ làm sao?” Vậy mà bây giờ ông lại bị phạt giam quản thúc. Những vị tướng nầy bị phạt quá oan uổng vì họ xứng đáng gấp mấy trăm lần những ông Tướng phè phỡn tại Sài Gòn.
Hôm sau, trong buổi họp tại Bộ Tổng tham mưu, tôi có nói rằng: “Việc phạt Tướng Thi và hai Tướng Thoại và Khánh là không đúng. Họ chỉ là thuộc cấp của tôi. Họ chỉ làm theo chỉ thị của tôi mà thôi. Họ không có tội gì cả. Nếu có phạt thì xin hãy phạt tôi đây này.” Phòng họp lặng ngắt. Ðại tướng Viên nhìn qua Trung tướng Trần Văn Ðôn. Tướng Ðôn mới đi Pháp về, mới đảm nhận chức Tổng trưởng Quốc phòng. Có thể vì vậy mà Tướng Ðôn mới không biết là Tổng thống Thiệu đã trực tiếp ra lệnh cho tôi bỏ Huế, nên Tướng Ðôn làm đề nghị phạt Tướng Thi vì đã bỏ Huế mà rút lui. Mà Tổng thống Thiệu lại không dám nói sự thật với Tướng Ðôn, và chỉ ký lệnh phạt. Sau đó, Tướng Lê Nguyên Khang, với giọng giận giữ đã buột miệng nói: “Anh em chúng tôi không có tội tình mẹ gì cả!”.
Tiện đây, tôi cũng xin nói về trường hợp ra đi của Tướng Thoại và Tướng Khánh. Là vị Tư lệnh trong tay có đến hàng ngàn lính, hàng trăm chiến hạm lớn nhỏ, nhưng tội nghiệp thay, sau khi hỗn loạn, Tướng Thoại đã bị bỏ quên không ai chở đi khỏi Bộ Tư lệnh ở Tiên Sa, và ông đã phải đi bộ qua dãy núi phía sau bờ biển. May nhờ có một chiếc tàu nhỏ của hải quân mà anh em trên tàu lúc đó cũng còn giữ kỹ luật, thấy Ðề đốc Thoại ở đó, họ ghé vào chở Tướng Thoại đi chứ nếu không lại cũng chẳng biết sau này sẽ ra sao. Còn Tướng Khánh, Tư lệnh Sư đoàn 1 Không quân đã không đủ nhiên liệu để bay xa mà phải đáp trực thăng tại một bãi cát ở Sơn Trà rồi lội ra tàu. Cũng may lúc đó gặp tàu HQ404 và đã cùng tôi về Sài Gòn.
NGÔ QUANG TRƯỞNG
2004-04-05 11:39:32
*****
do Lê Bá Chư ghi chép được đăng tại
*****
2/ -Phỏng vấn bà Ngô Quang Trưởng
Saturday, April 26, 2014, 12:00 AM
Nguyễn Tường Tâm
Bà Ngô Quang Trưởng (áo xanh) đến cắt băng khai mạc phòng tranh của họa sĩ Hoàng Vinh tại Đà Nẵng năm 1972
Nhân ngày giỗ đầu sắp tới của cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, nguyên Tư Lệnh Quân Đoàn IV rồi Quân Đoàn I, ông Nguyễn Tường Tâm đã nói chuyện với bà quả phụ Ngô Quang Trưởng về một vài điều chưa hề được đề cập về vị tướng lãnh nổi tiếng là liêm khiết, kỷ luật và trọng danh dự này.
Trung tướng Ngô Quang Trưởng
Bà Ngô Quang Trưởng là chị họ tôi. Một vài bạn bè báo chí ngỏ ý muốn phỏng vấn bà Ngô Quang Trưởng, tôi thấy bà chị họ tôi rất ngại “được báo chí phỏng vấn” cho nên với những câu hỏi của bạn bè báo chí, tôi thực hiện cuộc phỏng vấn giùm bạn bè cho tiện. Ngoài ra, tôi cũng tổng hợp những lần nói chuyện bình thường giữa hai chị em với lần phỏng vấn thu băng mới nhất để câu chuyện đủ chi tiết hơn.
Hỏi:
Chị cho biết anh rời Việt Nam hôm nào?
Trả lời:
Anh rời Việt Nam thì chị không nhớ ngày mấy, nhưng hình như ngày cuối cùng.
Hỏi:
Đến đảo Guam bao nhiêu lâu sau chị gặp lại anh?
Trả lời:
Bây giờ nói về thời gian thì chị không nhớ là bao lâu, thế nhưng không lâu lắm. Hôm đang ở đảo Guam thì thấy một số các vị tướng lên, trong đó có Tướng Lâm Quang Thi, tư lệnh phó của anh và Đại Tá Bầu mà không thấy anh thì chị cũng lo. Một hôm đang ngồi trong phòng ăn của trại tị nạn thấy Tướng Kỳ bước vào. Thấy chị, ông Kỳ vừa cười vừa nói, “Này bà, bà phải trả tôi 300 đô la nhá, tại vì tôi đem ông chồng bà đi.” Ông Kỳ thuật tiếp, “Trong lúc Bộ Tổng Tham Mưu người ta đi hết rồi, khi tôi ghé lại thì thấy ông ấy còn đang ngồi nhìn bản đồ và hút thuốc, tôi rủ ông ấy đi xuống ông Nam (Ghi chú của Nguyễn Tường Tâm – tức là Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Vùng IV) để hợp tác với ông Nam ở dưới đó, thì ông Trưởng ra máy bay đi với tôi.” Chị rất là vui khi nghe thấy tin đó. Nhưng mà tự nhiên mình lại giật mình hỏi lại, thế sao thiếu tướng ở đây mà nhà tôi đâu? Tướng Kỳ cho biết khi tới hạm đội thì ông ấy đi trước.
Trung tướng Ngô Quang Trưởng và cố vấn Mỹ
Vì vậy chị lúc nào cũng thấy cám ơn Tướng Kỳ, nhờ ông ấy mà gia đình chị không bị phân ly như nhiều gia đình khác. Kể cũng may. Nếu lúc đó ông Kỳ liên lạc được với Tướng Nam và xuống với Tướng Nam thì có lẽ chết chùm hết.” Sau đó thì anh cũng tới. Vài năm sau, có một lần gặp lại Tướng Kỳ, Tướng Kỳ vẫn nói đùa như trước và nhắc lại, đòi chị trả 300 đô la tiền công ông ấy đưa anh ra đi, và chị vẫn thấy cám ơn Tướng Kỳ.
Hỏi:
Đến đảo Guam bao nhiêu lâu thì chị đi ra ngoài?
Trả lời:
Ở trong trại bao lâu, chị không còn nhớ nữa, nhưng không lâu lắm.
Hỏi:
Ai bảo lãnh gia đình chị ra?
Trả lời:
Khi đến trại chị không đi tìm ai bảo lãnh. Một hôm ông Đại Tá Sauvageot đến liên lạc, lúc đó đã có anh ở đó. (Đại Tá Sauvageot là người trước đây làm phụ tá cho Tướng Fulcet sang Việt Nam thảo luận vấn đề phóng thích tù cải tạo cho đi Mỹ – ghi chú của Nguyễn Tường Tâm). Đại Tá Sauvageot cho anh biết là Trung Tướng Cushman * cho lệnh đại tá tới đón gia đình anh chị về ở với ông bà trung tướng ở trường Chỉ Huy Tham Mưu Leavenworth. Trung Tướng Cushman lúc đó đang làm chỉ huy trưởng trường này. Đại Tá Sauvageot tới đón gia đình anh chị bằng xe hơi. Hồi ở Việt Nam lúc anh làm tư lệnh Vùng IV thì Tướng Cushman là cố vấn. Nhà của Tướng Cushman trong trường Leavenworth thật lớn. Ông bà ấy ở nửa căn còn cho gia đình anh chị ở nửa căn.
Hỏi:
Trong thời gian ở nhà ông bà Cushman, ông bà giúp đỡ anh chị những gì?
Trả lời:
Ngoài việc giúp ăn ở trong nhà, Tướng Cushman không giúp đỡ tiền bạc gì. Tướng Cushman có đề nghị cho anh làm một việc gì đó ở trường Leavenworth chị không rõ nhưng việc không thành. Lúc đó cũng không biết làm gì nên Tướng Cushman bảo anh đi học nghề nông. Một đại úy Mỹ cho mượn chiếc xe Honda. Anh và cháu Diệp (con trai Tướng Trưởng – ghi chú của Nguyễn Tường Tâm) hàng ngày chở nhau đi học nghề ở một cái nông trại. Chị rời nhà ông Cushman, sang tiểu bang Virginia trước. Anh và cháu Diệp còn ở đó. Nhưng thời gian ngắn sau thì anh có việc gì đó ở Washington D.C. mỗi tháng được $1,000.00 (một ngàn) đô. Tới khi có việc viết sách cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ thì anh sang ở hẳn tiểu bang Virginia (kế cận thủ đô Washington D.C.).
Hỏi:
Khi tới Mỹ anh chị có bao nhiêu tiền?
Trả lời:
Có hơn $1,300.00 (một ngàn ba trăm đô.). Đúng ra khi tới trại chị có $1,400 đô, nhưng tiêu mất vài chục đô ở trong trại rồi. Lúc ở nhà Trung Tướng Cushman, một hôm Tướng Cushman bảo anh chị có bao nhiêu tiền thì đưa ông ấy mở tài khoản trong ngân hàng cho. Chị đưa hết số tiền đó cho Tướng Cushman. Có điều buồn cười là khi nghe chị cho Tướng Cushman biết như vậy, anh tròn mắt ngạc nhiên nhìn chị.
Sau đó anh hỏi chị là: “Tiền ở đâu mà em có nhiều thế?!” Chị cho biết đó là tiền sau mỗi chuyến công du nhà nước cho một ít để tiêu vặt thì chị không tiêu và không mua sắm gì mà để dành; vì khi đi công du mọi chuyện có người lo hết rồi đâu phải chi tiêu gì. Tới lúc rời nhà Tướng Cushman chuyển tới ở tiểu bang Virginia, Tướng Cushman trao lại cho chị cuốn sổ ngân hàng thì chị thấy trong tài khoản đã có hơn 5,000 đô la (năm ngàn). Số trên 3,500 đô thêm ra là tiền mấy vị tướng Mỹ trong đó có cả Tướng Stiwell góp nhau tặng. Không có tiền của ông Cushman.
Hỏi:
Các tướng lãnh Mỹ đối với anh như thế nào?
Trả lời:
Họ rất là tốt, sốt sắng. Ngoài Tướng Cushman, lúc sang Virgina thì Tướng Coxy cũng thăm hỏi và mang những vật dụng trong nhà tới cho. Lúc đó anh chị thuê một căn apartment hai phòng ngủ giá hơn 180 đô/1 tháng. Cái vui nhất là hai ông tướng 3 sao mỗi ông một đầu khiêng cái thảm trải trong apartment cho mình là Tướng Coxy và 1 tướng nữa chị quên tên rồi. Còn cái bàn thờ hiện đang dùng trong nhà là của Tướng Stiwell tặng. Ông Stiwell cho một người nào đó mang tới. Bây giờ cái bàn đó để thờ Phật. Đại Tướng 4 sao Stiwell trước kia làm tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam và tư lệnh lực lượng Hoa Ky tại Đại Hàn. Hồi ở Việt Nam đã có lần ông ấy lấy máy bay đưa anh chị đi Thái Lan chơi. Nhưng lần đó mới tới Thái Lan được một ngày thì có một trận đánh nào đó ở miền Trung khiến anh và Tướng Stiwell phải trở về, chỉ có chị ở lại thêm vài ngày nữa rồi trở về sau.
Một hôm không biết hôm đó là Thankgiving hay lễ gì mà thấy ông ấy khệ nệ xách trái cây và một con gà tây tới tặng. Lúc đó mới sang Mỹ nên thấy một ông tướng nhiều quyền uy mà phải tự làm như thế thay vì sai thuộc cấp thì chị lấy làm ngạc nhiên lắm. Nhưng sau này sang lâu rồi mới biết ở xứ này là xứ dân chủ nên chuyện đó rất là thường tình. Sau này cũng có mấy lần Tướng Stiwell mời anh chị tới nhà ăn cơm, chị ngạc nhiên thấy hai ông bà ấy dọn cơm và rồi đích thân ông ấy trộn món cesear salad. Trong đó ông ấy đập trứng lấy lòng đỏ trộn với salad.
Hỏi:
Nghe nói sau khi di tản Vùng I và Vùng II, có vài vị tướng và sĩ quan cao cấp bị giam giữ ở Tổng Tham Mưu, nếu đúng như vậy thì theo chị ai ra lệnh giam giữ và trong số các tướng bị giam giữ có anh không?
Trả lời:
Trong vụ di tản Đà Nẵng, sau khi Sài Gòn biết anh ở trên chiến hạm hải quân, đã ra lệnh cho trực thăng bốc anh về thẳng Sài Gòn nhưng anh từ chối và đòi đi cùng với thủy quân lục chiến cho tới khi tất cả các anh em đều cùng được về miền Nam luôn. Anh sợ rằng nếu anh đi trước thì anh em TQLC không được Bộ Tổng Tham Mưu đưa về thẳng Sài Gòn. Nghe anh kể lại, sau khi chạy ở Đà Nẵng vào thì Trung Tướng Đôn (bộ trưởng quốc phòng) ra lệnh bắt nhốt Tướng Phú tư lệnh Vùng II.
Còn thuộc Vùng I thì bị bắt giữ gồm có Tướng Khánh, tư lệnh sư đoàn I không quân, Tướng Thi, tư lệnh phó quân đoàn và mấy ông nữa trong đó hình như có cả Đại Tá Xuân, tỉnh trưởng Quảng Tín. (Ghi chú của Nguyễn Tường Tâm – Tại San Jose, chính Trung Tướng Lâm Quang Thi cũng có lần kể với tôi và mấy người nữa chuyện ông bị giam giữ này). Các vị đó bị giữ ở Bộ Tổng Tham Mưu, còn anh thì không bị đả động gì, nhưng anh tự nguyện vào ở cùng với mấy ông đó.
Hỏi:
Sau đó anh được giao chức vụ gì?
Trả lời:
Sau đó anh được giao một chức gì đó ở Tổng Tham Mưu mà chị không rõ. Còn Đại Úy Hòa, tùy viên của anh từ hồi ở Vùng I vẫn tiếp tục làm tùy viên cho anh. Đại Úy Hòa cho biết anh vẫn được giao cho một chiếc trực thăng để đi tới các đơn vị. Viên phi công lái trực thăng cho anh vẫn là Đại Úy Kim lái cho anh từ hồi ở Vùng I. Nói tóm lại, anh cũng có chức.
Nguyễn Tường Tâm
*
Từ tháng Giêng năm 1968 tới tháng 3 năm 1969, Trung Tướng Robert Everton Cushman Jr. (1914 – 1985) là cố vấn trưởng cho Tướng Trưởng tại Quân đoàn 1. Tháng đó, Nixon gọi ông về và bổ nhiệm làm Phó Giám đốc CIA và phục vụ tới tháng chạp năm 1971.
Sau đó, ông lên chức Đại Tướng, nắm chức Tư Lệnh TQLC và cũng là người góp phần quan trọng trong việc di tản Nam Vang cùng Sài Gòn năm 1975.
*****
3/ - IT DOESN’T TAKE A HERO
(Nov 1 1992)
by Norman Schwarzkopf
Hardcover:432 pages
Publisher:Bantam (Nov. 1 1992)
Herbert Norman Schwarzkopf Jr. (1934 – 2012) nguyên là vị Tổng Tư Lệnh tại Bộ Chỉ Huy Trung Ương Hoa Kỳ mà đã điều khiển toàn thể các lực lượng liên quân trong Cuộc Chiến Vùng Vịnh.
Khi đang chỉ huy Trung Tâm Hành Quân Trung ương Hoa Kỳ, Tướng Schwarzkopf đã được giao trách nhiệm đối phó với cuộc xâm lược vào Kuwait trong năm 1990 bởi các lực lượng của Iraq dưới quyền của Saddam Hussein.
Nhiệm vụ ban đầu của ông chỉ là bảo vệ Saudi Arabia chống lại sự xâm lược từ phía Iraq, nhưng rồi Schwarzkopf cuối cùng đã được giao trách nhiệm điều khiển một lực lượng quân sự quốc tế với hơn cả 750.000 quân nhân. Sau khi các thương thảo về ngoại giao bị thất bại thì ông đã soạn thảo kế hoạch và điều khiển chiến dịch Operation Desert Storm – Bảo Tố Sa Mạc, một chiến dịch được khởi đầu bằng một trận không kích kéo dài, và theo sau đó đã là một cuộc tấn công trên bộ kéo dài trong 100 giờ đồng hồ rất thành công mà đánh bại quân đội Iraq và giải phóng Kuwait vào đầu năm 1991. Schwarzkopf đã ân thưởng nhiều huy chương và danh dự quân sự.
Tướng Schwarzkopf đã về hưu gần ngay sau cuộc chiến và đã thi hành một số công tác khá phiêu lưu đầy tính cách vị tha, và chỉ thỉnh thoảng mới dính líu tới chính trị, trước khi qua đời do biến chứng của bệnh sưng phổi vào cuối năm 2012. Là một vị chỉ huy quân sự với một tính khí cương quyết, Tướng Schwarzkopf đã vẫn được coi như là một lãnh đạo sưu việt bởi các tác giả chuyên viết về tiểu sử và đã được đề cao về các khả năng trong tư cách ngoại giao về quân sự cũng như trong những lần tiếp xúc với báo chí.
Theo 2 tài liệu tại:
Tài liệu số 1
Tổng Tư Lệnh
Bộ Chỉ Huy Trung Ương
Chiến dịch Bảo Tố Sa Mạc, APO Nữu Ước 09852
Ngày 26 Tháng 2 Năm 1991
Kính thưa Tướng Trưởng,
Trân trọng cảm ơn Trung Tướng về mấy dòng đã gởi cho tôi. Sự kiện ngài mà lại hãnh diện về tôi, thì quả đã khiến tôi cũng phải quá ư là hãnh diện mà thôi, bởi vì ngài vẫn từng là một trong những vị thày vĩ đại tôi từng hân hạnh có được. Nhiều chiến thuật mà tôi thường xuyên áp dụng trên chiến trường tại Trung Đông này, thì cũng từng là những điều mà ngài đã thành công dạy tôi cách đây đã 25 năm trời, khi mà chúng ta cùng phục vụ chung tại Việt Nam.
Mổi khi nhớ lại được là ngài đã có thể lẩn tránh để tới được Mỹ, là mổi lần tôi đã có lại được cảm giác vui mừng, tuy là mãi cho tới ngày hôm nay, một trong những ngày đen tối u ám nhất trong đời tôi, vẫn là cái ngày mà cái đất nước vĩ đại của ngài bị địch từ phía Bắc xâm chiếm mất đi. Tuy nhiên, vài kỷ niệm để được hãnh diện nhất trong binh nghiệp của tôi đã là, và cũng mãi mãi sẽ là, những năm tháng mà hai chúng ta đã vai kề vai cùng chiến đấu cho lý tưởng Tự Do.
Tôi hy vọng là sau khi chiến dịch này chấm dứt thì chúng mình cũng sẽ có cơ hội nào đó, để ngồi lại cùng nhau hàn huyên chuyện xưa.
Thân kính,
B. NORMAN SCHWARZKOPF
Đại Tướng , Quân Lực Hoa Kỳ
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng
Sư Đoàn Dù
6610 New Home
(địa chỉ thiếu trong hình dẫn chiếu)
*****
Tài liệu số 2
400 North Asley Street
Suite 3050
Tampa, Flprida 33602
Ngày 8 Tháng 11 Năm 1994
Kính thưa Tướng Trưởng,
Tôi vừa được biết là vào ngày 18 tháng 11 năm nay thì ngài dự định sẽ nghỉ làm lại công ty RAILINC Corporation để về hưu. Trong tư cách là một trong những kẻ tứng ái mộ ngài, tôi xin trân trọng và vui mừng được chuyển tới ngài những lời chia vui nồng nhiệt nhất.
Khi còn trẻ, tôi đã từng được ngài chỉ dẫn cho được rất ư là nhiều việc trong suốt thời gian chúng ta đã cùng chiến đấu chống lại một kẻ thù chung tại đất nước Việt Nam thân yêu của ngài. Tôi đã rất hên để có được cơ hội hầu áp dụng được các bài học đó vào những năm sau này, để mang lại được một chiến thắng lớn, trước một chế độ khác mà cũng rất ư là tàn nhẫn. Tôi vẫn sẽ mãi mãi mang ơn ngài về tấm gương sáng lạng mà ngài đã cống hiến cho tôi, hình ảnh tiêu biểu của một quân nhân thực sự đáng kính chỉ lo chu toàn nhiệm vụ với quốc gia, một cách vị tha như cần phải có. Nhân dịp đặc biệt này, xin ngài ghi nhận cho, là tôi vẫn sẽ nhớ ngài, không chỉ hôm nay, nhưng cũng sẽ mãi mãi mà thôi.
Trọng kính,
B. Norman Schwarzkopf
Đại Tướng Quân Đội Hoa Kỳ, Về Hưu.
Thiếu Tá Cố Vấn Schwarzkopf
Tại Trại Lực Lượng Đặc Biệt Đức Cơ, Tháng 8 Năm 1965.
Nhân khi giúp tải thương một binh sĩ Dù VNCH sau một trận pháo.
Sau thời gian phục vụ trong tư cách là Thiếu tá cố vấn bên cạnh Đại Tá Trưởng, lúc đó là chánh văn phòng của Tướng Đống, Tư lệnh Dù, Tướng Trưởng đã để lại một dấu ấn không phai mờ, gần như là một huyền thoại, trong tâm tư của vị Tướng Tư lệnh Chiến dịch Operation Desert Storm.
Điều đáng kính của Tướng Schwarzkopf là ông đã đủ tự tin và nhân cách để công khai đề cao Tướng Trưởng mà không ngượng lời (vỉ ông ta đâu cần gì nơi Tướng Trưởng?).
Trong toàn bộ tiểu sử tự viết của mình, dài tới 626 trang (bìa mềm, do A Bantam Book tái xuất bản tháng 10 năm 1993, sau phiên bản bìa cứng đã xuất bản tháng 10 năm 1992), Tướng Schwarzkopf đã dành tới 16 trang để chỉ kể về Tướng Trưởng và đề cao kính phục ông ta.
Dưới đây là những đoạn đó, đã được chuyển ngữ, như là một sự thành kính tưởng niệm một danh tướng VNCH.
*****
Sau khi tốt nghiệp West Point với cấp bậc “second lieutenant” Bộ Binh, H. Norman Schwarzkopf đã tiếp tục thụ huấn tại “United States Army Infantry School, Fort Benning, Georgia” và lấy bằng Dù. Sau đó, ông nắm một Trung đội thuộc Sư đoàn 101 Không Kỵ đóng tại Fort Campbell, Kentucky. Năm 1958, ông lên chức “first lieutenant” và qua 1959 thì được chuyển qua Tây Đức để chỉ huy một trung đội thám sát thuộc Sư đoàn 6 Bộ Binh. Tháng 6 năm 1960, ông được giao trách nhiệm làm tùy viên cho Chuẩn Tướng Charles Johnson, Chỉ huy trưởng của Lữ đoàn Bá Linh đóng tại Tây Bá Linh.
Schwarzkopf lên Đại úy năm 1961 và trở về lại Fort Benning, nơi ông cũng lấy được bằng “Master Parachutist Badge”. Năm 1962, ông được phân bổ đi học tại University of Southern California lấy bằng Cao Học Master of Science in Engineering (chuyên về hỏa tiễn) và đã tốt nghiệp năm 1964. Ông được lệnh trở về giảng dạy tại West Point. Theo cam kết thì ông phải giảng huấn tại đó trong ba năm, nhưng ông đã nạp đơn tình nguyện xin đi phục vụ tại Việt Nam chỉ một năm sau đó. West Point đã chỉ chấp thuận yêu cầu của ông ta, với điều kiện sẽ phải trở về dạy tiếp cho hai năm còn lại.
Tại Nam Việt Nam, ông đã đảm nhiệm vai trò cố vấn cho lực lượng đặc nhiệm là Sư đoàn Dù của QĐVNCH và cũng đã thăng chức lên Thiếu Tá.
Chính tại đây, ông đã có cơ duyên được tiếp xúc với Tướng Trưởng (lúc đó hãy còn là Đại Tá Dù) để đi đến một mối kính nể tràn đầy, gần như là thày trò, đôi lúc còn có vẻ như là một huyền thoại nữa!
Tôi thật chưa bao giờ mà lại quá ư là mãn nguyện như hiện nay. Tôi rất vui mừng được đi phục vụ tại Việt Nam và thật vui thích với nhiệm vụ, để giúp những người mà tôi từng yêu thích và kính nể, hầu bảo vệ đất nước cùng nền tự do của họ.
Nhưng chiến cuộc thì cũng đã đổi thay, từ một tranh chấp địa phương, để trở thành một cuộc chiến giữa Bắc Việt và Hoa Kỳ. Chiếu theo đề nghị của Tướng Westmoreland, Tổng Thống Johnson đang tung đầy cả nhiều trăm ngàn binh sĩ Mỹ vô khắp miền Nam Việt Nam – ít ra thì cũng tới cả sáu sư đoàn chỉ trong thời gian phục vụ tại Việt Nam của tôi mà thôi. Các xe ủi, cùng nào là máy trộn xi-măng với các xe cần câu đều đang mở mang xây đường mới với các căn cứ chỉ huy, phi trường, bãi đáp trực thăng và căn cứ tiếp liệu. Nhiều hải cảng mới tinh đã bắt đầu xuất hiện dọc bờ biển. Tuy trong thời gian đó thì tôi cũng chưa liên hệ gì đến – mọi việc đều có vẻ như thuộc về một chiến trận nào đó mà thôi – thì cuộc chiến đó, trong tương lai đã chuyển hướng một cach thật là thật bi tráng.
Hà nội đã đáp ứng lại sự tăng gia về hiện diện của phía Mỹ cũng bằng cách tăng gia đưa bộ đội của chúng xuôi Nam. Trước đó thì Bắc Việt cũng chưa từng gởi xuống đó những đại đơn vị, và các du kích quân trong Nam thì thường cũng tránh tấn công các nơi binh sĩ Mỹ hay Nam Việt đang tập trung đông đảo. Nhưng vào cuối hè và tới Thu năm 1965, thì Hà nội bèn thay đổi chiến thuật một cách triệt để. Ba trung đoàn – độ bảy ngàn bộ đội – đã tụ tập lại ở Cao nguyên Trung phần (chúng tôi cũng từng đã đụng độ với hai đơn vị của chúng tại Đức Cơ, nhân khi chúng vượt biên giới Kampuchia để vào Nam Việt). Mưu đồ của chúng đã là sẽ đánh tràn xuống từ vùng cao nguyen, để rồi chiếm đóng các vùng đông dân cư ven biển gần Qui Nhơn, và nhân đó thì cũng cắt đứt được luôn Nam Việt Nam ra làm hai phần. Cuộc tấn công này thì cũng đã bị đánh tan vào dạo giữa Tháng 11, khi mà U.S. 1st Cavalry Division (Airmobile) ~ Sư Đoàn Không Kỵ Số 1 Hoa Kỳ đã tiêu diệt đa số lực lượng cộng sản địch dọc theo sông Đà Rằng (phát âm là “ee drang”), ở phía Nam của Đức Cơ. Nhân trận mà sau này đã được biết đến như là chiến trận Thung Lũng Ia Drang, thì phi cơ trực thăng lần đầu tiên đã được sử dụng để vận chuyển các đại đơn vị của Mỹ tại chiến trường. Điều đó đã là một biến chuyển đáng kể trong chiến thuật hành quân, mà cũng là một biến cố ngay cho chính cả tôi, bởi vì chiến trận này cũng đã giúp tôi tiếp xúc được với vị chỉ huy quân sự tuyệt vời nhất về chiến thuật mà tôi đã từng được biết đến.
Đại tá Ngô Quang Trưởng lúc đó đang là chánh văn phòng của Tướng Đống. Ông ta thì quả không hề là cái hình ảnh của một thiên tài quân sự như trong tâm tư của tôi: chỉ cao có 5 ‘feet’ 7 ►, độ bốn mươi mấy tuổi, ốm teo, hai vai thì xệ xuống và cái đầu thì lại có vẻ quá lớn so với toàn thân. Mặt thì đầy nhăn nheo và rất ưu tư, không có chút gì là đẹp trai cả, và luôn luôn lúc nào môi cũng gắn một điếu thuốc. Ấy vậy, ông ta lại rất được tôn kính bởi các sĩ quan và binh lính của mình – và cũng rất ư là kinh sợ bởi ngay các tay sĩ quan chỉ huy Bắc cộng mà đã từng biết tới tài năng của ông ta. Mổi khi mà một chiến dịch đặc biệt khó khăn xẩy ra, thì Tướng Đống cùng bèn giao cho ông ta chỉ huy mà thôi.
Lực lượng Dù được báo động là phải ngăn chận các trung đoàn Bắc cộng từng bị tan hàng tại Thung lũng Ia Drang có thể sẽ trốn chạy về lại đất Kampuchia. Lúc đó thì tôi đang nữa tỉnh nữa mê trong phòng, sau một buổi ăn tối với gà và bia no nê tại Manor BBQ, thì nhận được lệnh phải ra ngay phi trường. Ông Trưởng đã gom góp được một lực lượng đặc biệt cực lớn gần cả hai ngần binh sĩ, để sẽ tới Ia Drang vào ngay sáng hôm sau, và cũng đã chọn tôi trong vai trò cố vấn cho ông ta.
Chúng tôi dùng phi cơ vận tải bay đáp xuống phi trường đất sét đỏ tại Đức Cơ, nơi tôi đã từng lê gót giày dạo củ, rồi dùng phi cơ trực thăng bay dọc thung lũng sông về hướng Nam. Ngay từ phút đầu mà tôi vừa ra khỏi phi cơ thì đã đối mặt ngay liền với đụng độ và giao tranh. Thung lũng rộng độ mười hai dặm Anh, nơi sông Ia Drang chuyển hướng, để chảy về phía Tây vô Kampuchia, và ở đâu đó, trong trùng trùng điệp điệp của rừng sâu, thì lực lượng chính của địch cũng đang di chuyển. Chúng tôi đáp xuống ở phía Bắc, và Tướng Trưởng bèn ra lệnh cho các tiểu đoàn vượt sông Ia Drang rồi bố trí dọc dãy núi Chu Pong gồm toàn những chỏm núi cao sừng sững chạy mãi xuống hướng Nam. Tôi mê say nhìn mổi khi ông ta làm việc. Khi đang di chuyển như vậy thì ông ta chợt dừng lại để nghiên cứu bản đồ, và thỉnh thoảng ông ta sẽ chỉ vào một điểm trên bản đồ và nói, “Tôi muốn ông cho pháo chổ này”. Lúc đầu thì tôi cũng bán tín bán nghi, nhưng vẫn gọi pháo; khi chúng tôi tới các nơi đó thì quả thật, chúng tôi thấy đầy tử thi địch. Chỉ đơn giản hình dung ra địa thế, và rồi rút từ kinh nghiệm chiến đấu đánh địch trên mười lăm năm, Tướng Trưởng đã cho thấy một khả năng huyền bí hầu tiên liệu ra được là chúng sẽ sắp làm gì.
Tối hôm đó, sau khi bố trí xong vị trí chỉ huy, ông ta bèn mở bản đồ ra, đốt lên một điếu thuốc và cho biết đại cương về kế hoặch cho trận chiến. Ông ta giải thích là dãy núi rừng giữa vị trí của chúng tôi trên các chỏm núi và dòng sông, thì cũng tạo thành một hành lang thiên nhiên, cái con đường mà chắc chắn có nhiều hy vọng là địch sẽ sử dụng mà thôi. Ông ta nói, “Vào rạng đông thì chúng ta sẽ đưa một tiểu đoàn bố trí ở đây, ở sườn trái của chúng ta, để làm nút chặn giữa dãy chỏm núi và dòng sông. Độ tám giờ sáng mai thì họ sẽ đụng lớn với địch. Rồi thì tôi sẽ chuyển một tiểu đoàn khác tới đây nè, ở phía phải của chúng ta. Tới mười một giờ trưa, thì họ cũng sẽ đụng địch’, ông tiếp, “và rồi chúng ta sẽ tấn công với hai cái tiểu đoàn thứ ba và thứ tư, để đánh thẳng xuống phía sông. Lúc đó thì địch cũng sẽ bị vô tròng, vì bị sông chận cứng không lối thoát mất rồi”.
Tối hôm đó, sau khi bố trí xong vị trí chỉ huy, ông ta bèn mở bản đồ ra, đốt lên một điếu thuốc và cho biết đại cương về kế hoặch cho trận chiến. Ông ta giải thích là dãy núi rừng giữa vị trí của chúng tôi trên các chỏm núi và dòng sông, thì cũng tạo thành một hành lang thiên nhiên, cái con đường mà chắc chắn có nhiều hy vọng là địch sẽ sử dụng mà thôi. Ông ta nói, “Vào rạng đông thì chúng ta sẽ đưa một tiểu đoàn bố trí ở đây, ở sườn trái của chúng ta, để làm nút chặn giữa dãy chỏm núi và dòng sông. Độ tám giờ sáng mai thì họ sẽ đụng lớn với địch. Rồi thì tôi sẽ chuyển một tiểu đoàn khác tới đây nè, ở phía phải của chúng ta. Tới mười một giờ trưa, thì họ cũng sẽ đụng địch’, ông tiếp, “và rồi chúng ta sẽ tấn công với hai cái tiểu đoàn thứ ba và thứ tư, để đánh thẳng xuống phía sông. Lúc đó thì địch cũng sẽ bị vô tròng, vì bị sông chận cứng không lối thoát mất rồi”.
Tại West Point thì đúng thật là không bao giờ mà tôi lại được nghe những điều như vậy. Lúc đó, tôi đã nghỉ, “Cái gì mà tám giờ sáng, rồi còn lại mười một giờ trưa nữa? Làm sao mà ông ta lại có thể đưa ra thời khóa biểu của trận chiến cái kiểu đó được?”. Nhưng tôi cũng nhận ra được nét đại cương của kế hoặch của ông: ĐT Trưởng vừa tái sáng tạo các chiến thuật mà Hannibal đã từng áp dụng năm 217 Trước Công Nguyên, khi danh tướng này bao vây được và tiêu diệt các quân đoàn cổ La Mã trên bờ Hồ Trasimene. ►1
Nhưng rồi ĐT Trưởng lại cho biết thêm là chúng tôi cũng đang có một vấn đề: Các đơn vị Dù Việt đã được sử dụng trong chiến dịch này, vì cấp trên lo ngại là nếu dùng các đơn vị Mỹ, thì cũng có khả năng là họ rồi cũng sẽ phải tiến quá gần tới biên giới Kampuchia, nhân khi đuổi theo địch. Ông ta đã nói, “Trên bản đồ của Thiếu tá thì biên giới với Kampuchia là chổ này, độ mười cây số ở phía Đông, nếu so với cái bản đồ của tôi. Để thi hành kế hoặch của tôi, chúng ta cần phải dùng bản đồ của tôi, thay vì là cái của Thiếu Tá, bởi vì nếu không, thì chúng ta sẽ không thể đi bọc đủ sâu, hầu bố trí đơn vị chận địch đầu tiên của chúng ta. Bởi vậy, Thiếu Tá Schwarzkopf – Thiếu Tá (phát âm “tia-tah”) là tiếng Việt cho chữ “major” – ông cố vấn cho tôi ra sao đây?”.
Viễn tượng để cho địch thoát về được hậu cứ, để rồi dưởng quân cho đủ mạnh, và rồi lại tái tấn công, thì cũng thật sự rất ư là xúc phạm tới tôi, cũng như mọi quân nhân. Một số trong bọn địch này thì tôi cũng đã từng đụng độ bốn tháng trước tại Đức Cơ rồi. Cho nên làm sao mà tôi lại có thể cho là bản đồ của tôi lại chính xác hơn là cái của ĐT Trưởng?
“Tôi xin cố vấn là chúng ta nên dùng bản đồ của ông”.
Rất lâu sau khi đã ra các lệnh tấn công, ĐT Trưởng bèn ngồi xuống hút thuốc và nghiên cứu tấm bản đồ. Chúng tôi cùng nhau dò đi dò lại mãi đến khuya kế hoặch hành quân, ráng hình dung ra mọi diển biến có thể có được của trận chiến. Tới rạng đông, thì chúng tôi cho Tiểu đoàn 3 bung ra. Họ bèn bố trí xong xuôi và, quả đúng thật, vào lúc tám giờ sang, thì họ gọi về cho biết đang đụng nặng với địch. ĐT Trưởng liền tung Tiểu đoàn 5 về hướng phải. Tới mười một giờ trưa, thì họ cũng báo cáo đang đụng nặng. Đúng y như ĐT Trưởng đã tiên liệu, ở rừng sâu phía dưới, địch quả đã sa vào bẩy của Tiểu đoàn 3 tại biên giới và bèn quyết định, “Mình không thể nào trốn thoát được qua ngõ này rồi. Phải trở lui lại mà thôi”. Cái quyết định này thì cũng đúng là vi phạm nguyên tắc căn bản về rút quân và trốn chạy, là phải sử dụng lộ trình nguy hiểm nhất, hầu giảm thiểu khả năng sa vào ổ phục kích của địch đang chờ chực sẳn. Nếu mà chúng chịu rời thung lũng để vượt lên dãy núi Chu Pong, thì họa may chúng đã có thể trốn thoát được rồi. Ngược lại, đúng như ĐT Trưởng tiên liệu, chúng đã cứ di chuyển dưới vùng thấp, và nay thì chúng tôi đã gom được chúng vô bẫy rồi. Ông bèn nhìn tôi và nói, “Cho pháo đi”. Chúng tôi đã pháo tan vùng phía dưới trong cả nữa tiếng đồng hồ. Rồi ông ta ra lệnh cho hai tiểu đoàn còn lại của mình đánh thẳng xuống đồi; súng đạn bắn rầm trời khi chúng tôi đi theo họ.
Tới độ một giờ trưa, thì ông Trưởng tuyên bố, “O.K. Mình ngừng thôi”. Ông ta bèn lựa một khu quang đãng thật dể thương, và rồi hai tôi với ban tham mưu của ông, cùng nhau ăn trưa! Đang nữa chừng buổi ăn trưa, thì ông ta bèn để chén cơm xuống và dùng máy vô tuyến ra những lệnh gì đó. Tôi hỏi ông ta, “Có gì vậy?”. Chuyện là ông ta vừa ra lệnh cho binh sĩ thu dọn chiến trường để thu hồi vũ khí địch. “Chúng ta đã loại được rất nhiều địch, và số còn lại thì đã cùng vứt bỏ vũ khí hầu trốn chạy”.
Bây giờ, nếu nói ra, thì cũng quả thật là ông ta đã không hề tận mắt chứng kiến điều gì cả! Mọi việc đều chỉ xảy ra tận trong rừng sâu mà không hề ai đã chứng kiến được. Nhưng trong suốt ngày hôm đó, chúng tôi vẫn ở lại khu đất trống đó, và các đơn vị của ông ta đã cứ liên tục thay nhau mang về biết bao nhiêu là vũ khí để mà chất đống ngay trước mặt chúng tôi luôn. Tôi thì quả thật rất phấn khởi – chúng tôi đã đúng là chiến thắng một cách dứt khoát! Nhưng cái ông Trưởng thì lại chỉ vẫn cứ ngồi đó, mà mãi lo hút cái điếu thuốc của mình thôi.
Trong thời gian phục vụ bên cạnh Lực Lượng Dù Nam Việt, tôi cũng đã nhìn việc tăng cường của các đơn vị tác chiến Mỹ theo nhãn quan quan của một quân nhân Mỹ, và tôi cũng đã có những cảm nhận lẫn lộn. Một bên, thì tôi chào mừng sự kiện hỏa pháo đã được tăng cường – chẳng hạn Sư đoàn 1 Không Kỵ thì đã thật là tuyệt vời trong việc mang được pháo vô ngay rừng sâu để rồi tại đó, đã có thể yểm trợ pháo liền ngay tức thời, điều mà đã giúp cho lực lượng dã chiến của chúng tôi đã có thể hành quân được như là tại Ia Drang.
Về phương diện khác, việc Mỹ hóa cuộc chiến cũng đã làm tôi rất ư là bối rối. Đột nhiên, chúng ta đã không còn đồng hành với miền Nam Việt Nam nữa. Đó là đất nước của họ, đó là chiến cuộc của họ: rốt cuộc thì chính họ mới phải chịu đựng tất cả mọi thương đau mà thôi. Tôi nghỉ là chúng ta cần phải cung cấp các khả năng, với lòng tự tin cùng những phương tiện thiết yếu cho họ, và rồi khuyến khích họ chiến đấu. Ấy vậy, tuy lập trường chính thức của chúng ta là chúng ta đang gởi quân đội để giúp Nam Việt chiến đấu, thì sự thật là cứ càng ngày càng có qua nhiều trận chiến chỉ độc quyền do người Mỹ đãm nhiệm mà thôi, thay vì là do các lực lượng của Hiệp-chũng-quốc và Nam Việt cùng nhau chịu trách nhiệm. Các sĩ quan Mỹ thì cũng bắt đầu nói những điều, chẳng hạn như là, “Mấy tên đó thì cũng không biết đánh giặc là gì cả. Không tên nào mà xứng đáng là chiến sĩ. Không thằng nào mà xứng đáng cả”. (Lực Lượng Dù và Thủy Quân Lục Chiến VNCH vẫn tiếp tục hành quân chung với những lực lượng Mỹ trong những cuộc hành quân hỗn họp, nhưng ngay chúng tôi, những cố vấn, cũng thấy được là tiếp liệu và quân nhu cũng khan hiếm hơn, vì ưu tiên thì vẫn được dành cho các đơn vị Hoa Kỳ mà thôi).
Chúng ta cũng có khuynh hướng quên mất sự kiện là chúng ta đang ở đất nước của những người khác. Một thí dụ là khi Sư đoàn 1 Bộ Binh, từng lừng danh với tên gọi “Red Big One ~ Đại Hồng” được bố trí tại phía Bắc của Sài Gòn, thì họ đã bắt đầu bắn để thử pháo và đề lô. Việc đó thì cũng chỉ là một thủ tục thông thường về phòng vệ, nhưng trong lần này, thì cũng có nghĩa là pháo xuống những cánh đồng lúa của nông dân, khiến họ hoảng sợ mà cũng rất căm phẩn luôn.
Khi Hoa-thịnh-đốn từ bỏ các mục tiêu của sứ mệnh cố vấn, thì các binh sĩ Nam Việt – và các cố vấn Mỹ của họ – cũng bèn đã bị đối xử như là một loại công dân thứ hạng mà thôi. Vào một ngày chủ nhật trong tháng Mười Một, tôi đã đưa vị đối tác người Việt vô một căn cứ Mỹ. Ông là một trung tá Thiên chúa giáo ngoạn đạo tên Kha, từng du học ở Mỹ và nhân đó, cũng đã khám phá ra được bắp, loại mà gần như không tìm ra được tại quốc nội. ►2 Từ nhiều tháng nay thì tôi cũng đã cứ ăn ké đồ ăn của ông ta, nên khi tôi được tin là câu lạc bộ sĩ quan tại Kontum, gần địa điểm chúng tôi đang hành quân, đang có bắp đóng hộp, tôi liền bèn mời ông Kha đi dùng buổi ăn trưa, chung với vài đồng sự trong ban nhân viên của ông ta, cũng như là một cặp bạn cố vấn trong tiểu đoàn của tôi. Chúng tôi thì cũng chỉ muốn được thay đổi không khí chút ít mà thôi. Nhưng tại cổng vô thì tôi đã phải cải lộn với tay quân cảnh, mà cứ khăng khăng không cho người Việt được vô căn cứ. Tôi đã giải quyết nội vụ đủ nhanh (dùng cái đẳng cấp cao hơn), nhưng Kha, mà cũng nói tiếng Anh tuyệt vời, không sai giọng, đã tự cảm thấy bị sỉ nhục, còn tôi thì cũng tự thấy quá ư là khó chịu mà thôi, cho ngay cả hai chúng tôi. Khi chúng tôi vô tới tại câu lạc bộ, thì lại tới phiên viên quản lý tới và thông báo cho chúng tôi là, “Ở đây, chúng tôi không phục vụ cho người Việt”. Lại một lần nữa, tôi cũng phải giải quyết vấn đề (to xác đủ bự), nhưng thật sự trong thời gian toàn buổi ăn trưa đó, ruột tôi cứ phải quặn lên. Rồi vế sau đó, mổi lần tôi mời Kha đi ăn, thì ông ta cũng chỉ rất lịch sự từ chối mà thôi.
Chắc chắn tôi đã không là người Mỹ duy nhất tại Việt Nam, mà đã được các bạn Việt chinh phục, để rồi cũng đi đến tình trạng cảm mến họ luôn; cũng đã có rất nhiều người khác như tôi, mà đã từng sống cận kề, từng chiến đấu bên cạnh các người bạn Việt đó, mà đã học hỏi được từ từ, để rồi cuối cùng đâm ra kính trọng họ luôn. Nhưng chúng tôi chỉ là một thiểu số mà thôi. Đa số những người Mỹ tại Việt Nam thì cũng có thể được phân chia ra làm hai nhóm: các thành viên thuần túy tại các bộ chỉ huy cùng đơn vị tác chiến Mỹ, mà hoàn toàn không bao giờ có tiếp xúc với quân đội VNCH, và các thành viên của những đoàn cố vấn đặc nhiệm, mà cũng đã hoàn toàn không hề có bao giờ tiếp xúc trực tiếp với các cấp bậc đối tác Nam Việt, mà chỉ mãi làm việc qua tháng ngày, chỉ chung với những người Mỹ đồng hương mà thôi. Rồi bởi vì họ cũng không hề quen biết được người Việt nào cả, họ bèm đâm ra đi tin những chuyện tào lao, như là VNCH không hề biết đánh đấm gì đâu. Đúng ra thì các vị chỉ huy cao cấp của chúng ta đã phải có thể điều chỉnh, để đem được lại sự thật, nhưng ngay cái quan niệm của họ thì cũng thật đã là méo mó mất rồi: sĩ quan cao cấp Việt thì cũng rất nhiều người là tham nhũng và bất tài, và tuy họ không hề là đa số, họ chính lại là những kẻ mà cấp lãnh đạo của chúng ta vẫn cứ phải thường xuyên phải tiếp xúc mà thôi.
Suốt mùa Đông năm 1965, cuộc sống của chúng tôi cũng đã thật là gian nan. Trong tư cách cố vấn của một lực lượng đặc nhiệm, tôi đã đụng trận nhiều gấp đôi, khi so với cố vấn cấp tiểu đoàn khác: các tiểu đoàn thì vẫn thay phiên nhau đi hành quân, còn các vị chỉ huy những lực lượng dã chiến thì luôn luôn gần như chỉ ở tại các mặt trận mà thôi. Bọn cộng sản đã tăng gia tấn công quân đội VNCH và các đơn vị Dù vẫn cứ thường xuyên được bóc thả xuống những vùng đang bị cực kỳ sôi động. Trong một lần đụng độ, chúng tôi đã bị tổn thất tới hơn phân nữa. Suốt trong sáu tháng đó, tôi đã tham dự sáu trận lớn, và cuộc sống liên tục trong rừng già, rốt cuộc cũng đã mang lại hệ quả. Tôi đã phải nhập viện hai lần, một lần tại Nhatrang vì bịnh sốt rét, và lần kia thì tại Qui Nhơn, vì bịnh kiết lỵ ‘amoebic dysentery’. Tôi đã thực sự quá ư kiệt quệ rồi.
Vào cuối tháng Giêng, thì chiến cuộc sôi động lên tại đồng bằng Bồng Sơn, một dãy đất thấp ven biển kéo dài độ bốn mươi dặm Anh ở phía Bắc Qui Nhơn, mà VC vẫn từng khống chế từ bao năm nay. Lực lượng Dù VNCH, Sư đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ, cùng TQLC Mỹ với TQLC của VNCH đang phối hợp quét sạch vùng này, để tái lập lại quyền kiểm soát. Dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Kha, chúng tôi đã đang tham chiến cả tuần nay – cũng bị khá nhiều tổn thất khi tấn công xuyên qua những cánh đồng lúa vào những ngôi làng đang bị chằn chịt với đường hầm và hầm núp của VC. Mọi người đều rất ư là rộn rịp. Rồi thi Kha nhận tin tang thương từ Sài Gòn, cách 180 dặm Anh ở phía Nam, nơi mà gia đình ông ta đang sinh sống. Một phi cơ trực thăng tấn công thuộc phi trường Tân Sơn Nhất đã lầm lỡ bắn một hỏa tiễn bay xuyên thành phố, để ròi bay vô cữa sổ nhà ông Kha và nổ tung giết chết đứa con gái tám tuổi của ông ta. Ông Kha đã từng bao năm chiến đấu thật là can đãm, nhưng khi nghe tin con gái qua đời, thì ông ta đã đổ gục. Ông ta đã về lại Sài Gòn, và rồi tuy vẫn nằm trong quân đội, nhưng ông ta đã không còn đi tác chiến nữa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét