Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

Chuyện Vãn: Ba Tư & Nghìn Lẻ Một Đêm - Vương Trùng Dương


“Tôi chưa thể trở thành một người viết truyện giả tưởng hay truyện triết lý sâu sắc, cho đến khi tôi đọc Nghìn Lẻ Một Đêm với mười bốn lần” (Văn hào Pháp Voltaire 1694-1778) “Tôi nghĩ Nghìn Lẻ Một Đêm là một trong những kỳ quan của thế giới, một kỳ quan không thể đo đạc bằng không gian mà bằng thời gian... Nó là một lục địa của những giấc mơ”. (Văn hào Argentina Jorge Luis Borges 1899-1986) “Nghìn Lẻ Một Đêm là một mạng lưới không có điểm bắt đầu và cũng không có điểm kết thúc. Nó giống như một tấm thảm bay dệt bằng ngôn ngữ, đưa người ta đi từ kỳ quan này sang kỳ quan khác mà không bao giờ muốn hạ cánh” (Nhà triết học Đức Walter Benjamin 1892-1940)
<!>
“Nghìn Lẻ Một Đêm, cuốn sách này chứa đựng tất cả: sự nguy nga của phương Đông, phép thuật của những vị thần, và trên hết là những ham muốn, lòng tham, tình yêu và sự mưu trí rất đỗi con người”
(Nhà phê bình văn học Anh Leigh Hunt 1784-1859)

“Nghìn Lẻ Một Đêm không chỉ là một cuốn sách, nó là chiếc chìa khóa mở toang cánh cửa vào thế giới hiện thực huyền ảo của phương Đông, nơi lanh giới giữa giấc mơ và đời thực hoàn toàn bị xóa nhòa”.
(Nhà văn Colombia Gabriel García Márquez 1927-2014)
*
Ba Tư thời xa xưa là xứ sở huyền bí với nhiều huyền thoại và nền văn minh, nhiều di tích lịch sử của vùng Trung Đông.
Nghìn Lẻ Một Đêm có lẽ đây là bộ sách duy nhất, khi nói về tác phẩm nghĩ đến xứ sở Ba Tư và ngược lại.

Tiền thân của tác phẩm là một tập truyện cổ Ba Tư có tên là Hezār Afsān (Một nghìn câu chuyện) xuất hiện từ trước thế kỷ thứ VIII. Hai nhân vật chính - Vua Shahryar (nghĩa là chúa tể) và nàng Scheherazade (nghĩa là Người có dòng dõi cao quý) tên thuần gốc Ba Tư.

Nhiều bài viết và sách về chuyện nhỏ chuyện to xưa nay trong đời thường cũng tương tự như chuyện vãn vừa có tính cách giải trí vừa mang lại ý nghĩa thâm thúy với nội dung. Đặc biệt với từng mẩu chuyện qua pho truyện cổ Nghìn Lẻ Một Đêm vào thế kỷ 17. Bản thảo đầu tiên có nguồn gốc ở Baghdad vào thế kỷ thứ 9 (nơi đây trung tâm chính trị, kinh tế và tôn giáo của thế giới Ả Rập lúc bấy giờ, và hiện là thủ đô của Iraq). Phát xuất từ tiếng Ả Rập nhưng bối cảnh xảy ra ở Ba Tư. Tương tự như Truyền Kỳ Mạn Lục của danh sĩ Nguyễn Dữ vào thế kỷ 17, Truyện Kể Nước Nam của cụ Ôn Như Hầu Nguyễn Văn Ngọc vào đầu thế kỷ 20, truyện cổ nhân gian…

Tiếng Ba Tư Pahlavi thời trung đại trong bốn thế kỷ 3 đến 7 được gọi là Middle Persian sử dụng dưới triều đại Sassanid trở thành ngôn ngữ chính thức của đế chế. Sau cuộc xâm chiếm Hồi Giáo vào thế kỷ thứ 7, hệ thống chữ viết Ba Tư - Ả Rập được phát triển dựa trên chữ Ả Rập, thay thế cho chữ viết Pahlavi. Tiếng Ba Tư bắt đầu phát triển từ thế kỷ thứ 9, vẫn chịu ảnh hưởng từ tiếng Ả Rập vì vậy các nhà nghiên cứu, dịch giả thường dựa vào tiếng Ả Rập.

Bộ sách nhấy được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó bản tiếng Pháp của Antoine Galland và bản tiếng Anh của Richard Francis Burton vào năm 1885 đến 1888 được phổ biến nhiều nhất.

Bản tiếng Việt đầu tên của dịch giả Trần Văn Lai do Tân Việt xuất bản năm 1942 từ Les Mille et Une Nuits của Antoine Galland. Bác sĩ Trần Văn Lai, thị trưởng đầu tiên của thành phố Hà Nội thời chính phủ Trần Trọng Kim. Ông được xem là người có công trong việc tìm ra cách đặt tên phố phường Hà Nội thay cho tên Pháp đặt, một cách hợp lý và khoa học tương tự như nhà văn, nhà họa đồ Ngô Văn Phát (Thuần Phong) đặt tên đường cho thủ đô Sài Gòn sau năm 1954.

Bộ sách Nghìn Lẻ Một Đêm được phổ biến ở miền Nam Việt Nam, thuở học trò, giới trẻ chúng tôi thuê sách và say sưa đọc.

Ngoài sách, về điện ảnh, những câu chuyện từ Nghìn Lẻ Một Đêm từ lâu đã trở thành đề tài quen thuộc của các bộ phim, khởi đầu từ Le Palais des Mille et une Nuits (1905) của Georges Méliès. Phim được biết đến nhiều nhất là phim hoạt hình Aladdin (1992) của hãng Walt Disney. Robert Irwin cho rằng The Thief of Bagdad (1924), The Thief of Bagdad (1940) và Arabian Nights (1974) nằm trong số “những tuyệt tác của điện ảnh thế giới”… Sinbad và Ali Baba.

Về âm nhạc, Nghìn Lẻ Một Đêm đã ảnh hưởng đến các nhạc phẩm của: François-Adrien Boieldieu: Le calife de Bagdad (1800). Carl Maria von Weber: Abu Hassan (1811). Luigi Cherubini: Ali Baba (1833). Peter Cornelius: Der Barbier von Bagdad (1858). Ernest Reyer: La statue (1861). Horneman (1840-1906), Aladdin (overture), 1864. Rimsky-Korsakov: Scheherazade Op. 35 (1888). Dikran Tchouhadjian (1837-1898), Zemire (1891). Henri Rabaud: Marouf, savetier du Caire (1914). Carl Nielsen, Aladdin Suite (1918-1919). Renaissance: Scheherazade and Other Stories (1975). Fikret Amirov: Arabian Nights (Ballet, 1979). Ezequiel Viñao, La Noche de las Noches (1990). Carl Davis, Aladdin. Kamelot, Nights of Arabia (1999). Sarah Brightman, Harem and Arabian Nights (2003)…
*
Trước khi vào chuyện, khái quát về lịch sử Ba Tư, từ cái nôi của nền văn minh đến thảm họa đất nước. Ba Tư (Persia) ngày xưa (nay là Iran) tiêu biểu nền văn minh Trung Đông, với Ba Tư nổi bật đế quốc cổ đại. Trước công nguyên, thời kỳ Achaemenid với diện tích hơn 5 triệu km2. Sau nguyên công nguyên lãnh thổ của Ba Tư có nhiều thay đổi qua các triều đại khác nhau tranh chấp hưng thịnh, suy vong.

Ba Tư trải qua thời kỳ đen tối nhất lịch sử vào thế kỷ 13 đến 15 khi Thành Cát Tư Hãn và các tướng sĩ Mông Cổ đã đánh nhà Khwarezm Shah ngã quỵ, tàn sát dân chúng của nhiều thành phố lớn nhỏ, khiến dân số tộc Ba Tư và các chủng tộc khác trong vùng bị suy giảm một cách thê thảm. Sau khi Thành Cát Tư Hãn về xứ, Oa Khoát Đài dẫn đại quân Mông Cổ trở lại chiếm hầu hết đất Ba Tư, trước sức tấn công của Húc Liệt Ngột, thành trì cuối cùng của triều đại Ismail bị hạ.

Húc Liệt Ngột và các con cháu lập niên nhà Y Nhĩ Hãn đô hộ đất nước. Thiết Mộc Nhi dấy nghiệp ở Trung Á, thôn tính toàn cõi Ba Tư và tiến xa đến bán đảo Tiểu Á. Ông ta xưng là dòng dõi Thành Cát Tư Hãn, nhưng chiếm đến đâu cũng dùng tiếng Ba Tư làm ngôn ngữ chính thức. Con cháu ông ta nối nhau làm vua được thêm một thế kỷ, triều đại Timur…

Trải qua các triều đại tranh chấp nhau làm suy yếu bởi phân tranh cho đến triều đại Qajar vào thế kỷ 18. Người Turkmen một dân tộc Turk bản địa Trung Á, lợi dụng thời thế nổi dậy thống nhất được Ba Tư và tái lập được trật tự, đóng đô ở Tehran.

Với dân tộc thiểu số cai trị Ba Tư bị mất dần lãnh thổ. Sau cuộc chiến tranh Nga - Ba Tư (1804-1813), kết thúc bằng hòa ước Gulistan, Ba Tư phải nhượng cho đế quốc Nga các vùng đất. Sau cuộc chiến tranh lần thứ hai (1826-1828), Ba Tư phải nhượng thêm đất. Vào năm 1881, đế quốc Nga chiếm thêm các vùng đất khác nữa..

Vào thế kỷ 20, triều đại Pahlavi (1925-1979) Reza Khan lên ngôi vua, trở thành Reza Shah và tự đặt cho mình họ Pahlavi. Ông chấn hưng kỹ nghệ, giáo dục, y tế..., cải cách xã hội, quân đội, hành chính, tài chính, v.v... Ông ra luật buộc dân phải ăn mặc Âu phục, bỏ y phục truyền thống, buộc phụ nữ phải bỏ che mạng. Năm 1935, Chính phủ Iran yêu cầu cộng đồng quốc tế chính thức dùng tên Iran (nghĩa là “vùng đất của người Aryan”).

Tháng 8 năm 1941, vì lý do chiến lược, quân Anh và quân Liên Xô phối hợp tấn công Iran, truất phế vua Reza Shah và lập con trai ông là Reza Pahlavi lên ngôi vua.

Vua Reza Pahlavi tiếp tục đường lối cải cách của cha, tuy mềm dẻo hơn chút ít dưới tên chương trình là Cách Mạng Trắng từ năm 1963, nhưng vẫn gặp nhiều chống đối từ quần chúng và đặc biệt là giới tu sĩ, cho đến khi bị phong trào của ông Ruhollah Khomeini lật đổ năm 1979.

Sau khi Khomeini nắm được chính quyền, ông trở thành người có quyền cao nhất ở Iran mang danh nghĩa “Lãnh Tụ Tối Cao - Lãnh Tụ Của Cuộc Cách Mạng (Rahbar). Khomeini trở thành Đại Giáo Chủ của Hồi Giáo Shia. Tuy có tổng thống và nội các, quân đội nhưng quyền hành thực sự là Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo (IRGC) cánh tay đắc lực nắm quyền lực sâu rộng trong an ninh, chính trị, kinh tế, đối nội, đối ngoại. IRGC kiểm soát các ngành công nghiệp chủ chốt như dầu khí, xây dựng, viễn thông và tài chính… cai trị trong chế độ độc tài!

Trong cuộc chiến tranh Iran-Iraq từ năm 1980 đến 1988, mà con số thương vong phía Iran được ước lượng là 500.000 đến 1.200.000 người. Trong thập niên 2001-2010, Iran tuyên bố muốn xóa tên xứ Israel (Do Thái) trên bản đồ thế giới hỗ trợ “trục kháng chiến” gồm các nhóm vũ trang ủy nhiệm tại Trung Đông để tấn công Israel, nổi bật nhất là Hezbollah (Lebanon), Hamas (Palestine), Houthi (Yemen)… Vì vậy Israel coi Iran như kẻ thù không đội trời chung.

Iran trở thành nước có tiềm năng quân sự hùng mạnh ở Trung Đông về vũ khí, hỏa tiễn cho quân dội, hải và không quân… Đặc biệt kho dự trữ 440 kg uranium, theo cơ quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA), cho biết vào tháng 10/2025 lượng uranium này - nếu được làm giàu thêm - sẽ đủ để chế tạo 10 quả bom nguyên tử. Đây là sự nguy hiểm cho thế giới nếu Iran chế tạo vũ khí nguyên tử!

Mỹ và Israel đã phát động chiến dịch quân sự quy mô lớn mang tên “Operation Epic Fury” với các cuộc không kích chưa tùng có vào tối ngày 28/2/2026. Và từ đó, cuộc chiến giữa Mỹ Và Israel với Iran trở thành tâm điểm quan trọng nhất trên thế giới…
*
Bán đảo Ả Rập (nay gọi là Arab Saudi - Ả Rập Xê-Út) ngày xưa bán đảo lớn nhất thế giới ở Tây Nam châu Á, nằm giữa Địa Trung Hải, Hồng Hải và Ấn Độ Dương. Bán đảo Ả Rập là nơi tiếp giáp giữa ba châu lục: châu Á, châu Âu, châu Phi, nơi giao lưu đường thương mại. Tuy bị ngăn cách bởi vịnh Ả Rập và Ba Tư nhưng một phần của đai cát đi ngang qua Ba Tư, tới tận sa mạc Gobi. Tiếng Arabe (Ả Rập) có nghĩa là khô khan. Hai nước nầy vào thời kỳ đó được coi là cái nôi của nền văn minh và ngôn ngữ thông dụng.

Nhân cuộc chiến nầy nói về những mẩu chuyện vào thời xa xưa giữa vua Shahriyar (Shahryar), vua Ba Tư và nàng Scheherazade.

Ngày đó, Ba Tư, có vị vua Shahriyar (nhân vật có thật, vị hoàng đế thứ 5 của triều đại Abbasid, trị vì từ năm 786 đến 809 nổi tiếng với tài năng trị vì thiên hạ nhưng sau đó trở nên độc ác và dã man! Vua Shahriyar có tài trị quốc nhưng nhưng hoàng hậu dâm gian với người hầu và các phi tần ngoại tình nên ông uất hận, đâm ra chán nản, ghét và hận tất cả phụ nữ trên đời. Vua ra chỉ thị cho viên tể tướng rằng, mỗi ngày hãy bắt một cô gái còn trinh tại bất cứ nơi đâu, sau một đêm ngủ với nàng thì sẽ giết nàng vào sáng sớm hôm sau. Rất nhiều cô gái trong kinh thành đã bị bắt đi và sát hại như thế. Dân chúng kêu ca và oán thán không ngớt.

Nàng Sheherazade, con vị tể tướng, thông minh, hiểu biết rộng thấy kinh thành lâm nguy và phụ nữ bị giết, nàng tình nguyện xin thân phụ vào hầu vua. Ông tể tướng sợ con gái bị giết như bao cô gái khác nên nhất quyết ngăn cản nhưng với sự quyết tâm của con gái con cô gái nhất định vào cung, đành chấp nhận theo ý muốn.

Trước khi dâng hiến thân xác cho nhà vua, nàng xin được phép kể câu chuyện và được chấp thuận. Mỗi câu chuyện kể còn dang dở trước khi trời sáng và nhà vua tò mòn muốn nghe tiếp. Thế là Sheherazade liên tục kể chuyện gần 3 năm trời với hàng trăm câu chuyện, từ tình cảm xã hội đến chính trị, chuyện nhân gian phố phường đến truyện cổ tích tưởng tượng. Sau gần 3 năm nghe Sheherazade kể, nhà vua dần dần không còn tính tình nóng nảy ghét hờn phụ nữ nữa. Thay vào đó, ông ta thương nàng Sheherazade và quyết định không giết nàng nữa.

Một đêm, hai đêm… cho đến nghìn lẻ một đêm, hai người họ đều chìm vào những câu chuyện huyền ảo đầy lôi cuốn như thế. Đó là sự màu nhiệm, điển hình như trong đạo Phật, kẻ ác khi chú tâm nghe kinh kệ lâu ngày được cảm hóa thành người lương thiện.

Antoine Galland (1646-1715) là nhà Đông Phương học, khảo cổ học người Pháp, thông thạo ngôn ngữ Ả Rập và Ba Tư người đầu tiên dịch và giới thiệu bộ truyện Nghìn Lẻ Một Đêm (Les Mille et Une Nuits) sang tiếng Pháp (1704-1717). Ông có công lớn trong việc biên dịch, chỉnh sửa và đưa các câu chuyện dân gian vùng Trung Đông và Nam Á đến với độc giả phương Tây, được phổ biến toàn cầu của tác phẩm.


Tác phẩm này được sưu tập qua nhiều thế kỷ bởi nhiều tác giả, dịch giả và học giả khắp Tây Á, Trung Á, Nam Á và Bắc Phi. Các câu truyện được truy tìm nguồn gốc ngược về nền văn chương và truyện kể dân gian Ả Rập, Ba Tư, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Do Thái và Ai Cập. Nhiều truyện dân gian từ thời đại Khalifah, trong khi đó một số truyện khác, đặc biệt là truyện nền, phần lớn có thể đã được lấy từ tác phẩm văn chương Ba Tư cổ là Hazār Afsān (Một Ngàn Truyện Thần Thoại)…

Năm 988, Mohamed Ishaq viết: “Tác giả tập Truyện Các Tể Tướng là An Jasihiyari (Agdul Al Jahshitari) bắt tay soạn một cuốn sách trong đó ông chọn một nghìn truyện của người A Rập, người Ba Tư, người Hy Lạp và nhiều dân tộc khác, các truyện đều riêng biệt không có quan hệ gì với nhau. Ông tập hợp một số người làm nghề kể chuyện lại, mời họ kể cho nghe rồi chọn những truyện hay nhất, những ngụ ngôn, cổ tích mà ông thích nhất. Là một người có tài, ông đúc kết những câu chuyện ấy lại thành bốn trăm tám mươi đêm, mỗi đêm là một truyện trọn vẹn dài trên dưới năm chục trang. Nhưng ông chết bất ngờ trước khi hoàn thành một nghìn truyện như dự định”.

Khi ở Paris, Antoine Galland một hôm tình cờ đọc được một bản chép tay bảy truyện cổ A Rập, ông có ý định dịch và cho xuất bản. Sách sắp in ra thì dịch giả được biết những truyện này thực ra rút ra từ một pho đồ sộ gồm nhiều tập đề là Nghìn Lẻ Một Đêm. Ông nhờ người tìm kiếm hộ, chỉ gửi đến cho ông có bốn tập. Ông dịch ngay tập đầu tiên cho xuất bản năm 1704. Món quà nhỏ mọn như lời ông viết trong thư gửi tặng hầu tước phu nhân O, lập tức được hoan nghênh,. Thành công hết sức to lớn. Cùng với hầu tước phu nhân O cả triều đình nghị viện, từ giai cấp tư sản cho đến các tầng lớp nghèo hèn, tóm lại là tất cả những ai biết đọc biết viết ở Pháp đều đổ xô vào tranh nhau tập sách.

Trong bốn năm, từ 1704 đến 1708, mười hai tập lần lượt ra đời. Năm 1709, A. Galland được một người bạn A Rập đến Paris trao thêm cho một số truyện nữa, ông lại dịch và cho in tiếp.

Chừng hai thế kỷ sau A. Galland một bản dịch tiếng Pháp khác của Nghìn Lẻ Một Đêm ra đời. Dịch giả là tiến sĩ J.C. Mardrus, bản dịch theo quan niệm và phong cách hoàn toàn khác. Mardrus không bỏ sót một chi tiết nào, kể cả những đoạn rườm rà dâm tục và tất cả những thơ rải rác trong các truyện.

Ngoài bản dịch của BS Trần Văn Lai, đến đầu thập niên 1970, dịch giả Phan Quang dịch bộ sách Nghìn Lẻ Một Đêm. Trong Lời Giới Thiệu, tác giả viết:

“Hai thế kỷ sau Antoine Galland, một bản dịch tiếng Pháp khác của Nghìn Lẻ Một Đêm ra đời. Các nhà nghiên cứu văn học đều đánh giá cao bản dịch của Antoine Galland. Người dịch đã cố tình tước bớt, để tránh cho những người đọc đỡ ngượng ngùng, một số chi tiết tả tỉ mỉ những cảnh sinh hoạt mà cho dù có in ra cũng không cho biết thêm một điều gì mới mẻ về phong tục…

Nhà văn Pháp Charles Nodier chuyên viết truyện cổ tích đầu thế kỷ 19 đã đánh giá bản dịch của Antoine Galland như sau: “Bản dịch của Antoine Galland là một tác phẩm có thể coi là kinh điển trong thể loại văn học này, và nếu nó có phải chịu vài điều chê trách của những nhà Đông phương học nào đó mê tín sự trung thành với các nguyên tác, ấy là vì những vị này coi trọng lợi ích ngành học thuật chuộng màu sắc xa lạ của họ hơn là tinh thần của ngôn ngữ và những yêu cầu của nền văn học dân tộc chúng ta…

“Nhà văn Macxim Gorki viết: “Trong số các di tích tuyệt diệu của sáng tác truyền khẩu dân gian, các truyện cổ tích của nàng Sheherazade là di tích đồ sộ nhất. Những truyện cổ tích này thể hiện với mức hoàn hảo kỳ diệu, xu hướng của nhân dân lao động muốn buông mình theo phép nhiệm màu của những ảo giác êm đẹp, theo sự kết hợp phóng khoáng của từ ngữ thể hiện sức mạnh vũ bão của trí tưởng tượng hoa mỹ của các dân tộc phương Đông - người A Rập, người Ba Tư, người Ấn Độ. Công trình dệt gấm bằng từ ngữ này xuất hiện từ thời tối cổ, những sợi tơ muôn màu của nó lan khắp bốn phương, phủ lên trái đất một tấm thảm từ ngữ đẹp lạ lùng”…

Nhà văn Gaston Picard gần đây khi soát lại bản dịch của Galland để cho in lại (bản in năm 1962) sau khi trích dẫn ý kiến của tạp chí Bách khoa đã hóm hỉnh nhận xét thêm: Antoine Galland ý tứ hơn nhiều so với tiểu thư Sheherazade.

J. C. Mardrus cho rằng không phải ngẫu nhiên mà toàn bộ bản dịch của ông để tặng Stéphane Mallarmé và tập I để tặng Paul Valérỵ, hai nhà thơ bí hiểm. Vì những lẽ đó, một số nhà phê bình

có xu hướng coi bản dịch của Mardrus nặng tính chất một công trình nghiên cứu phong tục hơn là một tác phẩm văn học…”

Và câu chuyện xảy ra qua Lời Giới Thiệu với hai anh em cùng ngự trị ngai vàng:

“Ngày xưa có hai anh em cùng làm vua. Anh làm vua nước Đại Ba Tư choán một phần lớn trái đất. Em là vua nước Đại Tartari, chư hầu của anh. Một hôm, được lệnh của anh triệu về, em vội vã lên đường. Xa giá vừa ra khỏi kinh thành, đã nghỉ lại; nhà vua nhớ hoàng hậu, một mình lén trở lại cấm cung định tự tình với người vợ quý yêu một lần nữa. Nhưng hỡi ôi! Nhà vua không được gặp hoàng hậu như ở trong cảnh nhớ nhung thao thức mà lại thấy hoàng hậu đang ngủ say trong vòng tay một người đàn ông khác ngay trên giường ngự của mình. Nổi giận, nhà vua chém chết đôi gian phu dâm phụ, ném xác xuống hào rồi lặng lẽ trở lại hành cung và ra lệnh khởi hành.

Vua tuyệt nhiên không hé răng cho bất cứ ai biết nỗi khổ riêng đang giày xé lòng mình.

Song cũng từ buổi tối bất hạnh ấy, một nỗi buồn ghê gớm xâm chiếm nhà vua và thường xuyên lộ ra nét mặt. Cảnh hoàng đế thân hành ra đón từ ngoài kinh thành, cảnh hội hè yến tiệc, nghi lễ linh đình cũng như sự săn sóc chân tình của vua anh đều không thể làm tiêu tan nỗi u uẩn.

Nhà vua nước Đại Tartari tự cho mình là người đau khổ, bất hạnh nhất trần gian. Nhưng một hôm tình cờ nhà vua bắt gặp hoàng hậu, chị dâu của mình, ngoại tình với một tên da đen trong khi hoàng đế mải đi săn. Vua em thấy nhẹ hẳn người: “À, ra không phải chỉ có ta là người đau khổ duy nhất. Vinh hiển, phú quý, quyền uy chấn động thiên hạ đến như hoàng đế anh ta mà vẫn bị vợ lừa dối, phản bội. Vậy thì việc gì ta phải tự giày vò cho khổ thân!”

Đến lượt vua anh, khi được tự mình chứng kiến hành động dâm ô của hoàng hậu, ông cũng vô cùng chán ngán. Hai anh em cùng một lúc từ bỏ ngai vàng, từ bỏ mọi phú quý vinh hoa trên trần thế. Hai anh em ra đi định tìm chốn ẩn thân đến trọn đời ở một nơi chân trời góc bể nào đó cho khuây khỏa nỗi buồn, cho nguôi đi vết nhục. Nhưng tình cờ - vẫn là sự tình cờ - hai vua bắt gặp một thần linh từ dưới đáy biển nổi lên, ghé vào bờ. Trên đầu thần đội một chiếc hòm thủy tinh khóa bằng bốn chiếc khóa. Để phòng ngừa vợ có thể không chung thủy, thần đã nhốt ả vào trong đó và giấu tận đáy đại dương, chỉ mở cho ra những khi nào mình cần yêu đương tình tự. Ấy thế mà người đàn bà đẹp này đã từng ngoại tình với những chín mươi tám người đàn ông khác. Mỗi người sau phút ái ân, phải để lại cho ả một chiếc nhẫn làm kỷ niệm. Và mỉa mai làm sao! Hai nhà vua, hai ông chồng đang buồn rầu ngao ngán về thế sự này lại chính là những kẻ bị ả ép buộc làm những tình nhân bất đắc dĩ thứ chín mươi chín và thứ một trăm.

Vậy ra đàn bà ở đâu cũng vậy và ai cũng như ai thôi. Không thể có cách nào đủ hiệu lực ngăn ngừa, để cho họ giữ vẹn lòng chung thủy với chồng.

Chỉ còn một cách - hoàng đế nước Đại Ba Tư rút ra kết luận - là giết ngay người con gái vừa chung chăn gối, không để cho sống đến ngày hôm sau. Đó chính là cách trả thù đời, trả thù đám đàn bà, trả thù vợ của những ông chồng bị cắm sừng mà trong tay có quyền lực tối cao.

Từ buổi đó, một luật lệ mới được ban hành ở nước Đại Ba Tư. Một luật lệ vô cùng dã man, hết sức khắc nghiệt. Vua truyền cho tể tướng cứ mỗi đêm bắt vào cung một cô gái trinh để hầu hạ mình, rồi rạng sáng hôm sau, khi đêm vừa hết, thì ra lệnh giết chết cô gái ấy.

Thế là cứ mỗi đêm một cô gái trinh đi lấy chồng và sáng ra một người đàn bà thiệt mạng. Cảnh tang tóc bao phủ khắp kinh thành. Cung đình tràn ngập máu. Nỗi đau đớn xé lòng mọi người mẹ, người cha, người yêu, người chồng chưa cưới. Giữa lúc ấy xuất hiện cứu tinh, nàng Scheherazade, con gái yêu của chính tể tướng, người chịu trách nhiệm thi hành lệnh tàn bạo của vua…

Với hàng trăm câu chuyện hoàn chỉnh, bao gồm truyện lịch sử, truyện tình, bi kịch, hài kịch, thơ, truyện hài và truyền thuyết kết cấu thành tác phẩm, Nghìn Lẻ Một Đêm có một giá trị hết sức to lớn trong việc phản ánh một thế giới muôn mặt trong đời sống hiện thực xã hội thông qua một óc tưởng tượng cực kỳ phong phú, chủ đề vô cùng khác lạ, nhân vật đủ mọi loại vẻ, với những khung cảnh vừa rộng lớn vừa luôn luôn thay đổi. Về nghệ thuật, Nghìn Lẻ Một Đêm hết sức hoàn chỉnh về kết cấu, bất ngờ trong việc dẫn dắt mạch truyện, phức tạp nhưng rất chặt chẽ trong các tình tiết và cũng rất điêu luyện trong việc sử dụng ngôn ngữ, mặc dù có một số truyện qua tay nhiều người, được nhiều thế hệ ghi chép nên đã ít nhiều bị pha tạp hoặc bị hiện đại hóa”...

Các truyện trong Nghìn Lẻ Một Đêmrất phong phú và đa dạng. Lúc chuyện xảy ra trong thế giới thần tiên, lúc ở nơi đầu đường xó chợ. Về tôn giáo, có những người theo đạo Hồi, có những người theo đạo Thiên Chúa, đạo Do Thái, lại có những người thờ thần lửa... Về không gian, các chuyện xảy ra những nơi ngày nay được ghi trên bản đồ là Ấn Độ, Sri Lanka, Liên Xô, Trung Quốc, Jordan và Iran và trước hết là Tây Á, Bắc Phi, Ai Cập, Iraq, Syria... Tóm lại, khung cảnh rất rộng lớn, chủ đề thật đa dạng, tình tiết hết sức bất ngờ, ngôn ngữ vô cùng phong phú, nhân vật rất thực và cũng rất hư cấu.

Những câu truyện kể nổi tiếng nhất của Sheherazade là Aladdin & Cây Đèn Thần, Thủy Thủ Sinbad, Ali Baba & Bốn Mươi Tên Cướp, tuy vậy, thực tế thì Aladdin và cây đèn thần cùng với Ali Baba và bốn mươi tên cướp chỉ được đưa vào lúc thế kỷ 18 bởi Antoine Galland, cho rằng đã từng nghe kể về chúng ở Aleppo, Syria… phù thủy và những nơi huyền thoại, thường được đặt lẫn với người và vùng địa lý thật.

Những lúc nàng Sheherazade ngừng lại và nói: “Tiếc thay trời đã sáng rồi mà phần còn lại là đoạn hay nhất trong câu truyện...” hoặc “Những truyện vừa rồi hay thật đấy nhưng không thể nào so sánh được chuyện bệ hạ sắp nghe đây...”, “Đêm đã khuya lắm rồi xin cho phép bệ hạ dừng lại đây, đêm mai tôi xin kể nốt hầu ngài...”. Lối ngắt chuyện này là thủ thuật như các cuốn sách về chương hồi gợi sự tò mò, hiếu kỳ để lôi cuốn người đọc…

Nghìn Lẻ Một Đêm có tầm ảnh hưởng to lớn lên nền văn học thế giới. Nhiều nhà văn đã ám chỉ đến Nghìn Lẻ Một Đêm trong tác phẩm của họ hoặc chịu ảnh hưởng từ tác phẩm này. Trong số đó có Henry Fielding, Naguib Mahfouz, John Barth, Jorge Luis Borges, Salman Rushdie, Johann Wolfgang von Goethe, Walter Scott, William Makepeace Thackeray, Wilkie Collins, Elizabeth Gaskell, Charles Nodier, Gustave Flaubert, Marcel Schwob, Stendhal, Alexandre Dumas, Gérard de Nerval, Arthur de Gobineau, Aleksandr Sergeyevich Pushkin, Lev Nikolayevich Tolstoy, Hugo von Hofmannsthal, Arthur Conan Doyle, William Butler Yeats, H. G. Wells, Constantine P. Cavafy, Italo Calvino, Georges Perec, H. P. Lovecraft, Marcel Proust, A. S. Byatt và Angela Carter…

Nghìn Lẻ Một Đêm cũng là tác phẩm yêu thích và nguồn cảm hứng của nhiều tác giả Anh thời Lãng Mạn và Victoria. Theo A. S. Byatt “Trong nền thi ca Lãng Mạn Anh, Nghìn Lẻ Một Đêm là điều tuyệt vời đối nghịch với thứ trần tục, là thứ giàu tính tưởng tượng đối nghịch với sự buồn tẻ và ngày một phi lý”. Wordsworth và Tennyson còn nhắc về tập truyện trong những bài thơ của họ. Không khí của Nghìn Lẻ Một Đêm được Charles Dickens mang vào đoạn mở đầu tiểu thuyết cuối cùng The Mystery of Edwin Drood (1870).

Như đã dẫn chứng ở trên, những nhà văn nổi danh trên thế giới đã nhận định:

“Tôi chưa thể trở thành một người viết truyện giả tưởng hay truyện triết lý sâu sắc, cho đến khi tôi đọc Nghìn Lẻ Một Đêm với mười bốn lần”

(Văn hào Pháp Voltaire 1694-1778)

“Tôi nghĩ Nghìn Lẻ Một Đêm là một trong những kỳ quan của thế giới, một kỳ quan không thể đo đạc bằng không gian mà bằng thời gian... Nó là một lục địa của những giấc mơ."

(Văn hào Argentina Jorge Luis Borges 1899-1986)

“Nghìn Lẻ Một Đêm là một mạng lưới không có điểm bắt đầu và cũng không có điểm kết thúc. Nó giống như một tấm thảm bay dệt bằng ngôn ngữ, đưa người ta đi từ kỳ quan này sang kỳ quan khác mà không bao giờ muốn hạ cánh”

(Nhà triết học Đức Walter Benjamin 1892-1940)

“Nghìn Lẻ Một Đêm, cuốn sách này chứa đựng tất cả: sự nguy nga của phương Đông, phép thuật của những vị thần, và trên hết là những ham muốn, lòng tham, tình yêu và sự mưu trí rất đỗi con người”

(Nhà phê bình văn học Anh Leigh Hunt 1784-1859)

“Nghìn Lẻ Một Đêm không chỉ là một cuốn sách, nó là chiếc chìa khóa mở toang cánh cửa vào thế giới hiện thực huyền ảo của phương Đông, nơi lanh giới giữa giấc mơ và đời thực hoàn toàn bị xóa nhòa”.

(Nhà văn Colombia Gabriel García Márquez 1927-2014)

Điều đó chứng tỏ Nghìn Lẻ Một Đếm rất giá trị trong kho tàng văn chương của nhân loại.


Một số nhà văn còn viết dưới hình thức như Nghìn Lẻ Hai Đêm, chẳng hạn Théophile Gautier (La Mille Deuxième Nuit, 1842), Joseph Roth (Die Geschichte von der 1002. Nacht, 1939) và Edgar Allan Poe với tác phẩm The Thousand and Second Tale of Scheherazade (1845), trong đó mô tả thêm chuyến đi thứ tám cũng là cuối cùng của Sinbad, kết thúc bằng việc nhà vua xử tử Scheherazade. Một số tác giả hiện đại cũng chịu ảnh hưởng của Nghìn Lẻ Một Đêm là James Joyce, Marcel Proust, Jorge Luis Borges và John Barth…

Văn hào người Pháp Voltaire từng chia sẻ rằng ông không thể viết nên những tác phẩm triết lý sâu sắc nếu chưa đọc Nghìn Lẻ Một Đêm tới 14 lần. Điều đó chứng tỏ trí tưởng tượng rất phong phú.

Âm nhạc
Nghìn Lẻ Một Đêm đã ảnh hưởng đến các tác phẩm âm nhạc của: François-Adrien Boieldieu: Le calife de Bagdad (1800). Carl Maria von Weber: Abu Hassan (1811). Luigi Cherubini: Ali Baba (1833). Peter Cornelius: Der Barbier von Bagdad (1858)

Ernest Reyer: La statue (1861). Horneman (1840-1906), Aladdin (overture), 1864. Rimsky-Korsakov: Scheherazade Op. 35 (1888). Dikran Tchouhadjian (1837-1898), Zemire (1891). Henri Rabaud: Marouf, savetier du Caire (1914). Carl Nielsen, Aladdin Suite (1918-1919). Renaissance: Scheherazade and Other Stories (1975). Fikret Amirov: Arabian Nights (Ballet, 1979). Ezequiel Viñao, La Noche de las Noches (1990). Carl Davis, Aladdin. Kamelot, Nights of Arabia (1999). Sarah Brightman, Harem and Arabian Nights (2003)…

*
Trong các tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, xứ Ba Tư (Persia) được nhắc đến như một vùng đất huyền bí, xa xôi, gắn liền với nguồn gốc của Minh Giáo (Manichaeism). Những chi tiết này xuất hiện chủ yếu trong tác phẩm Ỷ Thiên Đồ Long Ký. Nguồn gốc Minh Giáo (Mani Giáo) vào Trung Nguyên. Tôn giáo cổ của Ba Tư, do Mani (216-277), sáng lập vào khoảng thế kỷ 3, vào Trung Nguyên đời nhà Đường vào đầu thế kỷ thứ 7.

Vào thời cổ đại, nhà hiền triết Zarathushtra đi truyền đạo của ông là Mazdayasna tiếng Việt gọi là Hỏa Hiên Giáo hay Bái Hỏa Giáo. Hỏa Giáo cho lửa là biểu tượng của quang minh, do đó có nghi lễ thờ lửa. Bái Hỏa Giáo đã trở thành quốc giáo của Ba Tư cổ đại, truyền vào bắc Trung Hoa đời nhà Đường, thế kỷ thứ 6 theo các đoàn lạc đà của người Ba Tư. Đến đời Tùy, họ được thành lập ở Trường An những khu vực riêng để hành đạo. Đền thờ của Bái Hỏa Giáo được xây dựng cho người “Hồ” ở kinh đô Tràng An. Đến đời Tống thì Hỏa Giáo dần mất chỗ đứng ở trung nguyên.

Nguồn gốc của Minh Giáo cũng tương tự như Bái Hỏa Giáo, Ma Ní Giáo vào thế kỷ thứ 3 sau công nguyên. Ma Ni Giáo như là tà giáo lại được nhanh chóng vượt biên giới Ba Tư lan nhanh về phía Tây, xuất hiện ở Ai Cập, Bắc Phi, Nam Tây Ban Nha trong thế kỷ thứ 3.

Khi Mani Giáo truyền vào trung nguyên. Người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương theo Mani Giáo, sau đó phát triển rộng khắp Tân Cương Thế kỷ thứ 8, đền thờ của Ma Ní Giáo xây dựng ở Trường An lấy tên là Đại Vân Quang Minh tự. Vài năm sau, một dải Thái Nguyên, Lạc Dương xuống tận Kinh, Dương, Hồng, Việt (châu) đều mọc lên các đền thờ của Ma Ní Giáo…

Giữa thế kỷ thứ 9, tộc Khiết Đan hùng bá phương bắc Trung Hoa, đánh bại cả người Duy Ngô Nhĩ lẫn người Hán và triệt hại các giáo phái đã xâm nhập từ Ba Tư.

Trong tác phẩm Kim Dung trong bối cảnh từ đời nhà Tống, Ma Ní Giáo (Minh Giáo) rút vào hoạt động bí mật với nhiều cao thủ võ công tuyệt đỉnh đối đầu võ lâm trung nguyên.

Ngoài tổng đàn Minh Giáo đặt trên đỉnh Quang Minh, dãy núi Côn Luân với Tứ Đại Pháp Vương: Kim Mao Sư Vương (Tạ Tốn), Bạch Mi Ưng Vương (Ân Thên Chính, sau đó lập ra Thiên Ưng Giáo), Tử Sam Long Vương (Đại Ỷ Ty - Kim Hoa bà bà ) và Thanh Dực Bức Vương (Vi Nhất Tiếu) gây chấn động chốn võ lâm.

Dưới chức Giáo Chủ Minh Giáo là Quang Minh tả sứ và Quang Minh hữu sứ. Minh Giáo thờ thần lửa. Thánh Hỏa Lệnh, Minh Giáo nắm giữ 6 lệnh bài Thánh Hỏa (Thánh Bái), là biểu tượng quyền lực cao nhất, khắc các môn võ công kỳ dị, tốc độ nhanh, khác hẳn võ học chính tông trung nguyên.

Đại Ỷ Ty, thánh nữ của Minh Giáo, cũng là mẹ của Tiểu Chiêu và là sư phụ của Ân Ly. Bà sang trung nguyên để tìm bí kíp Càn Khôn Đại Na Di, võ công thất lạc của Minh Giáo Ba Tư. Sau khi Giáo Chủ Dương Đỉnh Thiên mất tích, nội bộ Minh Giáo bất hoà, Ân Thiên Chính thành lập ra Thiên Ưng Giáo. Bạch Mi Ưng Vương là cha của Ân Tố Tố (vợ Trương Thúy Sơn phái Võ Đang), ông ngoại của Trương Vô Kỵ.

Tạ Tốn ngoại hiệu là Kim Mao Sư Vương (sau nầy nghĩa phụ của Vô Kỵ và Vô Kỵ cũng là giáo chủ mới của Minh Giáo về sau này. Vi Nhất Tiếu ngoại hiệu là Thanh Dực Bức Vương, đứng thứ 4 trong Tứ Đại Pháp Vương. Võ công vô cùng cổ quái và lập dị. Vi Nhất Tiếu luyện công bị tẩu hỏa nhập ma, do đó khi khai triển nội công đều phải hút máu người sống, nếu không thì sẽ bị lạnh cóng toàn thân và chết nên mang tiếng xấu “Con dơi hút máu người”. Sau này nhờ Trương Vô Kỵ dùng Cửu Dương Thần Công chữa trị, nên Vi Nhất Tiếu không còn phải hút máu người sau khi vận nội công nữa. Từ đó Vi Nhất Tiếu đã trở thành một trợ thủ đắc lực cho Trương Vô Kỵ. Nhờ tài khinh công tuyệt đỉnh thuộc hàng đệ nhất thiên hạ của mình mà nhiều phen Vi Nhất Tiếu đã giải cứu nhóm người Trương Vô Kỵ khỏi những lúc nguy nan. Ngoài ra, ông còn có võ công Hàn Băng Miên Chưởng.

Trong tiểu thuyết Ỷ Thiên Đồ Long Ký tuy hư cấu nhưng liên quan đến lịch sử là Chu Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương gia nhập Minh Giáo, đã cứu Trương Vô Kỵ một lần khi Vô Kỵ còn nhỏ (khi Vô Kỵ cùng Bất Hối đến gặp Dương Tiêu). Chu Nguyên Chương không giỏi võ công nhưng đa mưu túc trí, đã dò ra được tung tích của lục đại môn phái khi họ bị Triệu Mẫn bắt. Chu Nguyên Chương độc ác, nham hiểm nên Trương Vô Kỵ có phần ái ngại. Mặc dù vậy Chu Nguyên Chương vẫn được cất nhắc lên vị trí cao trong Minh Giáo, góp công lớn tiêu diệt nhà Nguyên, và bè đảng Trần Hữu Lượng, lập ra nhà Minh, lên ngôi hoàng đế. Sau đó ông sát hại rất nhiều công thần của mình. Vài tài liệu cho rằng Chu Nguyên Chương xuất thân từ Minh Giáo nên lập ra nhà Minh. Nhà Minh rất gian ác khi xâm chiếm nước ta, trong Bình Ngô Đại Cáo của đại công thần nhà Lê là Nguyễn Trãi đã phơi bày tội ác tầy trời!

Trong quyển Tiếu Ngạo Giang Hồ, Nhật Nguyệt Thần Giáo được xây dựng ở Hà Bắc, trên đỉnh Hắc Mộc Nhai. Với giáo chủ Nhậm Ngã Hành trong lúc tu luyện Hấp Tinh Đại Pháp đã bị tẩu hoả nhập ma, Đông Phương Bất Bại đoạt quyền, giam cầm Nhậm Ngã Hành, trở thành giáo chủ. Sau đó, Đông Phương Bất Bại luện Quỳ Hoa Bảo Điển. Hai môn công phu nầy gây tác hại vô cùng đã làm cho võ lâm trung nguyên khốn đó. Lệnh Hồ Xung trong chính phái với mối tình cùng Nhâm Doanh Doanh (con gái Nhậm Ngã Hành). Sau đó, Lệnh Hồ Xung cùng với Nhậm Ngã Hành, Hướng Vấn Thiên, Thượng Quan Long, Nhậm Doanh Doanh lên Hắc Mộc Nhai tiêu diệt Đông Phương Bất Bại, xóa bỏ Nhật Nguyệt Thần Giáo.

Từ khi đọc pho truyện Ngàn Lẻ Một Đêm cho đến khi đọc tác phẩm võ hiệp của Kim Dung, hình ảnh Ba Tư không xa lạ với độc giả miền Nam Việt Nam trước năn 1975, nay Iran đang là tâm điểm của chế độ độc tài và nguy hiểm khi xảy ra cuộc chiến với Mỹ và Israel trở thành tin tức hàng đầu mỗi ngày trên thế giới.

Little Saigon, May 28/2026

Vương Trùng Dương

Không có nhận xét nào: