Hoàng-Hạc-Lâu
Ông xưa xa nhà đi đây đi đó
Một bước lãng du đến Hoàng-Hạc-Lâu
Hoàng hôn xuống, Trường Giang mù khói sóng
Gợi nhớ quê hương, lòng dậy nỗi sầu
Trên vách lầu, ông vung tay phóng bút
Người người đọc, rồi khen mãi không thôi
Đến Lý Bạch cũng than: không viết được
Vì ông đã đề thơ ở đây rồi!!!
<!>
Đời sau, dù chưa đọc thơ Thôi Hiệu
Nhưng khi ngắm nhìn phong cảnh hữu tình
Đều giống như ông, chạnh lòng hoài niệm
"Chẳng có nơi nào đẹp sánh quê mình"
Tôi đây cũng là một người viễn xứ
Quê hương xưa đã cách biệt muôn trùng
Kinh Kha tân thời, xa lìa đất mẹ
Tôi ra đi, quên hẹn buổi tương phùng
Ông và tôi cùng phiêu lưu đất khách
Canh cánh bên lòng một khối tình quê
Ông thì đở, còn có nơi ngóng đợi
Mở rộng vòng tay chờ đón ông về
Quê hương của ông không hề thay đổi
Kể từ khi ông dấn bước phong trần
Nên cho dù sau nhiều năm xa cách
Ông vẫn còn tìm được những quen thân
Tôi mới thảm, làm cánh bèo phiêu dạt
Bến sông xưa đã mất dấu từ lâu
Khi nổi trôi đến cuối giòng luân lạc
Có muốn về cũng chẳng biết về đâu!!!
Đất nước tôi chịu bao nhiêu biến đổi
Phố thị, làng thôn đã mất tên rồi
Một quê hương tôi luyến lưu nhung nhớ
Nay chỉ còn trong ký ức mà thôi
Năm mươi năm dài, làm thân vong quốc
Có quê hương, nhưng chẳng có quê hương
Tôi và quê tôi đã thành xa lạ
Chẳng hẹn chờ nhau ở cuối con đường
Tâm sự trùng trùng nhưng không tả được
Đành mượn thơ ông trãi một niềm đau
"Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu"
Nguyễn Vĩnh Giao
(Houston 05092025)
PHỤ CHÚ (TỪ WIKIPEDIA)
Thôi Hiệu (khoảng 704–754) là thi nhân thời nhà Đường, người Biện Châu (nay là Khai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 11 (723), làm quan đến chức Tư Huân viên ngoại lang.
Lầu Hoàng Hạc là một ngôi lầu được ở tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Lầu được xem là một trong tứ đại danh lâu của Trung Quốc và là ngôi lầu nổi tiếng được các thi nhân ca tụng. Khi Thôi Hiệu đến viếng Hoàng Hạc Lâu, nhìn cảnh săc tuyệt mỹ chung quanh, ông nổi thi hứng viết ngay trên vách lầu một bài thơ mang cùng tên với ngôi lầu
Hoàng Hạc Lâu được coi là một trong những bài thơ hay nhất thời Đường. Tương truyền rằng, Lý Bạch khi đến Hoàng Hạc Lâu định làm thơ, đã thấy thơ Thôi Hiệu đề trên vách; ông đọc xong, vứt bút, ngửa mặt than rằng:
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc (Trước mắt thấy cảnh không tả được
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu...(Vì Thôi Hiệu đã đề thơ trên đầu)
Nguyên Tác Âm Tiếng Việt Dịch Nghĩa
黃鶴樓 Hoàng Hạc Lâu Lầu Hoàng Hạc
昔人已乘 Tích nhân] dĩ thừa Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,
黃鶴去, hoàng hạc khứ,
此地空餘 Thử địa không dư Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc
黃鶴樓。 Hoàng Hạc Lâu
黃鶴一去 Hoàng hạc nhất khứ Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại
不復返, bất phục phản,
白雲千載 Bạch vân thiên tải Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không
空悠悠。 không du du. không
晴川歷歷 Tình xuyên lịch lịch Mặt sông tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương
漢陽樹 Hán Dương thụ,
芳草萋萋 Phương thảo thê thê Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi.
鸚鵡洲。 Anh Vũ châu.
日暮鄉關 Nhật mộ hương quan Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
何處是, hà xứ thị
煙波江上 Yên ba giang thượng Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến buồn lòng người! 使人愁。 sử nhân sầu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét