TUYÊN CÁO 51 NĂM QUỐC HẬN – TIẾNG NÓI CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU NƯỚC, CỦA LƯƠNG TRI DÂN TỘC! -Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một dấu mốc bi thảm trong lịch sử Việt Nam: một quốc gia có chủ quyền – Việt Nam Cộng Hòa – đã bị cưỡng chiếm sau khi Hiệp định Paris 1973 bị vi phạm trắng trợn. Từ đó, vận mệnh dân tộc rơi vào tay một chế độ độc tài toàn trị, kéo dài suốt 51 năm với những hệ lụy nặng nề chưa từng có. Năm mươi mốt năm trôi qua – không phải là tiến bộ, mà là một chuỗi dài tụt lùi, khủng hoảng và bế tắc.
<!>
I. MỘT THỰC TRẠNG KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN:
1. Nhân quyền bị chà đạp có hệ thống!
Hàng ngàn người yêu nước, tiếng nói độc lập, ký giả tự do bị bắt giữ, tù đày chỉ vì dám nói lên sự thật. Quyền tự do căn bản của con người bị bóp nghẹt trong sợ hãi và kiểm soát.
2. Tôn giáo bị thao túng và đàn áp!
Tín ngưỡng không còn là quyền thiêng liêng, mà bị CS biến thành công cụ phục vụ quyền lực. Những cộng đồng tôn giáo độc lập bị khống chế, chia rẽ hoặc triệt tiêu.
3. Sự thật bị bưng bít, thông tin bị độc quyền!
Toàn bộ hệ thống 800 cơ quan truyền thông, nằm dưới sự kiểm soát tuyệt đối. Sự thật bị bóp méo, người dân bị dẫn dắt trong một môi trường thông tin một chiều, thiếu minh bạch.
4. Thể chế độc đảng toàn trị!
Không có cạnh tranh chính trị, không có tam quyền phân lập. Quyền lực tập trung tuyệt đối vào một đảng CS duy nhất. Bầu cử trở thành hình thức bịp, tư pháp không độc lập.
5. Xã hội và môi trường bị tàn phá tang hoang!
Phát triển thiếu trách nhiệm dẫn đến ô nhiễm lan rộng, tài nguyên bị khai thác cạn kiệt. Người dân đối mặt với chi phí sống tăng cao, bất ổn kinh tế, trong khi quyền lợi không được bảo vệ.
6. Tham nhũng lan tràn trong toàn hệ thống “còn Đảng, cón mình!”
Những “đại án” chỉ là phần nổi của một cơ chế lợi ích nhóm sâu rộng. Tài sản quốc gia bị thất thoát, niềm tin xã hội bị bào mòn nghiêm trọng.
7. Chủ quyền quốc gia bị đe dọa! âm mưu bán nước!
Sự lệ thuộc về kinh tế và chính trị ngày càng rõ rệt. Biển đảo bị xâm lấn, lợi ích quốc gia bị đánh đổi trong im lặng và nhượng bộ.
8. Một dân tộc bị kìm hãm trong Địa Ngục Đỏ 51 năm!
Trong khi nhiều quốc gia châu Á vươn lên mạnh mẽ với tự do và dân chủ, Việt Nam vẫn loay hoay trong vòng xoáy của kiểm soát, chia rẽ và trì trệ. Hàng triệu người đã phải trả giá bằng tù đày, ly tán, và cả sinh mạng.
II. MỘT LỜI KÊU GỌI KHÔNG THỂ TRÌ HOÃN! CÙNG CHUNG LÒNG ĐẤU TRANH!
Trước thực trạng nghiêm trọng ấy, chúng tôi long trọng tuyên bố:
-Kêu gọi cộng đồng quốc tế: Hãy hành động quyết liệt hơn để bảo vệ nhân quyền tại Việt Nam. Không thể tiếp tục im lặng trước những vi phạm có hệ thống kéo dài nhiều thập niên.
-Kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước: Hãy đoàn kết, vượt qua chia rẽ, cùng nhau xây dựng một tương lai mới cho dân tộc – nơi tự do, nhân phẩm và công lý được đặt làm nền tảng.
III. CON ĐƯỜNG DUY NHẤT: GIỜ ĐÃ ĐIỂM! CÙNG ĐỨNG LÊN!
Việt Nam chỉ có thể thật sự hồi sinh khi: Quyền con người được tôn trọng tuyệt đối. Tự do tín ngưỡng được bảo đảm. Dân chủ được thực thi thực chất. Pháp quyền độc lập được thiết lập. Một thể chế mới – của dân, do dân và vì dân – chính là con đường duy nhất để cứu nguy dân tộc.
Năm mươi mốt năm đã đủ cho một bản án của lịch sử. Năm mươi mốt năm cũng là lời thức tỉnh. Tương lai không thể tiếp tục bị trì hoãn.
CS Việt Nam phải thay đổi! – và phải trả lại quyền cho Người Dân Việt ngay từ hôm nay! “ Nào Đồng Bào ơi, cùng đứng lên!”
Sinh Hoạt 30 Tháng Tư Năm Nay, San Jose Có Gì Lạ? Xin Mời Tham Dự Một Sinh Hoạt Ý Nghĩa Nhất, Nhiều Xúc Động, Đau Thương Nhất! Chạm Vào Trái Tim! Năm Ngoái, Gần 1 Ngàn Người Tham Dự! Qua Hình Ảnh Sau:
Ý Nghĩa Tượng Thuyền Nhân San Jose:
Phỏng theo câu chuyện thật! (Nhân chứng còn sống tại San Jose): Người đàn ông dắt mẹ già, con thơ, bước lên đất tự do, sau cuộc vượt biển kinh hoàng! Ủa người phụ nữ, người vợ đâu? Đã bị hải tặc hãm hiếp nhiều lần và bỏ xác trên biển! Bằng chứng đứa con thơ. vẫn ngoái lại Biển Đông …tìm mẹ!
Phút Tưởng Niệm Gần Nửa Triệu Thuyền Nhân Việt Nam, Những Người Tị Nạn CS Việt, Đã Lấy Đại Dương Làm Mồ Chôn Trên Hành Trình Tìm Tự Do
-Sau biến cố tháng Tư 1975, một trong những cuộc di cư bi thương nhất của lịch sử nhân loại đã diễn ra. Hàng triệu người Việt Nam bỏ lại quê hương, lên những con thuyền nhỏ bé, mong manh, vượt biển tìm tự do — không phải vì mơ ước giàu sang, mà chỉ để được sống như một con người.
Những con thuyền ọp ẹp chở đầy hy vọng, nhưng cũng chở theo định mệnh. Nhiều người ra đi mà không biết mình sẽ đến đâu. Nhiều người ra đi mà biết có thể sẽ không bao giờ trở lại.
Biển Đông — từng là con đường của hy vọng — đã trở thành nghĩa trang mênh mông. Gần nửa triệu thuyền nhân đã vĩnh viễn nằm lại giữa đại dương. Không bia mộ. Không nấm mồ. Chỉ có sóng biển làm lời tiễn đưa.
Có những chiếc thuyền bị bão tố đánh chìm trong đêm tối. Có những gia đình chết khát giữa biển khơi. Có những người mẹ ôm con nhỏ, buông tay giữa sóng dữ. Có những cô gái bị hải tặc hãm hiếp, rồi ném xuống biển. Có những thi thể trôi dạt vào bờ, như những mảnh gỗ vô danh của lịch sử.
Có những buổi sáng, người ta thấy hàng trăm xác người trôi vào bờ biển Thái Lan, Nam Dương — đàn ông, phụ nữ, trẻ em — những con người chỉ mong được sống trong tự do. Những cảnh tượng ấy đau thương đến mức chính những nhân chứng cũng không đủ lời để kể lại.
Nhưng họ vẫn ra đi. Bởi vì ở lại — là tuyệt vọng. Ra đi — còn có hy vọng, dù mong manh. Họ đã chọn tự do — dù phải đánh đổi bằng mạng sống. Hành trình của thuyền nhân Việt Nam không chỉ là một biến cố lịch sử. Đó là hành trình của nước mắt. Của hy sinh. Của khát vọng tự do mạnh hơn cả cái chết.
Năm mươi mốt năm đã trôi qua. Thời gian có thể làm phai mờ nhiều ký ức, Nhưng không thể xóa nhòa nỗi đau của những con thuyền năm xưa.
Gần nửa triệu người đã nằm lại giữa lòng biển. Nhưng họ không mất đi.
Họ trở thành những ngọn sóng. Họ trở thành những lời nhắc nhở. Họ trở thành biểu tượng của khát vọng tự do bất diệt.
Xin thắp một nén hương lòng Cho những người đã không bao giờ đến được bến bờ. Xin cúi đầu tưởng niệm Những thuyền nhân Việt Nam — Những con người đã lấy đại dương làm mồ chôn, Để các thế hệ mai sau được sống trong tự do.
Biển vẫn còn đó. Sóng vẫn còn đó. Và ký ức về họ —Sẽ còn mãi trong lương tri nhân loại!
Chiều Nhạc Tưởng Niệm Truyền Thống Lần Thứ 2, 51 Năm Tháng Tư Đen, Nhớ Về Hành Trình Đau Thương Của Những “Boat People”, Gần Nửa Triệu Thuyền Nhân Đã Lấy Đại Dương Mênh Mông, Làm Mồ chôn Trên Đường Đi Tìm Tự Đo! Tại Tượng Đài Thuyền Nhân San jose! Bắt Đầu Từ 3 Giờ, Đến 9 Giờ Đêm!
*Năm ngoái, gần 1 ngàn người tham dự sinh hoạt ý nghĩa này!
*Đúng vào đêm 30 tháng tư năm nay, vào ngày Thứ Năm, 30 Tháng 4, Năm 2026, từ 3 giờ chiều, tới 9 giờ đêm! Tại Đền Thánh Tử Đạo Việt Nam, 685 Singleton Road, San Jose, Ca 95111
Chương trình tưởng niệm 51 năm “Tháng Tư Đen”.
3:00pm – 6:00pm: Chương trình văn nghệ (Trong Hội Trường) do các ca nghệ sĩ nổi tiếng nhất trong vùng và thân hữu của VTLV phụ trách. Có triển lãm nhiều hình ảnh thuyền nhân vượt biển.
6:05pm – 6:45pm: Thánh Lễ cầu nguyện cho những thuyền nhân đã chết trên đường vượt biên, vượt biển, để tìm tự do và những nạn nhân bỏ mình trong chiến tranh.
6:45pm - 8:30pm: Đốt nến cầu nguyện, do nhóm Xóm Nhỏ cùng ca sỹ Diệu Linh phụ trách.
8:00pm tới 9:00pm, mời ăn tối nhẹ, với tô bánh canh giò heo nổi tiếng! chè và nước giải khát!
Vào cửa tự do!
Bằng Giây Phút Này 61 Năm Trước!
Giữa hai làn đạn: Sự thật về làn sóng rời bỏ Đà Nẵng năm 1975
(Thúc Kháng 22/04/2026)
-"Cảnh tượng hỗn loạn khi người dân giẫm đạp lên nhau để tìm đường lên tàu.
Sáng ngày 27/3/1975, một cảnh tượng hỗn loạn đã diễn ra tại phi trường Đà Nẵng.Hàng chục ngàn người chen lấn để giành nhau lên máy bay. Phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người nhà của các quân nhân Không lực Việt Nam Cộng hòa.
Cảnh tượng bên ngoài phi trường còn hỗn loạn hơn. Báo Chính Luận cho biết: “Từ sáng sớm, người ta đã chực chờ ở ngoài cổng để được vào mua vé máy bay. Số người kéo đến phi trường Đà Nẵng hôm đó gần 100.000 người.” Phi trường hỗn loạn đến mức Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I lúc bấy giờ, Trung tướng Ngô Quang Trưởng, phải điều quân vào giữ trật tự.
Đó là cảnh tượng trong ngày đầu tiên diễn ra chiến dịch không vận đưa thường dân rời khỏi Đà Nẵng. Trong khi đó, người dân miền Bắc lại nhìn thấy một hình ảnh rất khác trên các trang báo. Khắp các mặt báo Bắc Việt đăng tải hình ảnh người dân vui mừng đón quân đội cộng sản tiến vào Đà Nẵng. Trong khi đó, việc thường dân tháo chạy bị Hà Nội gọi là hành động cưỡng ép di tản của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Một bài báo trên tờ Nhân Dân viết: “Để thực hiện âm mưu cưỡng ép đồng bào di cư, bọn Thiệu thành lập những toán ác ôn kéo nhau đi đập phá, thiêu hủy nhà cửa, dí súng vào lưng, thúc ép đồng bào phải rời bỏ thành phố, quê hương đi theo chúng.”
Chuyện gì đã xảy ra tại Đà Nẵng vào tháng Ba năm 1975? Người dân Đà Nẵng thật sự muốn rời khỏi thành phố hay bị ép buộc?
Đà Nẵng đón dân tị nạn
Tối Chủ nhật 24/3/1975, cách bờ biển Đà Nẵng khoảng hai cây số, một chiếc thuyền chở khoảng 70 người đang cố tiến vào bờ. Trên thuyền là những người dân vừa thoát khỏi Huế.
Khi chiếc thuyền còn cách bờ không xa, một cơn giông ập tới. Thuyền bị sóng đánh lật úp. Hải quân Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng đến cứu trợ, nhưng chỉ kịp cứu được 45 người, những người còn lại mất tích trong đêm.
Chiếc thuyền này không phải là duy nhất cập cảng Đà Nẵng. Khi Cố đô Huế bị quân cộng sản chiếm đóng, nhiều con thuyền đã đưa người dân đến Đà Nẵng, nơi chính quyền Sài Gòn vẫn còn kiểm soát.
Trong dòng người chạy giặc, có những người chỉ muốn tránh cảnh bị mắc kẹt giữa hai làn đạn. Nhưng cũng có không ít gia đình ra đi vì nỗi ám ảnh tích tụ từ nhiều năm trước: những câu chuyện về các vụ giết chóc trong chương trình cải cách ruộng đất ở miền Bắc, ký ức về người thân từng bị quy kết hoặc bị thủ tiêu, và những lời đồn rằng những người ở lại sẽ bị cộng sản trả thù.
Vì thế, khi hệ thống phòng thủ ở Huế sụp đổ, từng đoàn người nối nhau rời đi, tạo nên một làn sóng di tản. Theo tờ Chính Luận, đến ngày 22/3/1975 đã có khoảng 600.000 người tị nạn đổ về Đà Nẵng.
Người tị nạn chen chúc trong những lán trại mới dựng, người nằm sát người. Nhiều gia đình không có nổi một chỗ che đầu. Đồ ăn không đủ, thuốc men cũng hiếm. Thành phố Đà Nẵng có thể mất kiểm soát bất cứ lúc nào.
Di tản 1 triệu dân
Ngày 23/3, báo Chính Luận tường thuật rằng pháo thủ Bắc Việt đã nã đạn vào một đoàn xe đang chở thường dân di tản. Đợt pháo kích này nhằm chia cắt Huế với Đà Nẵng, chuẩn bị cho một cuộc tiến công vào thành phố biển.
Chỉ vài giờ sau, pháo binh Bắc Việt bao vây thành phố, bắn loạt tên lửa vào căn cứ không quân, khiến sáu người thiệt mạng và 34 người bị thương. Phần lớn thương vong là thường dân.
Quân đội miền Bắc được cho là đã huy động hơn 35.000 quân, trong khi quân đội Việt Nam Cộng hòa chỉ có khoảng 20.000 binh sĩ, chủ yếu là tổng số còn lại của ba sư đoàn.
Dù Đà Nẵng đang hứng chịu các đợt tấn công, các con tàu chở dân tị nạn vẫn tiếp tục cập bến. Để tránh cảnh tranh giành phương tiện như đã xảy ra ở Huế, chính phủ Nam Việt Nam đã khẩn trương giải tỏa tình trạng quá tải dân số tại Đà Nẵng.
Việc sơ tán bằng đường bộ là không thể, vì quân đội Bắc Việt đã cắt đứt các tuyến quốc lộ theo mọi hướng. Vì vậy, chính phủ Việt Nam Cộng hòa mở nhiều đợt di tản bằng đường không và đường thủy.
Ngày 26/3, Nam Việt Nam và Mỹ triển khai chiến dịch đưa 1 triệu dân rời khỏi Đà Nẵng. Báo chí quốc tế gọi đây là chiến dịch di tản lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam.
Hơn 1 triệu người được chia thành các nhóm nhỏ và đưa đến nhiều nơi khác nhau. Trước mắt, 350.000 người sẽ đến Cam Ranh. Mọi chi phí được trừ vào khoản viện trợ của Mỹ cho chính phủ miền Nam.
Bộ Xã hội Việt Nam Cộng hòa và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tổ chức các đợt di tản kéo dài sáu ngày, mỗi ngày có 25 chuyến bay đưa người dân đến các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Ngoài đường hàng không, người dân cũng tập trung ra các bãi biển để chờ tàu.
Ngày 28/3, tại bãi biển Tiên Sa, người dân nằm ngổn ngang. Có người đã đến từ nhiều ngày trước để chờ tàu. Gần 10 giờ đêm hôm đó, quân Bắc Việt pháo kích vào bến tàu để ngăn dòng người rời đi.
Một nhân chứng kể lại: “Cảnh mẹ lạc con, con lạc mẹ, cùng tiếng khóc, tiếng kêu cứu hòa trong tiếng nổ chát chúa, diễn ra đến mức tưởng không còn gì thương tâm hơn. Quanh tôi, nhiều đồng bào đã gục ngã. Họ tìm được sự tự do vĩnh cửu ở bên kia thế giới.”
Đợt pháo kích kéo dài gần hai tiếng và kết thúc vào lúc nửa đêm. Dù vậy, đến ngày hôm sau, người ta vẫn tụ tập ở bến tàu. Chuyến hải vận lớn nhất do một thương thuyền Mỹ thực hiện, đưa 10.000 thường dân đến Nha Trang.
Lúc này, Bộ Tư lệnh Việt Nam Cộng hòa đã trưng dụng tất cả tàu của hải quân và tư nhân để đưa thường dân rời khỏi Đà Nẵng. Tòa Thị chính Đà Nẵng ra thông cáo rằng chính phủ sẽ cung cấp phương tiện cho bất cứ ai muốn ra đi.
Đà Nẵng thất thủ
Ngày 29/3, một chiếc Boeing 727 đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Khi đó, người ta phát hiện dưới gầm máy bay là xác một binh sĩ Nam Việt Nam đang lắc lư, trên vai vẫn còn mang khẩu súng.
Bên trong khoang, hơn 200 lính Nam Việt Nam chen chúc cùng vài thường dân. Một số bị dồn vào khoang hành lý, số khác liều mình chui vào khoang bánh đáp. Sàn máy bay được cho là đầy máu. Đây là chuyến bay cuối cùng rời Đà Nẵng.
Chiều hôm đó, xe tăng quân đội Bắc Việt xuất hiện trên đường Độc Lập, ngay trung tâm thành phố. Tuy nhiên, đường phố lúc này gần như vắng hẳn.
Đến 6 giờ chiều, không còn ghi nhận cuộc giao tranh đáng kể nào. Trung tướng Ngô Quang Trưởng cùng bộ tham mưu đã rời tổng hành dinh sau các đợt pháo kích dữ dội.
Bắc Việt ngăn thường dân di tản
Phía Bắc Việt cho biết phương án tiến công của họ là làm tan rã quân địch tại chỗ, đồng thời bảo vệ tài sản, tính mạng người dân, tổ chức tiếp tế, cứu trợ, và ngăn cản mọi nỗ lực di tản thường dân. Thực tế có vẻ không diễn ra đúng như vậy.
Trong ngày Đà Nẵng thất thủ, một con tàu đang tìm cách đón người dân thì bị một nhóm người tràn lên khống chế. Những người này được cho là mặc quân phục thủy quân lục chiến. Một bản tin của báo Tiền Tuyến cho biết, từ vài ngày trước đó, đặc công cộng sản đã trà trộn vào Đà Nẵng, cải trang thành lính thủy quân lục chiến.
Người tị nạn kể lại rằng đã xảy ra cướp bóc, hãm hiếp và giết chóc. Một số người bị giết ngay trên tàu.
Mặt khác, pháo binh Bắc Việt cũng nã pháo và tên lửa vào các xà lan, tàu nhỏ đang chở thường dân ra các tàu lớn của Mỹ. Họ cảnh báo rằng không tàu thuyền hay máy bay nào được phép tiếp cận Đà Nẵng nếu chưa có sự cho phép.
Tại miền Bắc, tin chiến thắng tràn ngập các mặt báo. Một bài trên báo Nhân Dân viết: “Pháo binh Quân giải phóng bắn phá dữ dội, khống chế hoàn toàn các sân bay, bến tàu của sông Hàn.”
Một nhân chứng cho biết các đợt pháo kích nhằm ngăn người dân di tản. Bắc Việt lên án nỗ lực di tản của chính quyền Sài Gòn, cho rằng đó là hành động cưỡng ép thường dân đi theo để làm lá chắn cho quân lính rút lui.
Nỗ lực di tản cuối cùng
Một ngày sau khi Đà Nẵng thất thủ, Đài Phát thanh Sài Gòn liên tục kêu gọi người dân đóng thuyền để chạy ra biển.
Lúc này, ngoài khơi Đà Nẵng có hơn 20 tàu đang neo đậu, gồm tàu của Mỹ và nhiều quốc gia đồng minh như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Thụy Sĩ, túc trực để cứu người.
Tuy nhiên, các tàu này đã phải rút lui sau khi Bắc Việt bắn 840 quả lựu đạn vào những người đang cố chèo thuyền ra khơi. Dù vậy, ba tàu Mỹ vẫn cứu được 20.000 người tị nạn.
Chiếc tàu cuối cùng rời Đà Nẵng là tàu của Hoa Kỳ, sau khi nhận được lời đe dọa rằng đặc công sẽ đánh chìm tàu.
Ngày 1/4/1975, chính phủ Việt Nam Cộng hòa gửi điện văn đến Liên Hiệp Quốc, thỉnh cầu can thiệp và kêu gọi một lệnh ngừng bắn tạm thời để di tản thường dân.
Tuy nhiên, phía Bắc Việt từ chối và tuyên bố sẽ nã đạn vào bất cứ tàu nào tiến vào Đà Nẵng mà không xin phép.
Đường đến Cam Ranh
Ngày 1/4/1975, một chiếc thuyền chở người tị nạn từ Đà Nẵng cập bờ vịnh Cam Ranh.
Một người lính miền Nam bước xuống tàu trong trạng thái thất thần, ôm trên tay một vật được quấn trong mảnh quân phục. Đó là thi thể đứa con trai 4 tuổi của ông, đã chết vì nắng nóng và thiếu nước trong bốn ngày lênh đênh trên biển.
Những ngày sau đó, người tị nạn đến vịnh Cam Ranh bằng đủ loại thuyền. Có chiếc thuyền đánh cá chỉ chở 20 người, có tàu hải quân nhồi nhét hàng nghìn người.
Tất cả trải qua những điều kinh hoàng của chiến sự. Với những người ở lại, sự kinh hoàng chỉ mới bắt đầu.
Nhân Tưởng Niệm Quốc Hận thứ 51, thử bàn về việc giữ vững tinh thần chống Cộng của người Việt hải ngoại ảnh hưởng như thế nào đến việc thúc đẩy một sự chuyển hóa tại VN?
(Nguyễn Bá Long)
-Tháng Tư Đen hay là tháng Quốc Hận vẫn đeo đuổi người Việt hải ngoại trong 51 năm nay (30/4/1975 - 30/4/2026). Vào tuần cuối của tháng 4-2026, khắp nơi tại hải ngoại người Việt sẽ tổ chức Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận để đánh dấu một biến cố đã gây sự tha hương cho hàng triệu người Việt, đã phải rời bỏ quê hương sau tháng 4-1975 để tị nạn tại khắp các nơi trên thế giới.
Đầu tiên họ đến các Đảo thuộc Đông Nam Á, ở những nước như Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương, Phi Luật Tân, với những cái tên khó quên như Đảo Galang, Si Kiew, Panat Nikhom, Pulau Bidong v.v. Sau đó họ được các nước Tây Phương như Mỹ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản v.v. cho định cư, sau khi phỏng vấn và sàng lọc (thường từ một đến 3 năm). Đây là thành phần chủ lực của người Việt hải ngoại. Họ thường gồm cựu quân nhân, công chức, sĩ quan QLVNCH, chính trị gia, giáo sư, luật sư, tu sĩ v.v. Tại sao họ phải tìm mọi cách thoát khỏi miền Nam Việt Nam? Đơn giản chỉ là vì họ nghịch lại ý thức hệ với chế độ CS Bắc Việt. Nếu họ ở lại VN sau 1975, họ sẽ rất khó sống nếu không bị tập trung cải tạo hoặc bị đàn áp. Thành ra con đường tốt nhất cho họ và gia đình là thoát khỏi VN, phần lớn bằng cách gọi là “Thuyền Nhân”, tức là những người “Vượt Biển” tới các Đảo ở Đông Nam Á (nói trên), và được Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc giúp đỡ cho vào Danh Sách người tị nạn, và được các nước Tây Phương phỏng vấn cho đi định cư tại các nước như Mỹ, Canada, Úc, Pháp, Đức, Na Uy, Thụy Điển, Hòa Lan v.v.
Với quá khứ là cựu Quân Nhân, Sĩ Quan QLVNCH, Chính Trị Gia, Dân Biểu, Nghị Sĩ, Công Chức VNCH, họ là thành phần chống Cộng; và trong lúc cao trào chống Cộng lên mạnh trên thế giới, họ được các chính phủ Tây phương ưu ái cho đi định cư; và lớp người này hiện bây giờ đã lên đến 3-4 triệu người trên khắp các nước. Tập hợp lại thành một tập thể chống Cộng của người Việt (hải ngoại), làm nền cho một thế chính trị rất nguy hại cho CSVN, vì họ thường chống lại mọi hoạt động của CSVN tại các nước, và làm nhục cho mọi phái đoàn CSVN khi phải giao tiếp với các chính phủ Tây phương qua các cuộc biểu tình của họ lên án và đả đảo CSVN trên khắp thế giới.
Công cuộc chống đối của người Việt hải ngoại đối với CSVN có giảm dần qua thời gian hay không qua chính sách Hòa Giải Hòa Hợp của Cộng Sản và các miếng mồi CS đưa ra để dụ các con mồi (là người Việt hải ngoại) trở về VN du lịch, thăm thú, cũng như là giúp đỡ thân nhân đang còn kẹt lại trong nước? Có người Việt hải ngoại cũng được CSVN dụ cho về phục vụ trong guồng máy CSVN trong nước, hoặc đầu tư, mở doanh nghiệp, làm ăn buôn bán v.v. Thực sự, con số người Việt hải ngoại chấp nhận ân huệ của CSVN không nhiều, và ngay tầng lớp nghệ sĩ (ca sĩ, diễn viên v.v.), một video luân lưu trên Internet đã cho thấy có 20 nghệ sĩ gạo cội (như Hùng Cường, Thành Được, Mai Lệ Huyền v.v.) đã từ chối trở về VN biểu diễn hoặc thăm quê hương (dĩ nhiên, cũng có một vài ca kịch sĩ bán mình cho VC vì tiền). Nói chung, trào lưu chống CS của người Việt hải ngoại vẫn rất mạnh, dù năm nay 2026 đã là 51 năm Tưởng Niệm Quốc Hận rồi. Bằng chứng là các Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ ngập trời vẫn được tổ chức khắp nơi tại hải ngoại cho đến bây giờ. Và việc các nhóm Hòa Hợp Hòa Giải đưa ra các danh xưng để thay thế cho “Ngày Quốc Hận” (như là Ngày Thuyền Nhân, Ngày Hành Trình cho Tự Do v.v.) vẫn bị người Việt hải ngoại bác bỏ. QUỐC HẬN là QUỐC HẬN! Không thể nào mù mờ dùng một danh xưng khác (dù nghe rất bóng bẩy, hay ho) để thay thế cho ngày QUỐC HẬN. Ngày 30-4-1975 là một ngày không thể nào quên được đối với người Việt, vì đây là ngày CSBV cưỡng chiếm Miền Nam, đem toàn bộ Đất Nước VN đặt dưới ách CS. Từ đó một số lớn dân chúng Miền Nam (đặc biệt công chức, sĩ quan, quân nhân, cán bộ chính trị VNCH) đã bị tập trung cải tạo, bị đày đọa trong các trại tập trung, có người bị tù đày kéo dài đến hàng chục năm đến thân tàn ma dại trước khi được thả ra, và gia đình họ đã bị trù dập, khổ sở như thế nào dưới chế độ CS.
Trùm khủng bố Nguyễn Văn Lém tự Lốp
(Tài liệu sưu tầm Internet)
-Trong hơn năm thập niên qua, cá nhân tôi và một số thân hữu Việt Nam cũng như Đồng Minh đã để ý theo dõi các bài viết về việc tên trùm khủng bố Nguyễn Văn Lém bí danh
Lốp bị Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan xử tử. Những bài viết này nêu ra một số chi tiết khá đúng nhưng lại thiếu sót như nhau. Có vẻ như những người viết này đã viết lại của nhau nên không thấy thêm những điều cần biết. Vậy nên chúng tôi viết bài này với thêm một số sự kiện mà tất cả mọi người trong chúng ta đều nên biết.
Trước hết, chúng ta cần biết rằng
Lốpp là một thượng uý của đơn vị đặc công thành F-100. Đây là đơn vị khủng bố đầu tiên được Liên Xô huấn luyện và áp dụng chiến thuật của Liên Xô thường áp dụng trong thành phố. F-100 đã thực hiện chiến thuật này lần đầu tiên tại Nhà Hàng Mỹ Cảnh ngày 25 tháng Sáu 1965.
Tại các nước Âu Châu, nhất là tại Anh, quân khủng bố của Nga thường cố gắng giết được càng nhiều người càng tốt, để gây khó khăn cho chính phủ. Tại các thành phố lớn của Anh lúc bấy giờ, những người bỏ sữa làm việc rất sớm. Họ bỏ sữa trước cửa nhà khách hàng trước khi trời sáng. Họ vừa đi khỏi thì quân khủng bố Nga đến đặt chất nổ.
Khoảng 6 giờ sáng, khi trên đường đã bắt đầu có người đi làm sớm thì một số cư dân cũng đã thức dậy. Họ mở cửa ra để lấy sữa thì trái bom thứ nhất phát nổ. Khoảng 15 phút sau, khi nhân viên cứu hoả và cứu thương đã đến nơi, đang bận rộn thì trái bom thứ hai phát nổ.
Vì mục đích của chúng là gây thương vong càng nhiều càng tốt chứ không phải chỉ giết chủ nhà nên trái bom thứ hai bao giờ cũng nặng ký hơn, và sát hại nhiều hơn. Chính vì thế mà kể từ đó các nhân viên cứu hoả và cứu thương cũng như cảnh sát Anh được dặn dò rất kỹ càng rằng họ phải cẩn thận thay vì xông vội vào cứu nạn nhân. Họ phải quan sát kỹ càng chung quanh xem có dấu hiệu gì nguy hiểm nay là không. Họ cần biết rằng một khi chính họ cũng trở thành nạn nhân thì họ không thể cứu giúp ai khác. Đó cũng là lý do tại sao kể từ đó khi học về cấp cứu, chúng ta được hướng dẫn về nguyên tắc DRABC.
Tại Nhà Hàng Mỹ Cảnh, bọn đặc công khủng bố F-100 cũng làm tương tự. Trái bom thứ nhất phát nổ trong nhà hàng. Đúng 15 phút sau, giữa lúc nhân viên cứu hoả, cứu thương, an ninh và cả thường dân tụ tập tại đây thì trái bom thứ hai đặt trong giỏ xách và treo trên một chiếc xe đạp dựng ở lề đường phát nổ.
Có tổng cộng 43 người thiệt mạng trong vụ này.
Tội ác của Lốp và đồng bọn.
Ngay trong đêm Mồng Một Tết, tại khu vực Gò Vấp, cộng quân tấn công Trại Cổ Loa và Trại Nỏ Thần của Pháo Binh và Trại Phù Đổng của Thiết Giáp.
Khi tấn công Pháo Binh, địch đã bị giáng cho một đòn rất nặng. Tiểu Đoàn 61 Pháo Binh đã từ Trại Nỏ Thần dùng đại bác 105 trực xạ sang cả Trại Cổ Loa khiến địch quân tại hai nơi này chết như rạ.
Tuy nhiên, tại Trại Phù Đổng thì tình hình khác hẳn. Vì chỉ có khoảng 40 quân nhân hiện diện lại không phòng bị nên chúng xâm nhập dễ dàng. Nạn nhân đầu tiên bị chúng tàn sát là Trung Tá Huỳnh Ngọc Diệp và gia đình, bị chúng bắn chết hết tất cả ngay tại chỗ.
Sau đó, chúng kéo sang nhà Trung Tá Nguyễn Tuấn.
Tấn công Trại Phù Đổng gồm có ba thành phần. Thứ nhất là một đại đội của đơn vị đặc công F-100 do tên Lốp chỉ huy. Thành phần thứ hai là một đơn vị tác chiến. Thành phần thứ ba là một đơn vị thuộc Tiểu Đoàn 2 Cơ Giới R. Theo như kế hoạch thì chúng sẽ đánh cướp những chiến xa trong trại này để về tấn công Sài Gòn. Thế nhưng Trung Tá Tuấn nhất định không chỉ cho chúng các mã số để điều khiển chiến xa hầu hết còn mới ở trong trại. Ở đây, chúng ta cũng cần biết rõ thêm về mã số trên những chiếc chiến xa M-41.
Chiến xa M-41 tuy được sản xuất lần đầu vào năm 1951 nhưng những chiếc đem sang Việt Nam vào đầu năm 1965 thuộc Model M-41A3 với nhiều cải tiến. Pháo tháp của nó quay bằng điện thay vì thuỷ điều, động cơ của nó có hệ thống phun xăng (Mechanical Fuel Injection) thay vì bộ chế hoà khí (Carburettor). Không biết cách thức thì không thể nào nổ máy được và không biết không làm theo như đã cài đặt thì cũng không thể nào cho pháo tháp xoay chuyển phù hợp với tầm tác xạ của khẩu đại bác được. Vì thế nên tên Lốp và đồng bọn ép Trung Tá Tuấn chỉ dẫn cách sử dụng nhưng ông nhất mực từ chối. Chúng căm hận giết chết cả nhà, kể cả thân mẫu Trung Tá Tuấn đã gần 80 tuổi. Người duy nhất trong gia đình thoát chết là một bé trai và một bé gái 10 tuổi đêm đó ngủ ở nhà một người khác.
Sau khi tàn sát gia đình Trung Tá Tuấn, Lốp cùng đồng bọn đem tất cả những người còn lại ra góc trại và bắn chết hết. Sau đó, bọn chúng chạy về Chợ Lớn.
Từ lúc đó cho đến khi bị bắt, Lốp đã tàn sát gần 40 người khác nữa mà cũng hầu hết là phụ nữ và trẻ em. Theo phóng viên Neil Davis của Úc (đã qua đời năm 1992) thì Lốp đã tự tay giết chết trọn gia đình của một sĩ quan cảnh sát. Trong số này, có một đứa bé mà Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan nhận đỡ đầu.
Bây giờ, chúng ta xem đến việc Tướng Loan hành quyết tên Lốp.
Năm 1965, sau khi Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu nhậm chức Chủ Tịch Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ nhậm chức Chủ Tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương, Việt Nam Cộng Hoà chúng ta ban hành thiết quân luật để đối phó với tình hình chiến sự và an ninh trên toàn quốc. Chúng tôi xin kể ra một vài thí dụ để các bạn trẻ hiểu thêm về án tử hình hoặc quyền bắn chết người trong một số trường hợp của quân luật của Việt Nam Cộng Hoà chúng ta lúc bấy giờ.
Trong lúc biến loạn, nếu có một kẻ len lỏi vào đám đông để giết người hoặc điềm chỉ cho kẻ khác giết người, kẻ đó sẽ bị bắn chết tại chỗ. Lốp nằm trong trường hợp này.
Về án tử hình, tất cả các vị tiểu khu trưởng và chỉ huy mặt trận đều có quyền ban án tử hình và cho hành quyết ngay lập tức những trường hợp làm nội tuyến, đào ngũ sang địch hay quân phiến loạn, địch quân giả dạng quân ta hoặc giả dạng thường dân để cướp của, giết người, hãm hiếp, khủng bố. Như thế, Tướng Loan hành quyết tên Lớp theo như nhận xét của chúng ta là chính đáng. Tuy nhiên, nó không phải như thế.
Ngay sau khi cộng quân tấn công vào đô thành Sài Gòn, bên ta đã phản công ngay lập tức. Những vị chịu trách nhiệm các mặt trận gồm có:
- Thiếu Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù;
- Đại Tá Nguyễn Thành Yên, Tư Lệnh Phó Thuỷ Quân Lục Chiến;
- Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia;
- Đại Tá Trần Văn Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân;
- Chuẩn Tướng Ngô Dzu, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Tất cả các vị này đều có quyền ban án tử hình tại chỗ. Cái kẹt cho Tướng Loan là ông đã quên mất rằng ban án tử hình khác hẳn với việc thi hành án tử hình. Vì thế, nói về pháp lý, Tướng Loan đã không làm sai. Nói về mặt kỹ thuật, Tướng Loan ở vào thế kẹt.
Điều khốn nạn ở đây là những kẻ tường thuật sự việc đã nói sai, viết sai, vì chúng không biết rõ sự thật, hoặc vì chúng bất lương. Chính tôi đã thấy khá nhiều phóng viên ngoại quốc khi tường thuật đã nói hoặc viết rằng Lớp chỉ là một kẻ bị tình nghi là Việt Cộng.
Dẫu sao, chỉ những người trong cuộc mới hiểu được cái đau của nạn nhân, cái khó khăn của một quân đội phải đối phó với quân thù bất lương và hèn hạ. Vậy nên trong chúng ta có nhiều người đã nói rằng nếu họ ở vào trường hợp của Tướng Loan, tên Lớp sẽ bị ít nhất ba viên vào giữa mặt.
Năm 2002, anh em chúng tôi có gặp gỡ thân mật với Thiếu Tướng Lê Minh Đảo. Ông kể lại rằng có lần ông nói với Tướng Loan: Tôi như anh, tôi bắn bể sọ thêm một thằng nữa để răn đe cộng quân, đàng nào thì bọn báo chí bất lương cũng đã nói rồi, cho nó nói luôn.
Hình đính kèm là tang lễ Trung Tá Nguyễn Tuấn. Quan tài của ông có phủ quốc kỳ, hai bên là quan tài của thân mẫu và hiền thê. Các quan tài nhỏ là của các con ông.
Mậu Thân: Bí mật đen tối nhất của bên thắng cuộc
(Ghi lại từ podcast của LKTC)
-Vào tháng 3 năm 1968, mặt đất ở một số nơi tại Huế không còn bình thường như trước. Có vẻ như chúng vừa được đào lên rồi lấp lại. Chính quyền đã cho khai quật những khu đất bất thường này để xem bên dưới thật sự có gì. Một khu đất được khai quật đã hé lộ cảnh tượng kinh hoàng với 95 xác thường dân nằm lẫn lộn trong một hố chôn tập thể. Một nhân chứng cho biết đã chứng kiến những nạn nhân này bị buộc phải đào hố và van xin du kích tha mạng trước khi bị hành quyết. Vì sao Bắc Việt và Việt Cộng tuyên bố giải phóng người dân miền Nam khỏi đế quốc Mỹ và Việt Nam Cộng hòa mà lại thảm sát thường dân? Thường dân tại Huế, Sài Gòn và nhiều nơi khác đã trải qua những gì trong cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân của Bắc Việt? Đây chính là bí mật đen tối nhất của bên thắng cuộc.
Khoảng 2 giờ sáng thứ Tư, ngày 31 tháng 1 năm 1968, khi người dân vẫn còn chìm trong giấc ngủ của đêm mùng 1 rạng sáng mùng 2 Tết Nguyên đán, hai nhóm người đã sử dụng giấy thông hành giả để di chuyển trên các đường phố Sài Gòn. Điểm đến của họ là tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Một nhóm được cho là đi taxi đến gần tòa đại sứ, trong khi nhóm còn lại di chuyển bằng xuồng máy trên sông Sài Gòn, sau đó lên bờ và đi bộ đến mục tiêu.
Người ta cho rằng khi một nhóm bắt đầu cài cúc áo sơ mi trên cùng và nhóm kia kéo băng tay màu đỏ lên áo bà ba đen để làm dấu hiệu nhận diện đồng đội, thì một loạt đạn pháo và tên lửa đã dội thẳng vào tòa đại sứ Mỹ. Nhân lúc lính gác cúi thấp người để tránh pháo kích, quân cộng sản đã chạy đến tòa đại sứ và đặt thuốc nổ. Sau một tiếng nổ rền vang, bức tường rào bê tông cốt thép dày bị thổi thủng một lỗ lớn.
Tòa đại sứ Mỹ được khánh thành vào tháng 9 năm 1967, được cho là có an ninh nghiêm ngặt nhất tại Sài Gòn. Tòa nhà tám tầng này có cửa sổ lắp kính plexy chống vỡ, tường bê tông cốt thép và hệ lam che nắng bằng đất nung được thiết kế để chống các vụ nổ. Vào lúc 2 giờ 53 phút, tòa đại sứ sáng đèn. Trung sĩ Bronel Charil Harper chạy đến đóng cánh cửa chính nặng nề thì một quả đạn pháo bay tới, hất anh văng xuống sàn bên ngoài tòa nhà.
Trong khi một nhóm Việt Cộng tìm vị trí đặt thuốc nổ và lối xâm nhập vào tòa nhà, nhóm còn lại cố gắng cầm chân lực lượng tiếp viện Mỹ bằng lựu đạn và súng trường. Từ phía bên kia bức tường, quân cảnh Mỹ nã súng từ một chung cư vào khuôn viên tòa đại sứ, cố gắng hạ gục các lính du kích. Chỉ huy đơn vị bảo vệ Thủy quân Lục chiến Mỹ quyết định không xông vào khi trời còn tối vì nguy cơ bị phục kích. Qua radio, những người bị kẹt bên trong cho biết họ sẽ cố cầm cự đến bình minh nhưng cần đưa người bị thương đến bệnh viện.
Bên trong tòa đại sứ Mỹ, một Thủy Quân Lục Chiến đã chết, bảy người khác bị thương, hai tài xế trúng đạn. Lúc này, lính du kích cộng sản biết rằng họ có thể sẽ chết khi trời sáng, nhưng từ giờ đến lúc đó, nhiệm vụ của họ là giết càng nhiều người Mỹ càng tốt.
"Việc sử dụng thường dân làm lá chắn là chiến thuật được Bắc Việt áp dụng trong chiến tranh. Theo đó, họ tấn công dồn dập bằng pháo kích vào khu dân cư rồi đưa quân đến chiếm các vị trí thuận lợi. Mỹ và Nam Việt Nam không thể ném bom vì thường dân vẫn còn trong khu vực. Khi thường dân rời đi, đối phương đã kịp thiết lập hệ thống phòng thủ vững chắc. Chiến thuật này được cho là đã được sử dụng trong cuộc tổng tiến công Mậu Thân".
Vào khoảng 3 giờ sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968, trong lúc tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn bị tấn công, một loạt pháo kích đã dội xuống nhiều mục tiêu tại Huế. Bắc Việt và Việt Cộng xâm nhập thành phố từ cả phía Bắc lẫn phía Nam. Đến sáng hôm sau, họ đã chiếm được khoảng hai phần ba thành phố. Nhiều trụ sở chính quyền rơi vào tay Việt Cộng và khoảng 2.000 tù nhân tại nhà tù Huế được giải thoát.
Trong các trận chiến đô thị, nhiệm vụ đầu tiên của Mỹ và Nam Việt Nam thường là sơ tán người bị thương, người chết và thường dân khỏi khu vực giao tranh trước khi sử dụng hỏa lực. Ngày 2 tháng 2, Thủy quân Lục chiến Mỹ tiến từ Phú Bài đã liên kết với Sư đoàn Bộ binh số 1 của Nam Việt Nam tại Huế. Một trực thăng chở đạn đáp xuống bãi cỏ của Đại học Huế trên đường Lê Lợi ngày nay. Sau khi dỡ hàng, trực thăng đưa người bị thương rời khỏi thành phố.
Ở phía bên kia sông, lính bắn tỉa Bắc Việt phục kích từ các tòa nhà, ngắm xuống đường nơi vẫn còn nhiều thường dân. Trong khu vực này, 39 binh sĩ Mỹ bị kẹt trong một tòa nhà. Hạ sĩ Tim Rigger, 21 tuổi, đến từ Baltimore, bang Maryland, nói rằng họ quen chiến đấu trên đồng ruộng và đồi núi, nơi có thể nhận hỗ trợ từ không quân và pháo binh. Nhưng lúc này, những hỗ trợ đó không được sử dụng vì còn thường dân.
Dù muốn hay không, nhiệm vụ của Thủy quân Lục chiến Mỹ là vượt sông, tiến từng bước để loại bỏ các tay bắn tỉa Bắc Việt.
Tại Sài Gòn vào sáng mùng 2 Tết, tiếng pháo đã được thay bằng tiếng còi xe Quân Cảnh và xe cứu thương dồn dập. Mọi người nhận ra rằng kẻ thù đang ở ngay xung quanh. Quân Cảnh Mỹ cũng đối mặt với tình huống tương tự, họ không thể gọi không quân hay pháo binh đánh vào khu vực tòa đại sứ. May mắn là lính du kích vẫn chưa thể xâm nhập vào bên trong tòa nhà.
Khoảng 20 lính Mỹ được lệnh di chuyển dọc theo tường rào để mở cổng chính và tiêu diệt đối phương. Khi cổng mở, họ bắt đầu giao chiến trực diện. Một lính du kích bị bắn khi đang ném lựu đạn. Sau loạt súng máy của Việt Cộng, lính Mỹ phản công bằng súng trường tự động và lựu đạn, từng bước tiêu diệt toàn bộ lực lượng đối phương.
Khoảng 8 giờ sáng, lính Mỹ kiểm soát được bãi cỏ rộng 9 mét và chuẩn bị tiến vào tòa nhà. Một trực thăng thả bảy lính dù xuống nóc tòa đại sứ. Họ di chuyển xuống sáu tầng mà không gặp kháng cự. Theo thống kê ban đầu, có 19 lính Việt Cộng thiệt mạng trong khuôn viên và trên sân thượng. Ít nhất 5 quân cảnh Mỹ và 2 lính Thủy quân Lục chiến đã tử vong.
Ngày 31 tháng 1 năm 1968, không chỉ tòa đại sứ Mỹ mà toàn bộ Sài Gòn đều bị tấn công bằng súng trường, súng máy và súng cối. Đến chiều, lính bắn tỉa Việt Cộng vẫn bắn vào Dinh Độc Lập. Tại sân bay Tân Sơn Nhất, giao tranh ác liệt diễn ra suốt cả ngày khi khoảng 100 lính Việt Cộng xuyên thủng phòng tuyến.
Nhiều cuộc giao tranh nhỏ lẻ xảy ra gần trường đua Phú Thọ và khu vực phía Bắc quanh sân golf của Mỹ và Bộ Tổng Tham mưu Liên quân. Cả hai khu vực đều bị bao vây nhưng chưa bị chiếm. Khoảng 10 giờ 30 tối, một kho nhiên liệu ở ngoại ô Sài Gòn phát nổ, tạo ra quả cầu lửa khổng lồ có thể nhìn thấy từ xa.
Sau bốn ngày giao tranh, khoảng 4.000 lính Việt Cộng vẫn giữ một số vị trí gần Tân Sơn Nhất và Gò Vấp. Giao tranh tiếp diễn ở Chợ Lớn. Máy bay Mỹ đã ném bom Sài Gòn 32 lần trong ngày 3 tháng 2. Ở ngoại ô Đông Bắc, trực thăng Mỹ đánh chìm 22 xuồng chở khoảng 400 lính Việt Cộng.
Ngày 5 tháng 2, hãng tin AP cho biết khoảng 400 lính Việt Cộng tấn công một đồn cảnh sát tại Sài Gòn. Sau 90 phút giao tranh, đồn bị thiêu rụi và cảnh sát rút lui vì khu vực quá đông dân cư.
Tại Huế, thành phố bị mất điện. Thủy quân Lục chiến Mỹ chiến đấu từng nhà, trong khi quân Nam Việt Nam tấn công vào thành nội. Khoảng 800 quân Bắc Việt và Việt Cộng chiếm giữ khu vực này. Pháo binh Mỹ không bắn vào vì lo ngại phá hủy di tích. Đến Chủ Nhật, máy bay Mỹ mới ném bom vào tường thành nhưng không đạt hiệu quả như mong muốn.
Tàu tuần dương của Hạm đội 7 từ Biển Đông bắt đầu bắn phá các vị trí của đối phương. Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tiến được khoảng 450 mét ở phía Nam thành nội. Quân Nam Việt Nam kiểm soát phía Bắc, nhưng khoảng 1.200 quân đối phương vẫn giữ phần còn lại và quyết chiến.
Đến ngày 6 tháng 2, Thủy quân Lục chiến Mỹ tái chiếm trụ sở chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại Huế. Ngày 9 tháng 2, tỉnh trưởng Huế, Trung tá Phạm Văn Khoa, cho biết Việt Cộng đã hành quyết 300 thường dân, bao gồm quan chức và kỹ thuật viên.
Một số sinh viên bị cáo buộc đã chỉ điểm những gia đình làm việc cho Mỹ hoặc chính quyền Sài Gòn. Một sĩ quan Nam Việt Nam bị lôi khỏi nhà và xử tử. Tuy nhiên, nhiều gia đình đã che giấu cả người Mỹ và người Việt bị truy đuổi.
Nguyễn Thanh, một sinh viên 19 tuổi, kể lại rằng anh bị đưa đi tham dự một cuộc họp. Tại đó, một chính ủy tên Ngọc nói rằng cách mạng đã thắng lợi và yêu cầu thanh niên tham gia. Khi được hỏi lập trường, Nguyễn Thanh trả lời rằng anh mong muốn hòa bình cho cả hai miền. Quan điểm này bị chế giễu.
Một sinh viên khác cho biết khoảng 100 thanh niên được yêu cầu thành lập chính quyền tự trị nhưng họ tìm cách trì hoãn. Nguyễn Thanh sau đó được giao nhiệm vụ tổng hợp tin tức, nhưng các bản tin bị chỉnh sửa để phóng đại thiệt hại của Mỹ và Nam Việt Nam nhằm tạo cảm giác chiến thắng.
Theo hãng tin UPI, một số thường dân bị ép cầm vũ khí bắn vào máy bay Mỹ. Những người từ chối bị hành quyết và chôn trong các hố tập thể.
Đến ngày thứ 17 của trận chiến, một chỉ huy lính dù Nam Việt Nam cho biết một số lính Việt Cộng bị xích vào vũ khí hạng nặng để ngăn bỏ chạy. Cùng ngày, lực lượng Mỹ và Nam Việt Nam rút lui để máy bay ném bom phá tường thành.
Chuẩn tướng Foster C. LaHue nói rằng khi phá được tường, họ sẽ tiến vào. Trong cuộc tổng tiến công, Bắc Việt và Việt Cộng đồng loạt tấn công 35 đô thị.
Tại Buôn Ma Thuột, Trung đoàn 27 của Bắc Việt được cho là đã bí mật tiến vào thành phố dưới tiếng pháo Tết. Họ mặc quân phục pha trộn để ngụy trang. Giao tranh kéo dài cả ngày, để lại ba xe tăng bị phá hủy.
Tại Đà Nẵng, 40 quả rocket 122 mm đã bắn vào căn cứ không quân Mỹ, làm cháy 13 máy bay phản lực. Căn cứ trực thăng tại Ngũ Hành Sơn bị tấn công, khiến 19 trực thăng hư hại.
Tại Vĩnh Long, khoảng 300 lính du kích chia thành nhiều nhóm nhỏ. Một số bị bắt chỉ mới 13 đến 14 tuổi nhưng được trang bị vũ khí mới.
Ngày 5 tháng 2, 34 nhà truyền giáo Mỹ và Canada được giải cứu tại Đà Lạt, nhưng tại Buôn Ma Thuột, sáu người bị giết, một số bị thương và hai người bị bắt cóc.
Sau một tuần, Nam Việt Nam rơi vào hỗn loạn. Riêng tại Sài Gòn, hàng chục nghìn thường dân đổ vào các trại tạm với rất ít đồ đạc. Ước tính khoảng 200.000 người phải rời bỏ nhà cửa, trong đó 58.000 tập trung tại Sài Gòn. Các bệnh viện tiếp nhận hàng nghìn người bị thương.
Bắc Việt cho rằng cuộc tấn công nhằm trả đũa việc chính quyền Nguyễn Văn Thiệu hủy bỏ lệnh ngừng bắn và tiếp tục ném bom. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng chiến dịch đã được lên kế hoạch từ trước.
Tướng Thomas A. Lane nhận định rằng tướng Võ Nguyên Giáp đã tính toán kỹ lưỡng thời điểm tấn công, tận dụng dịp Tết khi người dân di chuyển nhiều và phía Mỹ chủ quan.
Năm 1968, số lính Mỹ tại Việt Nam đạt hơn 500.000. Dù biết khó giành chiến thắng quân sự, Bắc Việt vẫn tấn công nhằm làm suy giảm ý chí của Mỹ và chứng minh rằng họ không thể bảo vệ người dân.
Một số ý kiến cho rằng chiến dịch cũng chịu áp lực từ Trung Quốc. Mao Trạch Đông từng nói rằng điều không đạt được trên chiến trường cũng không đạt được trên bàn đàm phán.
Ngày 18 tháng 2, sân bay Tân Sơn Nhất bị pháo kích, đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker được đưa đến nơi an toàn. Cùng ngày, nhiều cơ sở quân sự tại Sài Gòn bị tấn công, bao gồm kho nhiên liệu và căn cứ Nhà Bè. Trụ sở của tướng Westmoreland cũng trúng tên lửa.
Giao tranh lan rộng quanh Tân Sơn Nhất và các khu vực lân cận. Bắc Việt mở thêm đợt tấn công mới trên toàn miền Nam.
Tại Huế, đến ngày thứ 18, khoảng 800 quân đối phương vẫn cố thủ trong thành nội. Trong khi đó, 3.000 quân Mỹ và Nam Việt Nam tiến công từ phía Tây. Pháo kích và bắn tỉa vẫn tiếp diễn, gây thương vong cho cả binh sĩ và dân thường.
Đến ngày 22 tháng 2, sau ba tuần chiến đấu, Mỹ cắt đứt đường tiếp tế của đối phương. Tuy nhiên, thương vong rất lớn. Trận chiến tại cung điện trở thành giai đoạn khó khăn nhất.
Ngày 25 tháng 2, lá cờ Việt Nam Cộng hòa được kéo lên tại Huế sau nhiều nỗ lực. Thành nội được tái chiếm, nhưng giao tranh nhỏ lẻ vẫn tiếp tục.
Khi trận chiến kết thúc, khoảng 80% thành phố bị tàn phá. Người dân lục tìm trong đống đổ nát để kiếm đồ dùng. Nhiều công chức mất tích được tìm thấy trong các mộ tập thể.
Tại bệnh viện Huế, bác sĩ Mỹ phải thay thế phần lớn bác sĩ Việt Nam. Nhiều ca chấn thương trở nên nghiêm trọng do không được điều trị kịp thời.
Bên ngoài, chính quyền phải đối mặt với khoảng 60.000 người tị nạn, nguy cơ dịch bệnh và thiếu lương thực. Ước tính khoảng 1.000 thường dân thiệt mạng và nhiều thi thể vẫn chưa được tìm thấy.
Nhà báo Bernard Weinraub của New York Times viết rằng cái chết hiện diện khắp nơi, trong các hố chôn tập thể, trên bờ sông Hương, và trong hình ảnh những người phụ nữ khóc bên mộ, bên cầu, giữa một thành phố tan hoang.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét