Đại sứ Iran tại Pakistan hôm thứ Năm (ngày 9/4) đăng trên mạng xã hội rằng phái đoàn Iran sẽ đến thủ đô Islamabad trong tối cùng ngày để gặp đại diện Hoa Kỳ nhằm thúc đẩy tiến trình ngừng bắn. Tuy nhiên, bài đăng này sau đó đã bị xóa, làm dấy lên nhiều suy đoán. Lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ thuộc Đại đội Lima, Tiểu đoàn đổ bộ số 3, Trung đoàn Thủy quân lục chiến số 1, Lữ đoàn Viễn chinh Thủy quân lục chiến số 31, thực hiện cuộc hành quân trong một cuộc tấn công đổ bộ mô phỏng tại khu vực hoạt động của Hạm đội 7 ở vùng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vào ngày 24/3/2026. (Nguồn: Hạ sĩ Nicole Stuart/ Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ)
<!>
Trước đó, Đại sứ Reza Amiri Moghadamviết trên nền tảng X: “Mặc dù dư luận Iran nhìn chung hoài nghi do Israel nhiều lần vi phạm thỏa thuận ngừng bắn… phái đoàn Iran vẫn sẽ đến Islamabad tối nay để tiến hành các cuộc đàm phán nghiêm túc dựa trên kế hoạch 10 điểm do Iran đề xuất”.
Tuy nhiên, bài đăng này đã bị xóa mà không có thông báo, khiến bên ngoài suy đoán rằng các cuộc đàm phán cấp cao giữa Mỹ và Iran vẫn còn nhiều biến số, đồng thời cho thấy có thể tồn tại bất đồng trong nội bộ Iran về lập trường đàm phán.
Trước đàm phán, Mỹ và Iran tiếp tục “đấu khẩu” từ xa
Theo Associated Press, ngày thứ Tư (8/4), người phát ngôn Nhà Trắng Karoline Leavitt xác nhận Phó Tổng thống JD Vance sẽ cùng đặc phái viên Steve Witkoff và Jared Kushner dẫn đầu phái đoàn tới Islamabad để hội đàm với phía Iran, nhằm hướng tới chấm dứt chiến tranh lâu dài.
Bà Leavitt nói: “Vòng đàm phán đầu tiên sẽ diễn ra vào sáng thứ Bảy (ngày 11) theo giờ địa phương. Chúng tôi mong chờ các cuộc gặp trực tiếp này”.
Cùng ngày, Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf cáo buộc Mỹ và Israel đã vi phạm kế hoạch ngừng bắn 10 điểm do Tehran đề xuất, bao gồm tiếp tục tấn công tại Lebanon, xâm nhập không phận Iran bằng máy bay không người lái và phủ nhận quyền làm giàu uranium của Iran. Ông cho rằng việc tiếp tục ngừng bắn và đàm phán với Mỹ là “không hợp lý”.
Trong tuyên bố đăng trên X, ông Ghalibaf nói phía Mỹ đã vi phạm ba nội dung của đề xuất ngừng bắn, đồng thời nhấn mạnh Iran có sự mất lòng tin mang tính lịch sử đối với Mỹ.
Đáp lại, Phó Tổng thống Vance, đang thăm Hungary, cho rằng những bất đồng này thực ra cho thấy hai bên có nhiều điểm đồng thuận.
Ông nói: “Thứ nhất, ông ấy nói có một số bất đồng trước đàm phán. Điều đó tất nhiên có nghĩa là có rất nhiều điểm đồng thuận, bởi hiện có một kế hoạch 15 điểm và một kế hoạch 10 điểm. Nếu ông ấy thất vọng về 3 vấn đề, điều đó thực chất cho thấy hai bên có nhiều điểm chung”.
Ông Vance nói thêm: “Thứ hai, về ba vấn đề đó, tôi đã đọc kỹ, và phải nói rằng tôi nghi ngờ khả năng hiểu tiếng Anh của ông ấy, vì một số điều ông ấy nói, thành thật mà nói, không phù hợp với bối cảnh đàm phán cho đến nay”.
Liên quan đến các vụ tấn công mà ông Ghalibaf đề cập, Vance cho rằng ngừng bắn luôn phức tạp: “Một giờ sau khi Tổng thống (Trump) tuyên bố ngừng bắn, phía Iran đã phóng một loạt tên lửa, sau đó Israel đáp trả, rồi một số quốc gia Ả Rập vùng Vịnh cũng phản ứng. Đó là bản chất của ngừng bắn. Không có lệnh ngừng bắn nào hoàn toàn không có biến động”.
Ông nhấn mạnh: “Chúng tôi muốn chấm dứt các cuộc ném bom. Chúng tôi muốn các đồng minh của mình dừng lại, và cũng muốn Iran làm điều tương tự. Chúng tôi thấy những dấu hiệu cho thấy tình hình đang đi đúng hướng, nhưng điều đó cần thời gian”.
Islamabad chuẩn bị cho các cuộc đàm phán
Chính quyền Islamabad hôm thứ Tư thông báo toàn thành phố sẽ nghỉ trong những ngày tới. Dù không nêu rõ lý do, nhưng đây là biện pháp thường được áp dụng trước các sự kiện ngoại giao cấp cao nhằm đảm bảo an ninh. Trong thời gian nghỉ, các dịch vụ thiết yếu như cảnh sát, bệnh viện, điện và khí đốt vẫn sẽ hoạt động bình thường.
Triệu Phượng Hoa/ Epoch Times
Ông Trump cảnh báo Iran: Chiến tranh sẽ leo thang nếu các cuộc đàm phán đổ vỡ
Tổng thống Donald Trump tối thứ Tư (ngày 8/4) cho biết trên Truth Socialrằng trong thời gian ngừng bắn hai tuần với Iran, quân đội Hoa Kỳ sẽ tiếp tục duy trì triển khai cho đến khi hai bên đạt được và thực thi một “thỏa thuận thực sự”. Ông cũng cảnh báo nếu đàm phán thất bại, Mỹ sẵn sàng tiến hành các hành động quân sự mạnh hơn trước.
Hôm thứ Hai (6/4), Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tổ chức họp báo tại Nhà Trắng về chiến dịch giải cứu đồng đội của quân đội Mỹ được thực hiện sâu trong lãnh thổ Iran vào cuối tuần trước. (Ảnh chụp màn hình video)
Ông Trump: Nếu đàm phán đổ vỡ, tấn công sẽ bắt đầu ngay lập tức
Ông Trump viết trên Truth Social rằng tất cả tàu chiến, máy bay, binh sĩ Mỹ cùng vũ khí, đạn dược sẽ tiếp tục hiện diện quanh Iran, “cho đến khi đạt được một thỏa thuận thực sự và thỏa thuận đó được tuân thủ hoàn toàn”.
Ông cho biết lực lượng Mỹ tại Trung Đông đủ sức tiêu diệt một “kẻ thù đã bị suy yếu nghiêm trọng”.
Dù đánh giá khả năng đàm phán thất bại là “rất thấp”, ông vẫn cảnh báo mạnh mẽ: “Nếu vì bất kỳ lý do gì mà không đạt được (thỏa thuận), thì ‘các đòn tấn công sẽ bắt đầu’ (Shootin’ Starts), với quy mô, hiệu quả và sức mạnh chưa từng có”.
Ông Trump cũng nói quân đội Mỹ hiện đang “bổ sung trang bị và nghỉ ngơi”, đồng thời “mong chờ cho lần xuất quân tiếp theo”.
Tranh cãi cốt lõi của thỏa thuận vẫn chưa được giải quyết
Dù hai bên đã chấm dứt cuộc xung đột kéo dài 5 tuần và đạt được ngừng bắn tạm thời, những bất đồng chính vẫn tồn tại. Trump cho biết Iran đã đồng ý không theo đuổi vũ khí hạt nhân và cam kết “Eo biển Hormuz sẽ luôn mở và an toàn”.
Tuy nhiên, Iran trong nước vẫn tuyên truyền sẽ duy trì chương trình làm giàu uranium, trái ngược với các đề xuất gửi lên Liên Hợp Quốc.
Cùng ngày, Israel đã tiến hành không kích quy mô lớn vào Lebanon, tấn công hơn 100 mục tiêu của Hezbollah tại Beirut, thung lũng Beqaa và miền nam Lebanon.
Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf chỉ trích việc tiến hành đàm phán trong bối cảnh này là “không hợp lý”.
Phó Tổng thống Mỹ JD Vance phản hồi: “Tôi cho rằng điều này xuất phát từ một sự hiểu lầm hợp lý. Phía Iran có thể nghĩ rằng thỏa thuận ngừng bắn bao gồm Lebanon, nhưng thực tế không phải vậy. Chúng tôi chưa từng cam kết hay ám chỉ điều đó”.
Tuy vậy, ông cũng cho biết Israel đã đồng ý kiềm chế phần nào tại Lebanon để hỗ trợ tiến trình đàm phán, “nhưng không phải vì điều này nằm trong thỏa thuận ngừng bắn”.
Quốc tế lo ngại về quyền đi lại qua eo biển Hormuz
Do lo ngại tính mong manh của lệnh ngừng bắn, giá dầu thế giới đã tăng trở lại vào thứ Năm, với dầu Brent tăng khoảng 2%. Iran vẫn khẳng định quyền kiểm soát eo biển Hormuz và có kế hoạch thu phí tàu thuyền. Kể từ khi xung đột nổ ra, lưu lượng vận tải qua eo biển đã giảm xuống dưới 10% mức trung bình lịch sử.
Ngoại trưởng Anh Yvette Cooper dự kiến tuyên bố rằng việc đi lại qua eo biển phải được miễn phí. Theo nội dung bài phát biểu chuẩn bị tại London, bà sẽ nhấn mạnh: “Những quyền tự do cơ bản trên biển không thể bị đơn phương tước bỏ hay đem bán cho người trả giá cao nhất. Các tuyến đường thủy quốc tế không nên tồn tại việc thu phí”.
Bà khẳng định: “Tự do hàng hải có nghĩa là việc đi lại phải miễn phí”.
Phái đoàn Iran dự kiến sẽ đến Islamabad vào tối thứ Năm để chuẩn bị cho vòng đàm phán chính thức diễn ra vào thứ Bảy.
Lý Ngọc t/h
Vì sao quân đội Mỹ kiên trì nguyên tắc “không bỏ lại một ai”?
Rạng sáng ngày 5/4 (giờ miền Đông nước Mỹ), Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố, thành viên thứ hai của phi hành đoàn chiếc F-15E bị mất liên lạc trước đó trên lãnh thổ Iran đã được giải cứu thành công.
Ảnh minh hoạ. Các binh sĩ không quân Hoa Kỳ chào theo nghi thức quân đội. (Nguồn: Rawpixel.com/Shutterstock)
Theo truyền thông Mỹ, để cứu thành viên thứ hai này, quân đội Mỹ đã triển khai hơn 100 lính đặc nhiệm và điều động 155 máy bay. Điều thu hút sự chú ý lớn của dư luận không chỉ là quy mô của chiến dịch, mà còn là một nguyên tắc lâu dài mà quân đội Mỹ luôn kiên trì: “Không bỏ lại một ai”.
Logic quân đội đằng sau nguyên tắc “không bỏ lại một ai”
Ông Hoàng Hà, chuyên gia về các vấn đề Trung Quốc, kiêm người dẫn chương trình “Bình luận Hoành Hà”, trong cuộc phỏng vấn với Đài Truyền hình Tân Đường Nhân (NTD) ngày 7/4 cho biết, tinh thần “không bỏ lại bất kỳ ai” là một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến quân đội Mỹ trở nên hùng mạnh.
Ông cho rằng Mỹ không phải là quốc gia áp dụng chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc, phần lớn binh sĩ là tình nguyện nhập ngũ. Trong bối cảnh đó, nếu nhà nước muốn binh sĩ sẵn sàng mạo hiểm tính mạng để hoàn thành nhiệm vụ, thì phải khiến họ tin rằng bất kể họ ở đâu, chỉ cần còn một tia hy vọng, quốc gia chắc chắn sẽ đến cứu.
Theo ông, cam kết này không chỉ là vấn đề tình cảm, mà còn là nguồn gốc quan trọng tạo nên sự gắn kết và sức chiến đấu của quân đội. Binh sĩ sẵn sàng hy sinh vì đất nước không chỉ vì mệnh lệnh, mà còn vì tin rằng quốc gia sẽ là hậu thuẫn của mình. Vì vậy, điều mà quân đội Mỹ duy trì không chỉ là kỷ luật nghiêm minh, mà còn là niềm tin sâu sắc của binh sĩ đối với quốc gia và quân đội.
Ông Hoành Hà cũng nêu ví dụ, trong Thế chiến II, nhiều phi công Mỹ từng thực hiện nhiệm vụ tại Trung Quốc và khu vực tuyến bay qua dãy Himalaya, không ít người đã rơi máy bay và nằm lại nơi đất khách. Sau khi Trung Quốc cải cách mở cửa, phía Mỹ vẫn tiếp tục tìm kiếm hài cốt của những phi công mất tích, sẵn sàng chi nhiều nhân lực và tài chính để vào vùng núi đưa họ trở về. Thái độ “sống phải thấy người, chết phải thấy xác” đối với quân nhân chính là biểu hiện quan trọng của truyền thống tinh thần quân đội Mỹ.
Lãnh đạo và sĩ khí là chìa khóa sức mạnh quân đội
Ông Hoành Hà cho rằng sức mạnh của quân đội Mỹ không chỉ thể hiện ở trang bị và năng lực tác chiến, mà còn nằm ở hệ giá trị phía sau. Máy bay bị bắn hạ có thể chế tạo lại, trang bị bị mất có thể bổ sung, nhưng nếu niềm tin tích lũy qua nhiều năm của một quân đội bị sụp đổ, thì không thể khôi phục trong thời gian ngắn.
Ý nghĩa của chiến dịch giải cứu lần này cho thấy lại rằng ưu thế của quân đội Mỹ không chỉ nằm ở “phần cứng”, mà còn ở tinh thần, truyền thống và thể chế.
Ông nói thêm rằng, nếu việc tái xây dựng một quân đội là quá trình nhiều tầng, thì sức mạnh vật chất không thể thay đổi chóng vánh trong một năm. Điều có thể thay đổi nhanh chóng thực ra là 2 yếu tố: Năng lực lãnh đạo và sĩ khí.
Ông cho rằng thành công của chiến dịch lần này đã phản ánh của hai yếu tố đó. Từ sự đoàn kết toàn quân đến việc lãnh đạo cấp cao dám chấp nhận rủi ro và đưa ra quyết định khó khăn trong thời điểm then chốt, tất cả đều cho thấy sự phục hồi về tinh thần và chỉ huy của quân đội Mỹ.
Ông cũng chỉ ra rằng bản thân quyết định cứu hộ này mang theo rủi ro rất lớn. Không ai biết liệu cuối cùng có thành công hay không; nếu thất bại, không chỉ tổn thất lớn hơn mà còn phải đối mặt với chỉ trích mạnh mẽ. Nhưng trong hoàn cảnh đó, Mỹ vẫn sẵn sàng trả giá lớn để cứu một người mất liên lạc, điều này thể hiện sự tôn trọng đối với sinh mạng, cũng như trách nhiệm của người lãnh đạo.
“Nhìn từ góc độ này, điều khiến chiến dịch này gây chấn động không chỉ là vì nó thành công, mà còn vì nó hội tụ nhiều yếu tố: Niềm tin sinh tồn, niềm tin tôn giáo, cam kết của quốc gia như một hậu thuẫn, và sự tôn trọng đối với sinh mạng. Chính nhờ sự kết hợp của những yếu tố này mà ‘phép màu’ mới có thể xảy ra,” ông nói.
Chuyên gia: Đảng cộng sản Trung Quốc “lấy bụng tiểu nhân đo lòng quân tử”
Ở chiều ngược lại, phản ứng của dư luận tại Trung Quốc Đại Lục đối với sự kiện này lại hoàn toàn khác. Mặc dù ông Trump đã công khai tuyên bố quân đội Mỹ đã tìm thấy và giải cứu thành công binh sĩ mất tích, truyền thông nhà nước Trung Quốc vẫn dẫn lại nguồn tin từ Iran cho rằng nhiệm vụ này đã “thất bại”, thậm chí cáo buộc Mỹ định “đánh bom giết phi công”, gây ra nhiều nghi vấn trên mạng.
Trước điều này, ông Thẩm Minh Thất, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Đài Loan, cho rằng đây là ví dụ điển hình của việc “lấy bụng tiểu nhân đo lòng quân tử”. Khi một chế độ từ lâu nhìn nhận sinh mạng bằng lăng kính lạnh lùng và thực dụng, họ dễ dùng cùng logic đó để suy đoán người khác.
Ông chỉ ra rằng từ lâu Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã kỳ vọng Mỹ thất bại trong các cuộc chiến ở nước ngoài, dù là sa lầy trong chiến tranh kéo dài, lặp lại kịch bản chiến tranh Việt Nam, hay rút quân như ở Afghanistan và Iraq. Những cách diễn giải này đều phù hợp với kỳ vọng của họ. Vì vậy, khi xuất hiện kết quả trái ngược, dư luận có xu hướng bóp méo để giải thích lại sự kiện.
Ông Thẩm cho rằng điều khó hiểu nhất đối với ĐCSTQ chính là việc Mỹ sẵn sàng trả giá lớn như vậy chỉ để cứu một thành viên phi hành đoàn nhảy dù sống sót. Trong văn hóa chính trị và giáo dục quân sự của Trung Quốc, binh sĩ thường bị coi là nguồn lực có thể tiêu hao, là công cụ để hoàn thành nhiệm vụ, chứ không phải là cá nhân cần được bảo vệ tối đa.
Ông lấy ví dụ về trận chiến hồ Trường Tân trong Chiến tranh Triều Tiên, nơi binh sĩ Trung Quốc trong điều kiện thiếu trang bị, thiếu tiếp tế, thiếu áo ấm vẫn bị yêu cầu dùng sinh mạng để bù đắp thiếu hụt hỏa lực, chấp nhận thương vong lớn để đạt mục tiêu chiến thuật. Cách tác chiến này về bản chất không đặt sinh mạng binh sĩ lên hàng đầu.
Trái lại, logic tác chiến của quân đội Mỹ là cố gắng dùng hỏa lực và công nghệ để giảm rủi ro trước, sau đó mới tiến quân, nhằm giảm thiểu thương vong. Đây không chỉ là khác biệt chiến thuật, mà còn là sự khác biệt căn bản về văn hóa quân sự và quan niệm về sinh mạng.
Vì vậy, ông cho rằng những luận điệu bôi nhọ như vậy có thể có đất sống nhất định trong nội địa Trung Quốc, nhưng cuối cùng khó có thể chống lại sự thật. Khi ngày càng nhiều chi tiết được công bố, người ta sẽ thấy rằng điều khiến chiến dịch giải cứu này gây chấn động không chỉ vì thành công, mà còn vì nó cho thấy một quốc gia sẵn sàng làm đến mức nào để bảo vệ người của mình.
Đáng chú ý, trên nền tảng X, một người Iran sau khi thấy quân đội Mỹ giải cứu thành công đã viết chính quyền Cộng hòa Hồi giáo hiện nay không hề quan tâm đến sinh mạng con người. Đây là sự khác biệt tàn khốc nhất: Một bên sẵn sàng mạo hiểm lớn để cứu công dân của mình, bên kia lại sẵn sàng hy sinh chính công dân để duy trì quyền lực. Khi chứng kiến đồng thời hai thực tế này, cú sốc trong lòng người này vô cùng lớn.
Trịnh Hương Mai/Epoch Times

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét