Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

Lá Thư Úc Châu Trang Thơ Nhạc đầu Xuân - TS Nguyễn Nam Sơn

Song Ngọc - Trần Vấn Lệ - Ý Lan- Vũ Khanh: Bao giờ anh đưa em đi chùa Hương
Youtube: Gs TranNangPhung

<!->
Phạm Duy: Trường ca Con Đường Cái Quan (1-2-3)

Tình thân,

NNS

.................................................................................................................
(1) Chuyện Thời sự & Xã hội
(i) Chong Đèn: Nguyễn Huệ - Nguyễn Ánh: Tiêu chuẩn kép?
Hệ thống tuyên truyền và giáo dục được mặc định phải dìm nhà Nguyễn bằng được là vì lý do gì? Chắc chắn là để gia tăng "legitimacy" của chính quyền thay thế nhà Nguyễn. Điều này dẫn tới rất nhiều thiên kiến trong đánh giá lịch sử. May mắn từ nhỏ mình được đọc cuốn "Bi kịch nhà vua" nói về vua Tự Đức nên đã sớm có thiện cảm với ông và nhà Nguyễn. Sau này càng đọc thêm những bài như thế này và đi thăm Huế, nghe người Huế bày tỏ sự tôn kính với triều Nguyễn lại càng thấy mình đã cảm nhận đúng! Việc bị xâm chiếm phải đặt trong hoàn cảnh Châu Âu thôn tính thuộc địa khắp nơi, cái gì cũng có thời của nó, khó có thể đổi lỗi cho nhà Nguyễn một cách thái quá như hiện nay.

Chuyện xa hơn nữa là cuộc chiến Nguyễn Huệ - Nguyễn Ánh. Để "dìm" được Nguyễn Ánh xuống bùn thì phải tô vẽ cho Nguyễn Huệ. Ba anh em nhà Tây Sơn không hề khởi nghĩa nông dân. Họ là các quan chức dưới thời chúa Nguyễn, do thu thuế nhưng không nộp đủ cho triều đình đã bị trị tội, sau đó mới bắt đầu tập hợp lực lượng để cát cứ. Không chỉ chống lại các chúa Nguyễn, đánh cho Nguyễn Ánh tơi tả; Nguyễn Huệ còn ra Thăng Long để từng bước đoạt lấy quyền lực. Nguyễn Huệ không dám phế luôn bố vợ là Lê Hiển Tông vì danh không chính thì ngôn không thuận chứ không phải do tôn trọng nhà Lê và không màng quyền lực tối cao.
Lê Chiêu Thống trong tình cảnh bị đe dọa như thế việc cầu viện là hành vi có thể hiểu được và thông cảm được, dù không hoàn toàn đáng bênh vực. Từ chỗ bế tắc trong việc không có cớ gì để chính thức thu giang sơn về tay mình, Nguyễn Huệ chớp được cơ hội này, vụt sáng trong vai trò chống ngoại xâm và dẹp luôn nhà Lê. Nguyễn Huệ có tài quân sự, mấy ngày Tết mà phá tan 20 vạn quân Thanh, đó là chuyện không cần bàn. Nhưng phải trả đúng ông về vị trí của ông.
Người ta cũng hay kể giai thoại Nguyễn Ánh đào mồ Nguyễn Huệ đốt thành tro rồi nhồi thuốc súng bắn xuống sông Hương. Nhưng người ta lại quên luôn chuyện quân Tây Sơn tàn phá lăng miếu các chúa Nguyễn, truy sát dã man tôn tộc nhà Nguyễn như thế nào. Nguyễn Ánh có mối thù và phải trả, đó là sự sòng phẳng. Nên nhớ rằng người đức cao vọng trọng như Nguyễn Du chưa bao giờ làm quan cho nhà Tây Sơn vì rõ ràng Nguyễn Du không chấp nhận một vương triều dựng lên theo cách trái với đạo lý. Nhưng Nguyễn Du lại chấp thuận ra làm quan cho nhà Nguyễn. Có thể Nguyễn Du cố chấp nhưng điều đó có đáng suy nghĩ không?
Chuyện cầu viện thì người Việt là tiêu biểu của cái gọi là double standard. Miền Bắc trong chiến tranh cầu viện của Liên Xô, Trung Quốc thì gọi là giúp đỡ. Còn miền Nam (được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ) hay Lê Chiêu Thống (cầu viện nhà Thanh) hay Nguyễn Ánh (cầu viện Thái Lan và Pháp) thì được gọi là bán nước? Tiêu chuẩn kép đến thế là cùng! (Source: FB Chong Đèn)
*** Nguyễn Gia Kiểng: "Cõng rắn cắn gà nhà"
Nếu nỗi oan khiên kéo dài của Lê Chiêu Thống có thể giải thích được thì sự lên án Nguyễn Ánh là cõng rắn cắn gà nhà lại càng khó hiểu.

Nguyễn Ánh bị nhiều người lên án là đã rước quân Pháp vào Việt nam, để rồi Việt nam bị Pháp đô hộ. Điều này hoàn toàn sai.
Nguyễn Ánh chết năm 1820, trong khi người Pháp chỉ bắt đầu xâm chiếm nước ta từ năm 1858, nghĩa là 38 năm sau dưới triều Tự Đức cháu nội ông. Hai vị vua nhà Nguyễn, Minh Mạng và Tự Đức, xứng đáng bị lên án nặng nề, nhưng không phải vì họ đã thỏa hiệp với Pháp mà vì họ đã chống Pháp một cách điên cuồng và mù quáng.
Nguyễn Ánh không phải đã không làm những việc sai trái. Năm 1784, ông đã gởi hoàng tử Cảnh theo giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện Louis XVI. Hai bên ký kết thỏa ước, theo đó Nguyễn Ánh sau khi thành công sẽ dành nhiều đặc quyền lớn cho người Pháp và nhượng đứt đảo Côn Lôn cho Pháp. Ông cũng đã cầu viện quân Xiêm sang Việt nam giúp đánh quân Tây Sơn. Nhưng cả hai việc làm đáng trách này đã không giúp được gì cho ông. Thỏa ước ký với Louis XVI đã không được thực hiện, còn đám quân Xiêm thì đã bị Nguyễn Huệ đánh tan nhanh chóng. Sau này Nguyễn Ánh thành công, khôi phục được nhà Nguyễn hoàn toàn dựa vào cố gắng của chính ông. Nguyễn Ánh có sử dụng một số tay đánh thuê người Pháp, nhưng đó chỉ là những cá nhân, điều này rất bình thường thời đó. Anh em Tây Sơn cũng đã sử dụng bọn cướp biển Lý Tài và Tập Đình; họ cũng cố tranh thủ sự ủng hộ của người phương Tây mà không được vì người phương Tây chỉ coi Tây Sơn là quân cướp.
Có người nói vì Nguyễn Ánh cầu viện mà người Pháp mới biết tới Việt nam. Lời buộc tội này lại càng ngây ngô hơn nữa. Người châu Âu nói chung và người Pháp nói riêng đã đến Việt nam từ đầu thế kỷ 16, lúc tổ tiên Nguyễn Ánh là Nguyễn Hoàng chưa ra đời, rồi liên tục gia tăng sự hiện diện. Họ đã thiết lập nhiều trung tâm thương mại tại Hội An, Hà Nội và Hưng Yên. Người châu Âu đến nước ta là lẽ tự nhiên vì lúc đó họ đã mạnh và đang bung ra khám phá thế giới. Việc họ đến nước ta, đem theo một văn hóa và một kỹ thuật mới đáng lẽ phải là một may mắn lớn cho nước ta, chỉ tiếc rằng chúng ta đã không đủ sáng suốt để lợi dụng.
Nguyễn Ánh có công lớn với đất nước. Chính ông đã thống nhất được đất nước. Không có ông không chừng ngày nay miền Nam và miền Bắc vẫn còn là hai quốc gia riêng biệt. Phe cộng sản mạt sát Nguyễn Ánh là điều dễ hiểu, nhưng điều ngạc nhiên là Nguyễn Ánh bị lên án một cách hồ đồ như thế mà không được minh oan một cách rõ rệt, trong khi tôn thất nhà Nguyễn, ngày trước và ngay bây giờ, không thiếu những người có kiến thức và trình độ cao. Đó là vì một bên có lý do để ra sức buộc tội Nguyễn Ánh, còn một bên dù muốn bênh Nguyễn Ánh cũng không thể bào chữa cho ông một cách thông suốt. Nếu muốn bào chữa cho Nguyễn Ánh thì phải mổ xẻ sự nghiệp của ông một cách khách quan nhưng điều này lại khó làm. Muốn nói rõ về Nguyễn Ánh thì bắt buộc phải nhìn nhận những sai phạm của ông đối với đất nước – cầu viện Pháp, cầu viện Xiêm, và cách đối xử thô bạo của ông đối với con cháu Tây Sơn. Cũng phải luận việc ông bội bạc và giết hại các công thần. Điều này các vua nhà Nguyễn không cho phép vì họ không thể chấp nhận một phê phán nào về ông tổ của họ. Sau này Ngô Đình Diệm, sau khi đã truất phế vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, cũng không dại gì mà bênh vực ông tổ nhà Nguyễn. Sau Ngô Đình Diệm là chế độ của các tướng tá, trong đó nhưng vấn đề văn hóa, lịch sử không đặt ra nữa.
Nguyễn Ánh bị buộc tội oan trong khi ông là người có công lớn, và hơn thế nữa tổ tiên ông còn có công rất lớn là đã khai phá ra một nửa đất nước.
Nếu ai hỏi tôi ai là người có công nhất đối với Việt nam, tôi sẽ lưỡng lự giữa Lý Công UẩnNguyễn Hoàng. Lý Công Uẩn có công lập ra một quốc gia Việt nam thực sự, có kỷ cương, có triều chính, có văn hóa và đặt nền nếp cho Việt nam từ đó về sau (nhưng đồng thời ông cũng vô tình làm một điều tai hại là khẳng định vai trò của Khổng Giáo như một văn hóa chính thức). Nguyễn Hoàng có công mở ra một nửa đất nước, và đó cũng là nửa nước trù phú nhất. Lưỡng lự giữa hai người nhưng nếu bắt buộc phải chọn một người có lẽ tôi thiên về Nguyễn Hoàng.
Trước năm 1945, không có chuyện buộc tội Nguyễn Ánh. Phan Chu Trinh, một người chủ trương dân chủ và công khai bài xích triều Nguyễn, khi xỉ vả vua Khải Định là hèn đốn đã viết:
Ai về âm phủ hỏi Gia Long, / Khải Định thằng này phải cháu ông?, nghĩa là cũng nhìn nhận Nguyễn Ánh là bậc anh hùng.
Sau năm 1945, nhà Nguyễn đã thoái vị, đảng cộng sản đã nắm chính quyền tất nhiên không còn muốn lòng dân nhớ nhà Nguyễn nữa. Lời cáo buộc Gia Long cõng rắn cần gà nhà bắt đầu từ đấy. Khi cựu hoàng Bảo Đại trở về thành lập chính quyền quốc gia, mạt sát và hạ bệ Gia Long dĩ nhiên nằm trong chính sách tuyên truyền của đảng cộng sản. Dưới chế độ cộng sản bênh vực Gia Long, chưa nói đến khen Gia Long, là phạm tội phản động.
Vụ án Gia Long tuy không ồn ào bề ngoài nhưng trong chiều sâu đã gây chia rẽ không nhỏ trong hàng ngũ miền Nam trước năm 1975. Tôi đều có nhiều dịp nhận ra điều đó. Một lần tôi được chứng kiến một cuộc cãi vã ngắn nhưng rất dữ dội. Trong một câu chuyện vãn, không hiểu tại sao hai nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh lại được đề cập tới. Một anh bạn khen Nguyễn Huệ là anh hùng, chê Gia Long là tầm thường, may nhờ Nguyễn Huệ mất sớm mà thắng được. Một anh bạn khác phản ứng một cách giận dữ: “Nguyễn Huệ là một tên tướng cướp gặp thời, Gia Long mới có công thống nhất đất nước”. Anh kia cũng không chịu thua. Cả hai đi tới kết luận là người trước mặt mình không có trình độ, rồi họ chấm dứt cuộc thảo luận với cùng một nét mặt khinh bỉ. Về sau tôi có hỏi người nọ về người kia, cả hai đều nói về nhau một cách nặng lời, chắc chắn là không thể hợp tác với nhau được nữa. Tại sao một giai đoạn lịch sử hai trăm năm về trước lại có thể chia rẽ những con người ngày hôm nay? Chúng ta đặt quá nhiều đam mê và xúc động vào một lịch sử rất không chính xác. Thương nhau thương cả đường đi / Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng. Có lẽ nhiều người đã giận các vua Minh Mạng, Tự Đức mù quáng và ngoan cố làm mất nước, ghét Bảo Đại hèn nhát trác táng, rồi ghét luôn cả Gia Long.
Nhưng cách vận dụng lịch sử thiếu lương thiện nhất vẫn thuộc về đảng cộng sản. Họ luôn luôn bóp méo lịch sử cho những mục đích tuyên truyền. Năm 1979 khi vừa cải tạo về tôi nghe đứa cháu gái tôi học lịch sử: “Năm… tên bán nước Gia Long đem quân đánh Phú Xuân”. Tôi giật mình, sách sử gì mà ngôn từ hạ cấp như vậy? Tôi đòi xem cuốn sách và còn thấy cả “tên cướp nước Triệu Đà”. Triệu Đà chết đã hơn hai ngàn năm nay cũng bị vạ lây, bởi vì lúc đó hai chế độ cộng sản Việt nam và Trung Quốc đang xung đột. Để ý đến cách dạy sử lúc đó, tôi phải phẫn nộ. Hình như Việt nam chỉ mới thực sự thành lập từ khi có đảng cộng sản. Những đề tài thi sử thường gặp lúc đó là: “Đảng cộng Sản Việt nam thành lập ngày nào, năm nào?”, “Quân Dội Nhân Dân Việt nam thành lập ngày nào, năm nào?”, “Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước năm nào, ở đâu?”. Và câu hỏi quan trọng nhất: “Ngày 2-9-1945 tại vườn hoa Ba Đình, trước khi đọc tuyên ngôn độc lập, Bác Hồ đã nói gì?” (Câu trả lời là “Bác Hồ đã nói: Tôi nói đồng bào có nghe rõ không?“).
Sự sửa đổi lịch sử được thể hiện trên thực tế. Tại Sài Gòn, đường Nguyễn Hoàng được thay bằng đường Trần Phú, theo tên một cấp lãnh đạo cộng sản đã chết. Chúa Hiền, người có công khai mở miền Nam, nhường tên đường cho Võ Thị Sáu, một nữ cán bộ khủng bố cộng sản. Đường Gia Long dĩ nhiên không còn, nay là đường Lý Tự Trọng. Vô số công thần lập quốc bị xóa tên đường nhường chỗ cho nhưng cán bộ cộng sản không tên không tuổi. Từ ngày 30-4-1975, nước Việt nam không phải chỉ thay đổi hiện tại và tương lai mà còn thay đổi cả quá khứ.
Lịch sử là gia phả chung của đất nước, là ký ức tập thể của dân tộc, xuyên tạc nó là xúc phạm đến trí tuệ của dân tộc. Chưa nói rằng bôi nhọ một người đã nằm xuống từ lâu rồi cho một mục đích giai đoạn là một việc mà chỉ có những kẻ thấp kém mới làm. Làm như thế đang cộng sản cũng đã hạ giá chính cái lý tưởng của họ. Nếu lý tưởng của họ trong sáng, dự án chính trị của họ đặc sắc thì họ cần gì phải vận dụng những thủ đoạn tồi tàn như vậy?
Nhưng một câu hỏi cũng đặt ra cho chúng ta. Tại sao họ lại có thể làm như thế và một phần nào đó đã thành công? Đó là vì chúng ta thiếu một sử quan đứng đắn. Lịch sử của ta thiếu sót và thiếu chính xác, đó là một điều đáng tiếc; nhưng điều còn đáng tiếc hơn nữa là cách tiếp cận lịch sử của chúng ta. Chúng ta không coi lịch sử như một tài sản chung của dân tộc mà mọi người phải trân trọng. Từ bao đời rồi lịch sử vẫn chỉ được coi là một diễn đàn để hạ nhục đối phương và tâng bốc mình lên. Tập quán đó dần dần ăn rễ vào tâm lý mọi người, trong tiềm thức chúng ta. Chúng ta không coi việc xuyên tạc lịch sử là nghiêm trọng, chúng ta không coi lịch sử là ký ức của những cố gắng dựng nước, trái lại chúng ta coi lịch sử như là sự nối tiếp nhau của những trận đánh tàn phá đất nước. Chúng ta đọc lịch sử một cách sơ sài và dựa vào lịch sử để đưa ra những phê phán hồ đồ nhưng chắc nịch. Các dân tộc khác có thể chia rẽ vì không đồng ý với nhau trên những việc cần làm cho hôm nay và ngày mai; người Việt nam lại còn có thể chia rẽ và hận thù nhau vì những chuyện đã hoàn toàn thuộc về quá khứ mà mọi người chỉ biết một cách rất mơ hồ.
*** "Rước voi về giày mả tổ"
Khi đem tâm tình viết lịch sử mà tâm tình lại có trộn lẫn đam mê thì lịch sử không thể chính xác. Nhưng hậu quả khác nhau tùy theo đam mê theo hướng nào. Nếu đam mê theo chiều hướng sùng ái như đói với Nguyễn Huệ thì hậu quả là ta đi vào con đường thủ cựu tôn thờ quá khứ. Nếu ngược lại, đam mê theo chiều hướng thù ghét ta có thể phạm vào một bất công lớn đối với một người đã nằm xuống không còn khả năng trả lời nữa, và nhất là có thể tạo ra đỗ vỡ lớn giữa những người còn sống. Giữa một người đề cao Nguyễn Huệ và một người đề cao Nguyễn Ánh vẫn có thể có sự cảm thông, nhưng một người chống Nguyễn Ánh và một người đề cao Nguyễn Ánh khó có thể đối thoại với nhau.

Lê Chiêu Thống và Nguyễn Ánh là hai trường hợp điển hình cho đam mê lịch sử theo chiều hướng bài xích.
Lê Chiêu Thống bị mọi người mạt sát vì đã cứu viện quân Thanh, cõng rắn cắn gà nhà và không có ai bênh vực. Ký ức về ông mãi mãi hoen ố. Nhưng Lê Chiêu Thống không đáng phải chịu bản án lịch sử quá nặng nề đó. Khi Nguyễn Huệ vừa diệt xong nhà Trịnh và cưới công chúa Ngọc Hân thì vua Hiển Tông nhà Lê lâm bệnh nặng rồi từ trần không con nối dõi. Họ Lê thù họ Trịnh áp bức mình quá đáng nên quyết nhân cơ hội này lập lại cơ đồ thực sự. Họ suy tôn con người lỗi lạc nhất của dòng họ Lê lúc đó là hoàng tôn Lê Duy Kỳ, một người xét theo gia phả đáng lẽ không được làm vua. Duy Kỳ lên ngôi đặt niên hiệu là Chiêu Thống Hoàng Đế. Nội cái tên cũng chứng tỏ cao vọng của ông. Nhưng Chiêu Thống hoàn toàn không có vây cánh và của cải. Các cựu thần mang tiếng là cựu thần nhà Lê nhưng đều là của nhà Trịnh. Trong hơn hai thế kỷ cầm quyền của nhà Trịnh, họ không những không có liên hệ nào với nhà Lê mà còn bị cấm tuyệt đối không được giao dịch với nhà Lê. Lê Chiêu Thống hoàn toàn cô đơn. Ông vừa cố hết sức thu thập được vài bộ hạ thì dư đảng họ Trịnh đã nổi lên đem Trịnh Bồng về lập lại phủ chúa. Chiêu Thống bí mật vời Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân Nghệ An ra dẹp Trịnh Bồng. Đây cũng là một quyết định rất can đảm bởi vì nếu âm mưu bại lộ, ông chắc chắn sẽ bỏ mạng về tay phe đảng Trịnh Bồng. Nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh vốn đã là thủ hạ của họ Trịnh mà còn diệt nhà Trịnh thì chắc chắn không có lý do gì để phò Chiêu Thống. Nguyễn Hữu Chỉnh lại chuyên quyền, và Lê Chiêu Thống đành chịu. Lê Chiêu Thống chỉ lợi dụng thời kỳ hỗn loạn, họ Trịnh bị ghét, Nguyễn Hữu Chỉnh còn bị ghét hơn, để mua thời gian, chiêu nạp thêm thủ túc. Dự định chưa đi đến đâu thì Nguyễn Huệ đã sai Vũ Văn Nhậm ra giết Nguyễn Hữu Chỉnh và nắm quyền. Chiêu Thống cùng đám thủ hạ ít ỏi bỏ kinh đô trốn vào dân gian, bôn ba kháp đây đó lo việc khôi phục. Lê Chiêu Thống chỉ ở Thăng Long được hơn một năm. Sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí nói khá tỉ mỉ về những cố gắng và gian lao của Chiêu Thống trong giai đoạn này, qua đó ta có thể thấy Lê Chiêu Thống là một con người rất xông pha. Lúc Chiêu Thống đương chật vật ở Thanh Hóa thì một số cựu thần nhà Lê đem mẹ ông sang Tàu cầu cứu nhà Thanh. Quân Thanh sang, Lê Chiêu Thống về Thăng Long được mấy ngày thì Nguyễn Huệ đem quân đánh tan quân Thanh. Lê Chiêu Thống chạy trốn sang Tàu. Quần thần theo ông sang Tàu lúc đó cư xử khá liêm sỉ. Mặc dầu cô đơn họ cũng dám đương đầu với nhà Thanh. Có người chửi mắng quân Thanh, để rồi tất cả bị án đầy đi khắp nơi, sang Tây Vực, lên Mãn Châu. Riêng Lê Chiêu Thống buồn phiền mà chết. Lê Chiêu Thống tỏ ra là một người yêu quê hương, trước khi chết dặn người nhà sau này nhớ đem xác ông về chôn tại cố quốc. Đó là một tình cảm mà trước ông không một người Việt nam lưu vong ở Trung Quốc nào bày tỏ. Sử chép sau khi Tây Sơn bị diệt, gia nhân đào xác Lê Chiêu Thống lên để đem về Việt nam theo lời dặn của ông thì thấy cơ thể đã tan nhưng trái tim vẫn còn tươi đỏ. Câu chuyện này chắc chắn là bịa đặt, nhưng có thể giải thích rằng gia nhân ông biết ông chết với tấm lòng tức tưởi nên tưởng tượng ra câu chuyện đó.
Lê Chiêu Thống thực sự muốn cầu cứu nhà Thanh hay là việc cầu cứu này hoàn toàn do đám tôn thất nhà Lê chủ xướng lúc vắng mặt ông? Câu hỏi này có lẽ không bao giờ sáng tỏ, nhưng khi quân Thanh đã vào tới Thăng Long rồi thì Lê Chiêu Thống khó có chọn lựa nào khác là về Thăng Long. Nếu ông không về chắc chắn Tôn Sĩ Nghị sẽ bảo họ Lê tìm người khác và họ Lê chắc chắn cũng không vì Chiêu Thống mà bỏ cơ hội ngàn năm một thuở đó. Nhưng dù muốn hay không Lê Chiêu Thống đã về và đã trình diện Tôn Sĩ Nghị thì ông phải chịu trách nhiệm như chính ông đã gọi quân Thanh vào. Tội cầu viện quân Thanh nặng đến mức nào tùy quan điểm của mỗi người. Điều quan trọng là nên cố gắng tìm hiểu bối cảnh thời đại đó. Miền Nam lúc đó chưa hề hội nhập vào miền Bắc, nên người miền Bắc coi miền Nam gần như một nước khác. Có lẽ anh em Tây Sơn cũng coi như thế, nên Nguyễn Nhạc đã xưng hoàng đế ở trung Nam và dùng từ “quý quốc” để xưng hô với vua Lê. Người miền Bắc coi Tây Sơn gần như một đạo quân ngoại xâm, hơn nữa còn là một dám quân cướp hung bạo, nên việc họ đi cầu viện quân Thanh chống Tây Sơn là có thể hiểu được. Đọc tập thư từ của các giáo sĩ có mặt tại Bắc Hà lúc đó, ta có thể thấy rằng đa số dân Bắc Hà tán thành việc Chiêu Thống sang cầu viện nhà Thanh. Các giáo sĩ này đều là những người ủng hộ Tây Sơn cả. Giờ đây, sau hai trăm năm lịch sử, biết bao máu và nước mắt đã đổ ra trên đất nước này, ý thức quốc gia của chúng ta đã rõ rệt hơn nhiều, việc cầu viện ngoại bang có thể lên án một cách không lưỡng lự, những có lẽ không nên đem ý thức của thời nay mà xét người ngày xưa. Vả lại chính Nguyễn Du mà chúng ta tôn vinh như một trí tuệ siêu việt cũng đã cố chạy theo Chiêu Thống mà không được. Về mặt lập trường Nguyễn Du không khác Chiêu Thống.
Xét trong ba người giành nhau ngôi bá chủ ở thời đó: Chiêu Thống, Quang Trung và Gia Long, thì cả ba đều là những người có ý chí mạnh, có can đảm, có bản lãnh. Nhưng Quang Trung và Gia Long giống nhau ở chỗ họ đều là những con người thủ đoạn và sắt máu. Chiêu Thống là con người nhân hậu và tình cảm nhất. Trong cái thời đại đao binh chém giết như thế, ở vào lúc mà những bản năng tàn sát được thả lỏng như thế, một con người như Chiêu Thống kể ra cũng hiếm.
Độc giả đọc tới đây chắc chắn phải tự hỏi: “Tên Nguyễn Gia Kiểng này điên chăng, hắn ăn cái giải gì mà bênh vực tên việt gian Lê Chiêu Thống? Sao hắn ngu đến thế, rồi đây tên tuổi hắn sẽ bị gắn liền với Lê Chiêu Thống”. Nhưng nếu làm chính trị chỉ là tính toán thiệt hơn thì cũng buồn thực. Tôi chẳng có họ hàng gì với Lê Chiêu Thống, tổ tiên tôi cũng chẳng có ai làm quan nhà Lê. Nhưng tôi thấy cần phải sửa chữa lại một bất công quá đáng kéo dài quá lâu với một người đã chết. Lê Chiêu Thống là người Việt nam, tôi cũng là người Việt nam. Hơn nữa ông là một nhân vật lịch sử và tôi cần nhìn rõ lịch sử của nước tôi. Quan hệ giữa ông ta và tôi chỉ có thế.
Tìm trong lịch sử Việt nam tôi khám phá ra rằng việc mạt sát Lê Chiêu Thống chỉ mới gần đây thôi, đúng ra từ 1945 trở đi và có một mục đích chính trị chứ không phải hoàn toàn vô tư. Sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí của dòng họ Ngô rất gắn bó với Tây Sơn cũng không hề lên án Lê Chiêu Thống, trái lại còn bày tỏ sự cảm thương.
Sau thế chiến hai, đảng cộng sản Việt nam nắm được thế chủ động. Trước mặt họ là các đảng phái quốc gia Việt nam Quốc Dân Đảng, Việt nam Cách Mạng Đảng và Đại Việt được quân Tưởng Giới Thạch ủng hộ. Nếu Lê Chiêu Thống bị mọi người lên án vì cầu viện quân Thanh thì chính nghĩa của các đảng phái quốc gia này ở chỗ nào? Cho nên Lê Chiêu Thống phải bị mạt sát. Sau này mạt sát Lê Chiêu Thống cũng vẫn cần vì nó đánh vào nhược điểm của phe quốc gia là dựa vào người Pháp rồi người Mỹ. Lê Chiêu Thống trở thành một chiêu bài. Lịch sử được uốn nắn để sử dụng cho mục đích chính trị. Các chính phủ quốc gia kế tiếp nhau chỉ gồm những người lãnh đạo rất yếu về căn bản dân tộc và cũng yếu về lý luận chính trị nên đã không nhìn thấy cái bẫy Lê Chiêu Thống quá lớn này. Đặc điểm của những người cầm đầu phe quốc gia là họ có khá nhiều học vị nhưng lại chỉ có rất ít quan tâm về chính trị và càng ít quan tâm đối với lịch sử Việt nam. Họ, hay đúng hơn một vài trí thức có trình độ trung bình ủng hộ họ, chỉ biết phản pháo bằng cách cũng lên án Lê Chiêu Thống nhưng buộc tội đảng cộng sản bỏ tổ quốc, đem Liên Xô, Trung Quốc và chủ nghĩa cộng sản ngoại lai về đầy đọa quê hương như Lê Chiêu Thống. Nhưng lập luận của phe quốc gia hời hợt và giả tạo nên đã thiếu hẳn sức thuyết phục. Kết quả là hai bên thi nhau mạt sát Lê Chiêu Thống, và hơn nữa lại cũng đồng ý với nhau rằng Lê Chiêu Thống là con người nhu nhược và hèn nhát, một điều hoàn toàn không đúng sự thực vì Lê Chiêu Thống là con người rất có đảm lược và bản lãnh, không ngại vào sinh ra tử. Lê Chiêu Thống đã là nạn nhân của sự khôn ngoan của phe cộng sản và sự nông cạn của những người càm đầu phe quốc gia, một nạn nhân đáng thương vì con cháu nhà Lê không còn để bênh vực ông, số rất ít cựu thần nhà Lê đã thành cựu thần nhà Nguyễn.
Nhưng bây giờ thì cuộc chiến đã xong rồi. Có lẽ nên để cho người chết yên nghỉ thì hơn. Vả lại, nếu buộc tội Lê Chiêu Thống rước quân Thanh vào, thì tại sao người cộng sản không ca tụng Ngô Đình Diệm đã chết vì không chịu cho Mỹ đổ bộ? Người cộng sản nên ôn hòa hơn với Lê Chiêu Thống khi họ cũng dùng vũ khí và cố vấn Liên Xô, dùng cả quân Trung Quốc trong cuộc chiến vừa qua. Nhất là hiện nay họ cũng rất lễ độ với Trung Quốc dù Trung Quốc vẫn tiếp tục lấn chiếm. Đảng cộng sản từ trước vẫn tự coi là có chính nghĩa nhờ một lập luận quái đản: các anh có tội đem quân nước ngoài vào để nó giết người Việt, trong khi chúng tôi có chính nghĩa vì chúng tôi tự tay giết người Việt. Vậy mà lập luận này đã có sức thuyết phục trong nhiều thập niên. Điều này chứng tỏ rằng một dân tộc hiểu sai lịch sử của mình cũng không khác một người mất trí và có thể chìm rất sâu trong sự mê muội.
Khi ông Hồ Chí Minh chết, ông là chủ tịch nước Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa nhưng ông chỉ mơ ước về bên kia thế giới gặp cụ Marx, cụ Lênin. Khi Lê Chiêu Thống chết, ông lưu lạc bơ vơ và bị non sông ruồng bỏ nhưng ông lại mong được tìm về đất cũ. Giữa hai tâm hồn ấy, kể ra cũng có một sự khác biệt.
Về chiêu sâu, tôi nghĩ rằng khi một người đã chết thì không còn gì quan trọng nữa. Dù chết đi trong tiếng khóc thương, hay trong tiếng nguyền rủa hận thù thì cũng thế thôi, cát bụi vẫn là cát bụi. Nhưng danh dự của người đang sống buộc họ phải công bằng với những người đã chết.
Còn một lý do nữa khiến tôi thấy cần nhắc lại trường hợp Lê Chiêu Thống, đó là để rút ra một bài học có ích. Tại sao một con người xuất chúng như Lê Chiêu Thống lại có thể làm việc đi cầu cứu quân Thanh? Và tại sao một số đông đảo dân chúng Bắc Hà lúc đó lại tán thành hành động này? Đó là vì tinh thần dân tộc của ta đã rách nát sau những cuộc phân tranh triền miên. Đó cũng là vì các phe phái hận thù nhau đến độ mất cả sự sáng suốt. Bài học mà ta cần phải rút ra là sự liên đới dân tộc và tinh thần trách nhiệm chỉ có thể xây dựng trong hòa bình mà thôi.
Một bài học khác là không nên dựa vào lý mà cũng đừng dựa vào thế mạnh để bắt bí nhau, đừng đẩy người đuối lý hay kém thế vào những chọn lựa tuyệt vọng.Từ năm 1945 cho đến năm 1975, người cộng sản không những không muốn thỏa hiệp với người quốc gia để tìm một giải pháp chấp nhận được cho mọi người, mà trái lại họ còn cố đẩy người quốc gia vào chỗ càng ngày càng lệ thuộc ngoại bang hơn, và họ vui mừng khi thấy phe quốc gia dựa vào ngoại bang để họ giành độc quyền chính nghĩa. Phe quốc gia cũng có cùng một thái độ, tuy không có cùng một mức độ thành công. Kết quả ra sao cho đất nước, chúng ta đều đã thấy. Bài học đó đang có chiều hướng lập lại một lần nữa. Vấn đề cơ bản hiện nay là dân chủ hóa. Đối lập dân chủ có lý hoàn toàn khi đòi dân chủ da nguyên và đảng cộng sản vô lý hoàn toàn khi phủ nhận dân chủ đa nguyên. Nhưng hậu quả gần như tất nhiên của việc áp dụng dân chủ đa nguyên là đảng cộng sản sẽ mất chính quyền, cho nên đảng cộng sản coi những đòi hỏi dân chủ như một sự bắt bí. Ngược lại họ có quyền, có sức mạnh và họ sử dụng sức mạnh đó để đàn áp những nguyện vọng dân chủ, dần dần họ bị cô lập với dân chúng. Càng yếu đi họ càng phải nhượng bộ ngoại bang, quỵ luỵ với Trung Quốc dù Trung Quốc xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải, quỵ luỵ với các thế lực tài phiệt ngoại quốc và nhượng cho họ những vùng đất có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất. Chìa khóa của giải pháp cho đất nước là phải thỏa hiệp với nhau để tìm ra một giải pháp vẫn thực hiện được dân chủ mà không để dọa tương lai của bất cứ ai. Trong tình hình đất nước hôm nay trái tim cần hơn lý trí. Chúng ta cần những luật sư hơn những biện lý.
(ii) Ts Nguyễn Văn Tuấn: Sáu vấn đề Xã hội hôm nay
Sáng nay định viết một cái note về một vấn đề thời sự, nhưng thấy bài dưới đây (1) của anh Mạnh Kim hay quá nên cóp về đây để chia sẻ cùng các bạn. Trong bài này, tác giả, bằng một văn phong gãy gọn, nêu lên 5 vấn đề xã hội nóng bỏng nhất và "bức xúc" nhất: ác độc, thù hằn, tham lam, hoang tưởng, và khoe khoang. Trải nghiệm của tôi trong thời gian ở Việt Nam làm cho tôi thêm một vấn đề khác nữa: đó là giả dối.

Thói giả dối ở VN lên ngôi và nó hiện diện hầu như trong tất cả giai tầng. Học sinh nói dối. Người lớn nói dối. Giới khoa bảng cũng nói dối. Càng học cao càng nói dối nhiều. Người làm chính trị đạo đức giả và nói dối. Giới kinh doanh gian dối. Học hành giả dối. Khoa học giả dối. Có thể nói không ngoa rằng xã hội VN hiện nay là một xã hội giả dối.
Một trong những lí do của sự giả dối lên ngôi và ngự trị trong xã hội là sự ngự trị của chủ nghĩa Mác Lê Mao trong đời sống chính trị - xã hội. Cái chủ nghĩa này nó trình bày tương đối có hệ thống về bạo lực, đấu tranh giai cấp, cướp chính quyền, nó dạy cách thống trị cộng đồng. Nhưng cái chủ nghĩa đó không hề dạy về đạo lí xã hội, càng chẳng quan tâm đến đạo lí làm người. Trong khi đó, vai trò của tôn giáo bị cái chủ nghĩa đó vô hiệu hoá. Điều quái đản là người đang nói lời giả dối biết mình giả dối, nhưng họ vẫn nói như là một cái nghề. Từ đó, nó làm cho người ta sống hai mặt: một mặt ở cơ quan thì lên mặt giảng về đạo đức, một mặt ở đời thường thì lên án cái thói đạo đức giả. Hệ quả là một xã hội loạn chuẩn đạo đức, trong đó có giả dối. Trớ trêu thay, có người tự tin nói rằng đây là thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc!
***Mạnh Kim: 5 Vấn Đề Xã Hội Hôm Nay

ÁC ĐộC: Chưa bao giờ con người lại ác độc với nhau như vậy. Họ đánh thuốc độc vào thực phẩm. Họ sẵn sàng giết nhau chỉ vì món lợi nhỏ hoặc thậm chí chẳng gì cái gì khi “mâu thuẫn” chỉ xuất hiện sau cái va quẹt. Người lớn đánh nhau ngoài phố. Trẻ em đánh nhau trong học đường. Con cái thậm chí cũng có thể đối xử nghiệt ngã với cha mẹ. Cái ác bay lơ lửng và có thể rơi xuống bất kỳ đâu. Xã hội đã làm hỏng “bộ phanh” đạo đức để chặn lại tâm lý gây ác trước khi nó bước qua ngưỡng của hành vi tội ác.

THÙ HằN: Tâm tính ác độc đi kèm với thù hằn. Người ta sẵn sàng hằn học nhau chẳng gì cái gì và chẳng gì cái gì thật sự liên quan mình. Tâm lý thù hằn và oán ghét như những hạt mầm gieo thêm cái ác. Sự thù hằn nghiêm trọng nhất là “thù hằn tư tưởng”. Trong một status về tử sĩ Ngụy Văn Thà của tôi, có người còm rằng “Xóm tao cũng chuẩn bị đặt tên Ngụy Văn Thà rồi. Đặt hướng dẫn đường đi vào khu đi ị đó”. Cách nói này cho thấy một sự chất chứa thù hằn và ác độc. Tâm lý thù hằn như vậy đầy dãy. Nó không thể được xóa đi bởi nó vẫn được tích tụ. Đó mới là điều thật sự đáng sợ.
THAM LAM: Việc hành khách sân bay bị rọc vali là một trong những hiện tượng cho thấy lòng tham không giới hạn đang bùng lên như ngọn lửa thiêu rụi phần liêm sỉ và tự trọng còn rơi rớt lại trong ý thức cá nhân. Lòng tham hiện diện khắp nơi. Tham lam những cái rất nhỏ nhặt. Người ta sẵn sàng ngắt một cành hoa hay chen nhau giành một suất sushi miễn phí. Lòng tham còn đang được “xuất khẩu”. Hiện tượng ăn cắp tại nước ngoài đang trở thành phổ biến. Lòng tham không thể ngừng lại khi môi trường giáo dục đầy sự đố kỵ tham lam. Lòng tham không thể được chặn khi một số cha mẹ dạy con cách giành thức ăn trong bữa buffet. Không thể cản được lòng tham khi xã hội đầy dãy tham nhũng.
HOANG TƯởNG: Ngày càng có nhiều người hoang tưởng. Hoang tưởng về sự nổi tiếng, về tài năng mình, về trí tuệ mình. Hoang tưởng là một bệnh lý. Tác nhân gây ra nó là thói sùng bái cá nhân. Không đâu thấy dễ hiện tượng này bằng không gian Facebook, nơi người ta có thể đọc những câu còm tâng bốc đại loại: “Đất nước này không thể thiếu anh!”; “Chị là Suu Kyi của Việt Nam”... Người khen không chọn vị trí nhìn để thấy rõ khả năng người mình khen; và người được khen không chọn được vị trí để soi lại bản thân mình. Một xã hội hoang tưởng, chỉ nhìn thấy cái bóng phóng đại, hơn là ảnh thật trong gương, là một xã hội rất không bình thường.
KHOE KHOANG: Góc tủ giày, phòng quần áo, xe Rolls-Royce…, chúng ta đang thấy thói quen phô bày xênh xang vật chất lên đến tột cùng. Không chỉ vật chất. Người ta còn “selfie” cái gọi là “lao động trí não”. Sản phẩm lao động trí não là điều luôn dễ thấy. Để xã hội đánh giá có lẽ dễ được “cộng điểm” hơn là tự “báo cáo công trình”. Sự chừng mực và khiêm tốn thường nằm trong tư cách và bản chất người trí thức. Sự kính trọng ít khi có được nhờ “selfie”.
*** Nguyễn Thông (TN-Online): Những vẻ đẹp dung dị làm ta trào nước mắt
Vẻ đẹp, sự cao quý chẳng ở đâu xa, đó chính là những hành vi, việc làm thật cụ thể, giản dị, thiết thực và tuyệt đẹp, lại rất nhân tình mà ta được chứng kiến hằng ngày. Trong đời thường, nhiều khi ta cứ cố dõi mắt thật xa, vận dụng hết trí tưởng tượng để tìm cho ra, hình dung ra những điều thật lý tưởng, tròn trịa, hoàn mỹ, để rồi phải thất vọng khi không thấy bóng dáng chúng nơi đâu. Nào ta có biết rằng giữa cuộc sống vô cùng vô tận ấy, trong muôn vàn cái đa dạng phong phú ấy, điều ta muốn biết muốn tới chả ở đâu xa mà ngay cạnh mình, trước mắt mình. Tôi đã có những cuộc kiếm tìm gượng gạo, máy móc như thế, và nhiều lần vô vọng. Ngày này tháng khác trôi đi, đôi lúc buông xuôi, chán nản. Nhưng rồi chính những điều bình thường nhất diễn ra hằng ngày lại giúp mình khai mở, giác ngộ. Và thêm yêu cuộc sống, yêu con người.

Ở Sài Gòn, đã từ lâu mọi người quen với hình ảnh thùng nước uống miễn phí bên đường dành cho người qua lại. Hớp nước cho người nghèo, người lỡ độ đường trong cái nắng phương Nam gay gắt thật quý biết bao. Một cô gái là chủ công ty nho nhỏ kinh doanh dược phẩm kể cho tôi nghe có lần đang đi trên đường Võ Văn Tần (Q.3), xe dừng khi đèn đỏ cô thấy thùng nước từ thiện bên đường, mấy người bán vé số đang xúm xít uống. Về nhà thì bắt chước làm thôi, chả nghĩ ngợi gì cao xa gì. Sắm thùng inox, ly inox, đưa ra hôm trước, hôm sau thì mất. Chưa kịp mua cái khác, đành dùng tạm thùng nhựa. Bữa sau có người (bí ẩn) đem đến trả lại chiếc thùng inox ấy, cả 2 cái ly nữa, kèm theo mấy chữ xin lỗi viết nguyệch ngoạc. Việc làm tốt đẹp đầy tình người của cô đã lay động cả suy nghĩ người có hành vi sai trái. Từ bấy giở đi, thùng nước để suốt từ sáng đến tối trước nhà, chẳng ai trông coi, không hề dây xích khóa khoáy mà chả hề suy suyển.
Hồi cuối tháng 1/2016 vừa rồi, dường như ai cũng cảm động khi báo chí đăng ảnh một nhà hảo tâm ở Q.3 mua gạo ngon đóng thành bịch 5kg, xếp cả đống ven đường trước nhà, với tấm biển đề "Gạo miễn phí, mỗi người lấy một gói ăn tết", "Quà tết miễn phí, mỗi người lấy một phần". Bạn tôi bảo từ thiện kiểu này có lẽ chỉ có ở Sài Gòn. Tất nhiên không phải ai cũng tham lam ào vào lấy bởi những người khá giả, người chưa đến mức khó khăn đều hiểu rằng gạo này dành cho người nghèo. Mà ngay cả người nghèo cũng chỉ tự động lấy một phần. Không lấy thứ dành cho người khác, đó vừa là lòng tự trọng, vừa là nét văn hóa đặc trưng của người Nam Bộ. Bạn tôi nói thêm, nhận từ thiện kiểu này, cũng chỉ mới thấy ở Sài Gòn.
Mấy hôm trước tết, trước tình trạng thời tiết không thuận lợi, hoa nở sớm, hoa tết có nguy cơ dội chợ, người dân thành phố này truyền tai nhau, rồi kêu gọi trên mạng với thông điệp "mua hoa tết để giúp nông dân, giúp người trồng hoa". Tất cả chỉ nhằm mục đích đừng để diễn ra cảnh hoa bị ế, bị rẻ thối phải đổ bỏ, phần nữa là giúp người bán hoa mau chóng hết hàng, được về nhà sớm lo tết với gia đình. Tôi đã đọc được những lời hỉ hả trên mạng xã hội, chẳng hạn "mình nghe vậy là ra lề đường mua ngay, hai chậu cúc to chà bá, người bán không nói thách, mình cũng không trả giá", "bác bán hoa tết quê Sa Đéc cứ cảm ơn mãi khi chiều 29 (30 tết) mình khuân cho bác ấy cả mai, cúc, hướng dương"…
Nhân mấy chuyện trên, tôi lại nhớ cũng chính nơi đây, thành phố Sài Gòn dễ thương này là nơi khởi đầu của những quán cơm 2.000 đồng mà người chủ trương là nhà báo kỳ cựu Nam Đồng cùng bè bạn ông. Cơm 2.000, giá ấy chỉ có tính tượng trưng, thực chất là từ thiện gần như miễn phí đối với đồng bào còn hoàn cảnh khó khăn, những sinh viên nghèo thiếu thốn, người nhập cư chưa có việc làm ổn định, em bé bán vé số, chị ve chai, anh phụ hồ… Sau hàng loạt quán cơm như vậy, đã phát sinh thêm những biến thể đáng yêu như bánh mì miễn phí, phở từ thiện… ghi thêm bao dấu ấn đẹp đẽ đầy chất nhân văn ở thành phố cực kỳ sôi động và ấm áp tình người này.
Thương xót người cần lao, trọng nghĩa trọng tình, đất Nam Bộ, nhất là Sài Gòn, có những con người đầy chất Lục Vân Tiên, phóng khoáng, rộng mở, hào hiệp, lại cộng thêm tấm lòng bao dung nhân ái vốn có của người dân nước Việt, thật đáng cho chúng ta ngưỡng mộ, yêu thương. Vẻ đẹp, sự cao quý chẳng ở đâu xa, đó chính là những hành vi, việc làm thật cụ thể, giản dị, thiết thực và tuyệt đẹp, lại rất nhân tình mà ta được chứng kiến hằng ngày.
*** Viết Từ Sài Gòn: Tết và lạnh lùng tương lai Việt
Đầu Xuân, rủ bạn bè làm một chuyến du khảo Đà Nẵng, Hội An, Huế, Nghệ An, Hà Tĩnh… Và mai mốt là Sài Gòn, Đồng Nai, Bình Dương, lục tỉnh miền Tây… Nhưng đi nửa chừng, mới qua Đà Nẵng, Hội An, sắp bước vào đất Hà Tĩnh thì chẳng còn muốn đi thêm nữa. Cảm giác lạnh lùng, trống rỗng và đôi khi sợ hãi hiện ra càng thêm rõ. Nổi trội hơn có lẽ là cảm giác lạnh. Cái lạnh đến từ bên trong tâm hồn chứ không phải những trận rét của thiên nhiên. Tự dưng, một câu hỏi ám ảnh : Người Việt đã lạnh lùng từ bao giờ ? Và tương lai Việt đi về đâu ?... Đương nhiên câu hỏi đầu có vẻ hợp lý và dễ chịu hơn câu sau khi đặt câu hỏi và giải quyết nó. Câu sau nghe có vẻ lên gân. Nhưng hiện tại, có lên gân hay không thì cũng như nhau bởi mọi chuyện hầu như đã "an bài", hết thuốc chữa ! Vì sao? Bởi vì có sự khác biệt rõ ràng giữa cái lạnh của gió mùa, tuyết rơi, băng giá với cái lạnh sốt rét. Trước cái lạnh tuy khắc nghiệt của thiên nhiên, con người vẫn có cách thích ứng, có cách chống chọi bằng áo ấm, bằng lửa và sự chịu đựng. Nhưng khi cái lạnh bốc ra từ bên trong như sốt rét thì cho dù nhiệt độ tự nhiên lúc đó có lên 40 độ C thì người ta vẫn có thể chết vì cóng lạnh. Cái lạnh của dân tộc Việt Nam là cái lạnh sốt rét.

Sở dĩ tôi nói rằng dân tộc Việt Nam, hay nói đúng hơn là đại bộ phận nhân dân cũng như hệ thống cầm quyền từ địa phương đến trung ương đang bị sốt rét và có thể lăn ra chết bất kì giờ nào bởi vì hầu hết chúng ta đang bị con vi trùn sốt rét của sự vong thân và vong nô hoành hành tâm hồn, hoành hành thể xác nhưng chúng ta vẫn cứ xem như không có gì và vẫn cứ tưởng rằng mình khỏe mạnh. Vì sao? Vì chưa có năm nào người Trung Quốc xuất hiện tại Việt Nam đông như Tết năm nay, trong lúc mọi chuyện về chính trị, biên giới, lãnh hải, hải đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn đang là chuyện nhức nhối, gay cấn và căng thẳng. Người Trung Quốc đã sẵn sàng bỏ tiền ra thuê nguyên một máy bay để sang Khánh Hòa, Việt Nam ăn Tết. Và tại thành phố Hội An, Quàng Nam, tình trạng kẹt xe từ ngã ba Tin Lành đến tận trung tâm văn hóa thể thao Hội An kéo dài gần hai giờ đồng hồ vào các đêm Mồng Hai, Mồng Ba, Mồng Bốn Tết. Nguyên nhân kẹt xe là do lượng xe hơi vào thành phố quá nhiều, và đáng buồn hơn là ước chừng 70% xe hơi gây kẹt xe lại là xe chở người Trung Quốc đến Hội An để họ ăn Tết và tổ chức lễ kỉ niệm "hợp nhất người Trung Quốc trên thế giới" ngay tại trung tâm thành phố Hội An.
Ở Đà Nẵng, đi đâu cũng gặp người Trung Quốc, có thể nói rằng trong dịp Tết này, người Trung Quốc nhiều hơn người Việt tại thành phố Đà Nẵng. Bởi hầu hết các gia đình ở thành phố Đà Nẵng đều đóng cửa từ Mồng Một đến Mồng Ba Tết, họ không đổ ra đường, chỉ có người Trung Quốc và một số người Việt từ các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam xuất hiện trên đường Đà Nẵng.
Ở thành phố Huế, Vinh và Hà Tĩnh, người Trung Quốc cũng xuất hiện khá đông, tương đương với người dân các thành phố này nếu nhìn vào tương quan đường phố. Và dường như người Trung Quốc được tiếp đãi rất nồng hậu ở các quán xá, họ không gặp bất kì khó khăn, trở ngại nào khi ung dung tản bộ trên đất Việt Nam. Không dừng ở đó, họ tỏ ra hách dịch và khi có người Việt Nam nào đó cầm máy chụp hình, không may hướng ống kính trùng với hướng họ đang có mặt thì họ không ngần ngại đe dọa bằng tiếng Việt "Ai cho mày chụp hình ?" với người Việt. Và, phản ứng của người Việt là phần đông cất máy hình, im lặng mà đi. Có thể nói trong dịp Tết này, cảm giác người Trung Quốc mới là chủ nhân thực sự của dải đất hình chữ S này chứ không phải là người Việt Nam. Sao lại có chuyện kì cục như vậy ?
Nói đi thì thấy kì cục nhưng ngẫm lại, chuyện này không hề kì cục chút nào, bởi vì nó đã được chuẩn bị từ trứng nước. Hiện tại chỉ là hệ quả tất yếu của một quá trình dài chuẩn bị trong quá khứ. Vậy ai đã chuẩn bị cho vấn đề này ? Câu trả lời dứt khoát và rõ ràng là nhà nước Cộng sản Việt Nam đã tính toán, chuẩn bị rất kĩ cho việc này và đảng Cộng sản Việt Nam chính là những con muỗi sốt rét của dân tộc Việt Nam hiện tại. Bởi lẽ, với lối cai trị bàn tay sắt và nắm đấm khoai mì, vừa nắm chặt lấy vai nhân dân bằng những ngón tay sắt làm rướm máu, lại vừa đấm thẳng khoai mì vào mồm nhân dân trong quá trình kinh tế tập trung bao cấp (dựa vào viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc) và với lối cai trị bằng roi điện với rượu Mao Đài suốt mấy chục năm sau bao cấp trên danh nghĩa kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã bóp chết nhân dân Việt Nam từ trong ra ngoài, đã làm tê liệt nhân dân vì chứng sốt rét tư tưởng.
Nhân dân không đuợc nói, chỉ được nghe huấn thị từ đảng. Nhân dân không được đấu tranh cho chủ quyền dân tộc mà chỉ được phép ngồi yên để đảng lo liệu, nhân dân được tự do lựa chọn thực phẩm và sách báo trong cái đống thức ăn ôi thiu xuất xứ Trung Quốc và trong mớ tư tưởng Cộng sản mà đảng đã soạn sẵn.Từ chiếc nịt ngực phụ nữ, chiếc quần lót cho đến hộp sữa, chiếc xe gắn máy, cục xúc xích, cây kẹo, dĩa trái cây, ký gạo, đồ chơi trẻ em, phim ảnh… Tất cả nhu yếu phẩm, hàng hóa cho đại bộ phận nhân dân nghèo khổ, chật vật này đều được soạn sẵn bằng sản phẩm của Trung Quốc. Và về lâu về dài, dường như số đông nhân dân đã quen mùi của Trung Quốc, thậm chí có người coi những sản phẩm độc hại của Trung Quốc là đỉnh cao trí tuệ bởi "Trung Quốc nó giỏi hơn Mỹ, cũng một cái đồ cùng tính năng nhưng nó bán rẻ chưa bằng một phần mười đồ của Mỹ" ! Và cũng về lâu về dài, dường như nhân dân đã bị ngấm văn hóa và dịch chất Trung Quốc trong cơ thể như một con bệnh đang ủ sốt rét trong cơ thể. Cho đến một ngày bệnh bùng phát, người ta lạnh cóng, run lập cập và vẫn nghĩ rằng trời đang lạnh rét chứ không hề nghĩ rằng mình đang sốt rét từ trong máu thịt.
Một đất nước với đại bộ phận nhân dân chưa bao giờ có quyết định từ khước, chối bỏ hàng hóa Trung Quốc vì nó quá độc hại. Một đất nước mà đại bộ phận nhân dân, nhà buôn lại xem kẻ xâm lăng là cơ hội làm giàu (mà không thử suy nghĩ có bao nhiêu gián điệp, kẻ xấu đang trộn lẫn trong các đoàn khách du lịch kia) và sẵn sàng quì lụy, chấp nhận, thỏa hiệp với kẻ xâm lược. Một đất nước mà hệ thống chính quyền vừa đóng vai trò trị dân, chăn dân lại vừa đóng vai trò tay sai cho kẻ xâm lược, tiếp tay cho kẻ xâm lược từ kinh tế đến chính trị, văn hóa… !
Thử nghĩ, tương lai Việt Nam sẽ về đâu với chứng sốt rét tâm hồn của đại bộ phận nhân dân ? Và tội lỗi này do đâu mà có ? Liệu có còn tương lai để chúng ta nói rằng đến một ngày nào đó lịch sử sẽ phơi bày ra ánh sáng ai công ai tội khi mà nguy cơ bị xóa sổ một dân tộc đang rất cận kề bởi kẻ địch không cần tốn viên đạn nào, họ chỉ cần đứng nhìn chúng ta chết dần chết mòn trong chứng sốt rét tâm hồn và lăn ra chết? Mọi chuyện đều có thể xảy ra khi Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn xem mình là chư hầu của Trung Quốc và đại bộ phận người dân Việt Nam vẫn lên cơn sốt rét, vẫn cam chịu và chết dần chết mòn trong cam chịu, dựa dẫm vào kẻ đang giết mình ! Và tương lai Việt Nam sẽ là một tương lai trơ trọi nếu chúng ta tiếp tục lên cơn sốt rét tập thể như đang thấy ! Thật đáng buồn khi viết ra những dòng này ! (Source : RFA - VietTuSaiGon's blog).
(iii) Ns Tuấn Khanh: Sao lại làm ngơ cuộc chiến 1979 trong sách giáo khoa?

Trong một chuyến du ký ở Việt Nam để tìm hiểu về dư âm của cuộc chiến 1979, nhà báo Michael Sullivan có tìm đến một nghĩa trang ở Lạng Sơn. Khi chứng kiến một phụ nữ thắp nhang cho người thân của mình, một binh sĩ đã hy sinh để chống lại quân xâm lược Trung Quốc, Micheal Sullivan đã an ủi bà rằng thôi thì chiến tranh đã chấm dứt. Nhưng rất dứt khoát, bà Phạm Thị Kỳ – tên của người phụ nữ – đã nói rằng “Không, sẽ không bao giờ chấm dứt. Với Trung Quốc, làm sao mà chấm dứt được?”. Khu nghĩa trang nhỏ nơi bà Phạm Thị Kỳ đang viếng người thân, sẽ không bao giờ nói lên đủ nỗi đau của một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng khốc liệt đó. Theo ước tính chủ quan của các sử gia nước ngoài, ước tính có 50.000 người Việt đã thiệt mạng, bao gồm binh sĩ cùng người già và trẻ con bị quân Trung Quốc tàn sát man rợ trên đường rút chạy, để trả thù cho cuộc xâm lăng thất bại, với gần 100.000 lính bị thương và chết.

Ở Việt Nam ngày nay, người ta không dễ tìm thấy một cách trọn vẹn những dữ liệu mang tính chính thống cho cuộc chiến kỳ quặc và đau thương này. Hiếm có bộ phim nào ra rạp với kịch bản về cuộc chiến biên giới phía Bắc – dù đó là nguồn đề tài sử thi dồi dào. Rất ít sách nghiên cứu về hậu quả của cuộc chiến này, đối với đất nước và con người Việt Nam. Thậm chí, không có dòng nào trong sách giáo khoa lịch sử – so với hàng núi sách về cuộc chiến với người Pháp, người Mỹ và miền Nam Cộng hòa được phổ biến rộng rãi – mà những đứa trẻ như con cháu bà Phạm Thị Kỳ vốn vẫn thắc mắc khi đến viếng mộ người thân của chúng.
Đã đến lúc Bộ giáo dục Việt Nam đưa câu chuyện chiến tranh này vào sách giáo khoa chưa? Chí ít đó là một chương rất nhỏ và mờ nhạt về cuộc chiến này, để không làm đau tủi hàng chục ngàn người Việt đã ngã xuống, đổ máu trong các cuộc đụng độ biên giới, để chúng ta có thể ngồi yên ở đây, hôm nay?
Không khác mấy ở Việt Nam. Cuộc chiến biên giới 1979 Việt – Trung cũng được nhắc đến rất mờ nhạt ở Trung Quốc. Ngay trong sách giáo khoa của học sinh trung học đại lục, chỉ có vài dòng ít ỏi mô tả để thế hệ sau không lãng quên quá khứ nhưng lại không quên ghi rằng đó là một cuộc chiến tự vệ và đánh trả để chứng minh “sức mạnh và chính nghĩa” của Trung Quốc. Giải thích về chuyện vì sao quân đội Việt Nam không hề tiến qua biên giới, mà chính quân đội chính quy Trung Quốc lại thọc sâu vào đất Việt Nam, các sử gia nhà nước đã ghi rằng bởi PLA (Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa) chấp nhận đáp trả thách thức của nước Nga, lúc đó đang hậu thuẫn cho Việt Nam, khi đưa ra lời cảnh cáo nếu vượt biên giới thì Nga sẽ pháo kích đánh trả. Dù ít, nhưng người Trung Quốc cũng được dạy rằng họ mang “chính nghĩa” đi khắp thế giới, và Hoàng Sa và Trường Sa là của đất mẹ đại lục hiện vẫn chưa thu hồi được. Cuộc chiến 1979 được Trung Quốc mô tả với hơn một tỷ dân của họ rằng Việt Nam “kiêu ngạo và càn quấy” nên cần được dạy dỗ. Ký ức về cuộc “dạy dỗ” đầy man rợ đó vẫn lưu truyền trong dân chúng, và những nấm mồ người dân Việt vô tội im lặng nằm rải rác, dọc khắp biên giới Bắc là bằng chứng không thể chối cãi.
Vì sao chúng ta cần những sự thật lịch sử? Vì sao phải cần ghi vào sách giáo khoa cho con cháu về sau? Câu hỏi nghe chừng có vẻ ngớ ngẩn – nhưng không phải là không cần đặt ra lúc này. Vì bởi lịch sử làm nên nhân cách và dân tộc tính của mỗi quốc gia. Lịch sử tạo nên những con người có ý thức rằng dân tộc mình đã tồn tại với thất bại và vinh quang như thế nào. Lịch sử dặn dò rằng con người nhỏ nhoi nhất có thể trở nên vĩ đại nhất, nếu vượt qua và sống sót. Tựa lưng vào lịch sử đầy đủ và trung thực, con người có thể tìm thấy cho mình cái nhìn sâu sắc, giá trị giúp cho từng thế hệ đi tới.
Lịch sử không để dùng nuôi giữ hận thù hay phục vụ cho mục đích nào đó, ngoài việc dâng tặng cho tri thức tử tế và sinh tồn. Lịch sử là kho kinh nghiệm vô giá để loài người soi lại chính mình. Cố tình lãng quên sự thật và lịch sử mới chính là cách dùng súng bắn vào quá khứ một cách đê tiện.
Ở Trung Quốc lúc này, việc đòi hỏi minh bạch cuộc chiến 1979, đưa vào sách vở chính thống cũng đang rộ lên trên các diễn đàn tiếng Hoa. Trên tờ New York Times, khi ký giả Howard. W. French hỏi vài cựu chiến binh Trung Quốc đã tham gia cuộc chiến 1979 rằng họ có biết ý nghĩa của cuộc chiến đó là gì không, họ đã lắc đầu nói “tôi không biết”. Long Chaogang, tên của người cựu binh này, nói rằng khi con cháu hỏi về cuộc chiến này, và vì sao, ông chỉ còn biết gạt phắt đi và nói “không phải việc của tụi mày”. Xu Ke, tác giả một cuốn sách tự phát hành mang tên The Last War, từng là một cựu pháo binh 1979, thì có những lý giải khác. Ông nói với ký giả Howard rằng cuộc chiến đó là phần ký ức buộc phải xóa đi trong trí nhớ của người Trung Quốc, bởi lý do của cuộc chiến đó không rõ ràng. Thậm chí, còn có lý thuyết rằng Đặng Tiểu Bình dấy lên vụ xung đột biên giới để rảnh tay sắp xếp lại quyền lực của mình trong bộ chính trị, vốn đang bị ám ảnh khuôn mẫu từ triều đại của Mao và đầy bất lợi với họ Đặng. Trung Quốc làm ngơ và xóa ký ức của người dân Trung Quốc về cuộc chiến 17 tháng 2/1979 bởi họ không có chính nghĩa. Cả thế giới nhìn thấy đó là cuộc xâm lăng điên cuồng. Nhưng người Việt thì không thể làm ngơ với lịch sử của mình, đặc biệt khi đó là phần lịch sử bảo vệ tổ quốc, kiêu hãnh và lưu danh trong ký ức nhân loại. Lịch sử phải được ghi lại, được giáo dục trong sách giáo khoa để ghi rõ những quân đoàn Trung Quốc trên đường tháo chạy vẫn được tướng Hứa Thế Hữu (*) truyền lệnh “sát cách vô luận” – tức thấy là giết, không cần lý lẽ. Đàn bà bị hãm hiếp rồi giết, trẻ con bị đập chết, người già bị chôn sống… “chính nghĩa” của đạo quân phương Bắc là vậy. Lịch sử phải được nhìn thấy đủ, để dấy động mọi tâm can, cho những cuộc thắp hương tưởng niệm hàng năm phải được là lễ trọng, không bị ngăn trở và vô vàn những bia, chữ tưởng niệm không bị vô-chủ tâm nhổ bỏ, hoặc làm ngơ với phong sương.
17.2.1979 không phải là cuộc chiến riêng của vài tỉnh miền Bắc Việt Nam, cuộc chiến đó là cuộc chiến của lòng ái quốc và lòng tự trọng của một dân tộc trước thách thức để sinh tồn và độc lập. 17.2 cũng cần được kính trọng không khác ngày 2.9 trên đất nước này. Vậy thì, khi nào sách giáo khoa Việt Nam sẽ ghi vào đó phần máu thịt và đau thương của người Việt đã bị làm ngơ? Khi nào?
Kết thúc bài viết của mình tại Trung Quốc, ký giả Howard hỏi ông Xu Ke rằng ông sẽ làm gì với cuốn sách của mình. Người cựu chiến binh Trung Quốc đó im lặng chốc lát, và trả lời rằng ông muốn nhân dân mình được biết, tường tận về những gì đã xảy ra. “Bọn đạo đức giả và phản bội đã che giấu  sự thật”, ông Xu Ke nói. (Source: Tuấn Khanh's Blog).
(*) Tháng 9/2008, Tướng Trung Quốc Hứa Thế Hữu từng được nhiều báo Việt Nam chia nhau đăng bài ca ngợi là tài năng xuất chúng, mà “quên” bẳng ông ta chính là người cầm cánh quân tiến công vào Cao Bằng – Lạng Sơn năm 1979, với chủ trương tàn phá mọi nhân lực và vật chất của Việt Nam.
(2) Thơ từ Bạn bè
(i) Hồ Chí Bửu: Thí dụ...
Thí dụ tình yêu em là rượu mạnh

Rượu thơm nồng nhưng cay xé đầu môi
Làm ngây ngất nhưng cũng làm bất tỉnh
Vừa đau tim cũng vừa rất tuyệt vời
      Ta lưu linh nên uống nhiều loại rượu
      Biết loại nào có chất lượng thâm sâu
      Biết loại nào chỉ màu mè làm dáng
      Uống vài ly thì đã bị đau đầu
Trong cuộc sống nhiều thăng trầm- bất cập
Đời màu hồng nhưng có lúc màu đen
Ta giang hồ nên bao phen bầm dập
Dù ngất ngư nhưng khí phách không hèn
      Ta nói với em như lời tâm sự
      Hãy biết nâng niu – trân trọng – vui mừng
      Làn mây trắng vẫn trôi đời lữ thứ
      Mây lỡ bay rồi – nước mắt rưng rưng…(Ngày valentine 2016.)
(ii) Huy Uyên: Đêm Xuân chờ
Nữa đêm mưa ngũ dưới chân đồi

đàn chim buồn thôi vỗ cánh
phố không em vắng cả nụ cười
tôi đứng chờ xuân
bên hiên nhà ai vắng lặng .
      Chiều thứ bảy giáo-đường chuông đổ
      những lần bên Chúa và Huyền
      tình em treo phai đầu ngõ
      nhớ hoài băng giá con tim .
"Trái Cấm" nữa đêm đóng cửa ngậm ngùi
từ lúc xa người tháng năm đứng nhớ
ngoài sân hoa khế rụng rơi
màu tím trong vườn sao buồn quá đổi .
      Bước em qua gõ sầu guốc mộc
      em về thay lại áo lưng ong
      em còn lung linh đuôi mắt
      ngó ngang tôi quá đổi vô-cùng .
Em giờ hai má còn hồng
nụ hôn cũ ai đành quên bỏ lại 
để tôi về canh giữ cô-đơn
hạnh-phúc quay lưng và lang thang đi mãi .
      Có lẻ ngoài trời xuân rồi đó
      tôi cầm tình mong-đợi-chờ ai
      em chắc giờ tóc pha sương bạc
      bên ấy hỏi em còn có ngậm-ngùi .
Mùa xuân vội vàng băng bó vết thương
mới đó mà cuộc đời chín rụng
dâu bể chôn một quá-khứ buồn
trên cây những chiếc lá vàng lơ lửng .
      Có phải em mang mùa xuân đi mất
      để tôi loanh quanh phố cũ đi tìm ...

..................................................................................................................
Kính,
NNS

Không có nhận xét nào: