Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

Tại Sao Chưa Đánh Đã Đầu Hàng? - Vương Hồng Anh

Như đã trình bày trong bài viết trước, ngày 20 tháng 3/1975, trung tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh Quân đoàn 1 & Quân khu 1 (Vùng 1 chiến thuật cũ), đã bay ra bộ Tư lệnh Tiền phương của Sư đoàn Thủy quân Lục chiến cách Mỹ Chánh chừng 8 km. Tại đây, trung tướng Trưởng đã gặp các cấp chỉ huy của những đơn vị trong khu vực để cùng các sĩ quan này duyệt lại tình hình cùng kế hoạch phòng thủ Huế mà Tổng thống vừa ra lệnh phải giữ với bất kỳ giá nào. Tình hình lúc đó không đến nỗi quá xấu. Các đơn vị Chủ lực quân và Địa phương quân vẫn còn nguyên vẹn. 
<!>
Việc triệt thoái khỏi Quảng Trị tuy có ảnh hưởng phần nào nhưng không làm cho tinh thần quân sĩ nao núng.Trên đường trở về Đà Nẵng, tướng Trưởng ghé lại Huế. Tinh thần ông rất phấn chấn vì sau một vòng thanh tra các vị trí, ông thấy cách bố phòng trong thành phố rất vững vàng. Đến 1 giờ rưỡi trưa, đài phát thanh Huế tiếp vận đài Sài Gòn phát đi lời hiệu triệu quốc dân của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống hứa với dân chúng, đặc biệt với dân chúng Huế, rằng quân đội sẽ bảo vệ Huế bằng mọi giá. Theo ghi nhận của đại tướng Cao Văn Viên, đây là điều mà trung tướng Trưởng nghĩ, dù muộn màng, cũng rất cần thiết, tuy “cũng đau đớn như bị tên cắm vào da thịt, nhưng không biết hiệu quả của lời tuyên bố đó có tác dụng đến mức nào.” Tướng Trưởng rời Huế, lòng vẫn tin tưởng với quyết tâm cao.

Đến khi vừa đặt chân xuống Đà Nẵng, trung tướng Trưởng nhận được một công điện khẩn có ghi “Mật”. Đó là lệnh của Tổng thống do bộ Tổng Tham Mưu chuyển. Ngược lại những gì nói trên đài phát thanh Huế, nay Tổng thống cho vị tư lệnh Quân đoàn 1 được tự do hành động. Vì không thể nào phòng thủ nổi ba căn cứ giữa lòng địch là Huế, Đà Nẵng và Chu Lai cùng một lúc, nên Tổng thống khuyên tướng Trưởng tùy nghi ứng phó và làm sao chỉ giữ một mình Đà Nẵng mà thôi.

Từ ngày 21/3 trở đi, tình hình tại Quân khu 1 trở nên nghiêm trọng sau từng ngày. Sau đây là diễn tiến tình hình chiến sự tại Quân khu 1 từ ngày 21 đến ngày 28/3/1975. Phần này được biên soạn dựa theo hồi ký của cựu đại tướng Cao Văn Viên viết cho trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, nhật ký hành quân của cựu thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, nguyên tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh kiêm tư lệnh chiến trường Quảng-Đà, lời kể của một số nhân chứng, và tài liệu riêng của VB.

* Trận chiến tại Thừa Thiên, Nam-Tín-Ngãi từ 21/3 đến 25/3/1975
Ngày 21 tháng 3, CSBV bắt đầu đánh mạnh vào Phú Lộc, nằm trên trục lộ Huế và Đà Nẵng. Dân chúng trong khu vực bị đạn pháo kích, phải bỏ làng chạy tan tác. Sư đoàn 1 Bộ binh (BB) điều động lực lượng giải tỏa áp lực địch, Pháo binh và Không quân yểm trợ tối đa đã đẩy lùi được địch trong một thời gian ngắn. Đến trưa ngày 22/3, địch tập trung lực lượng tấn công cường tập tuyến phòng thủ của các đơn vị Trung đoàn 1 BB và Liên đoàn 15 Biệt động quân. Đến 2 giờ chiều cùng ngày, các đơn vị của trung đoàn và liên đoàn này bị địch tấn công mạnh, cuối cùng phải rút về tuyến sau. Quốc lộ 1 bị cắt đứt và hầu như không giải tỏa được.

Trước tình thế chiến sự diễn biến khá đột ngột và Quốc lộ 1 bị gián đoạn, trung tướng Trưởng cho lệnh rút quân về cố thủ Huế. Cùng lúc đó, tàu Hải quân VNCH được tăng cường để khẩn cấp đón dân tị nạn cùng thân nhân gia đình binh sĩ ở Huế vào Đà Nẵng.

Ngày 23/3, Cộng quân tấn công vào các tuyến phòng thủ vòng đai thành phố Huế. Từ sáng CQ đã pháo kích dữ dội, tiếp diễn suốt ngày nhưng không hiệu quả. Tại phía Nam của Quân khu 1, ngày 24/3/1975, vào lúc 9 giờ sáng một biệt đội đặc công có chiến xa yểm trợ đột nhập vào thị xã Tam Kỳ, trong khi đó, lực lượng của sư đoàn 711 CSBV khởi động các cuộc tấn công vào vòng đai tỉnh lỵ. Trước áp lực nặng của địch, bộ chỉ huy tiểu khu Quảng Tín, bộ chỉ huy nhẹ của Sư đoàn 2 Bộ binh và bộ chỉ huy Trung đoàn 5 Bộ binh và hậu cứ các đơn vị đồn trú ở Tam Kỳ rút quân về khu vực trách nhiệm của Sư đoàn 3 Bộ binh ở phía Bắc quận Thăng Bình.

Cũng trong ngày 24/3, Cộng quân bao vây tỉnh lỵ Quảng Ngãi, tối cùng ngày, các đơn vị đồn trú tại thị xã Quảng Ngãi và khu vực phụ cận được lệnh rút quân về Chu Lai. Ngày 25 tháng 3/1975, tất cả lực lượng của Quân khu 1 đều tập trung tại ba địa điểm: Đà Nẵng (gồm cả Hội An), phía Bắc thành phố Huế và phía Nam Chu Lai. Trong tình hình nguy kịch đó, một bức điện khác cũng của Tổng thống do Bộ Tổng Tham Mưu gửi đi, trong đó chỉ thị cho tướng Trưởng cho rút toàn bộ quân tại Huế và Chu Lai về tập trung tại Đà Nẵng để hợp lực với các đơn vị cơ hữu ở đây lập tuyến phòng thủ giữ Đà Nẵng.

* Tướng Điềm và cuộc rút quân của Sư đoàn 1 Bộ binh
Kế hoạch rút quân từ Huế buộc Sư đoàn 1 Bộ binh và các đơn vị thống thuộc, tăng phái phải di chuyển quân về cửa Tư Hiền và cửa Thuận An. Theo kế hoạch, Hải quân và Công binh sẽ làm cầu lập thành đường cho Bộ binh vào Đà Nẵng. Thủy quân Lục chiến và các đơn vị thống thuộc quyền điều động của bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 1 sẽ được chở bằng tàu thủy. Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 1 sẽ chịu trách nhiệm điều động và kiểm soát cuộc rút quân này.

Sáng ngày hôm sau, biển động mạnh nên tàu đến trễ. Cầu phao tại cửa sông cũng chưa hoàn tất kịp để sử dụng. Đến trưa thì thủy triều lên cao, không làm sao qua được. Lúc đó, CQ biết được có các cuộc chuyển quân nên bắt đầu pháo kích dồn dập vào các vị trí ẩn quân và các điểm hẹn để tàu đến đón. Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 1 bị thiệt hại nặng. Hỗn loạn đã diễn ra, do đó chỉ có khoảng 1/3 binh sĩ về đến Đà Nẵng được. Nhưng một số đông khi vừa về Đà Nẵng, do nôn nóng tin nhà, đã rời đơn vị đi tìm gia đình và thân nhân. Riêng binh sĩ Thủy quân là giữ được trọn vẹn đội hình.

Về đến Đà Nẵng, một số sĩ quan của bộ tư lệnh Sư đoàn 1 BB trình diện bộ Tư lệnh Quân đoàn 1. Riêng chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm đã ghé thăm thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh tư lệnh Sư đoàn 3 để nhờ Sư đoàn 3 BB giúp cho các đơn vị một số máy móc truyền tin đã bị thất lạc trên đường chuyển quân. Tướng Điềm nói với tướng Hinh: Chờ Quân đoàn xét thì phải mất vài ngày. Bây giờ Sư đoàn 1 BB cần gấp để liên lạc giữa các cánh quân. Tâm sự với tướng Hinh, vị tư lệnh Sư đoàn 1 BB buồn bã nói: Còn rất nhiều anh em còn bị kẹt ở các bãi cát gần Thuận An và Tư Hiền chờ tàu Hải quân.

Kể lại cuộc chuyển quân với một số đồng đội cũ, tướng Điềm cũng cho biết ông và trung tướng Lâm Quang Thi đã hứng pháo kích của Cộng quân khi ở bãi biển để điều động các đơn vị rút quân, sau đó ông và tướng Thi vào Đà Nẵng bằng tàu Hải quân thay vì đi bằng trực thăng (các tư lệnh Sư đoàn bộ binh, tư lệnh phó và tư lệnh Quân đoàn đều có trực thăng riêng, nhưng trong ngày rút quân, cả tướng Thi và tướng Điềm đã từ chối sử dụng phương tiện riêng dành cho mình và cùng lội ra ngoài bờ để lên tàu). Đêm đó, tướng Hinh mời tướng Điềm ở lại tại doanh trại bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh đồn trú ở căn cứ Hòa Khánh. Gặp một số sĩ quan tham mưu Sư đoàn 3 BB đã có thời gian phục vụ Sư đoàn 1 BB, ông buồn bã nói: Cả sư đoàn đành phải bỏ Huế mà đi. Đau đớn quá…

* Ngày 26/3/1975:
Quân đoàn 1 lập phòng tuyến mới bảo vệ Đà Nẵng Sáng ngày 26 tháng 3/1975, trung tướng Trưởng đã gặp trung tướng Lâm Quang Thi, các thiếu tướng Bùi Thế Lân, Nguyễn Duy Hinh, và chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm để bàn về kế hoạch lập tuyến phòng thủ bảo vệ Đà Nẵng. Theo đó, các đơn vị của Sư đoàn 1 BB sẽ tập trung tại Nam Ô (phía nam đèo Hải Vân) và sẽ cùng với Thiết giáp và Pháo binh phụ trách phòng thủ từ đèo Hải Vân về đến gần Hòa Khánh. Sư đoàn 3 BB sẽ bảo vệ phòng tuyến “vàng” dọc theo phía bắc sông Thu Bồn về đến gần Hòa Cầm. Sư đoàn Thủy quân Lục chiến là lực lượng tổng trừ bị sẽ phụ trách khu vực phía Tây Đà Nẵng và các khu vực trọng yếu.

Về Sư đoàn 2 BB, ngoài Trung đoàn 5 và bộ chỉ huy nhẹ từ Tam Kỳ về Đà Nẵng trong ngày 24 tháng 3/1975, các đơn vị còn lại của sư đoàn này đã tập trung về căn cứ Chu Lai, nơi bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh đặt bản doanh, từ ngày 25/3/1975. Một ngày sau, trung tướng Trưởng ra lệnh cho chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, tư lệnh Sư đoàn 2 BB, cho rút toàn bộ lực lượng tại Chu Lai ra Cù lao Ré thuộc lãnh hải tỉnh Quảng Ngãi.

Theo nhận xét của đại tướng Cao Văn Viên ghi trong hồi ký của ông, cuộc di chuyển từ Chu Lai ra đảo Ré bằng tàu diễn ra êm xuôi. Các đơn vị Sư đoàn 2 BB và lực lượng Địa phương quân được tàu Hải quân đến đón và sau đó tập họp lại trên đảo an toàn. Quân sĩ được nghỉ ngơi và được tái tổ chức. Trong cuộc rút quân khỏi căn cứ Chu Lai, Sư đoàn 2 BB không bị áp lực nặng của Cộng quân.

* Tình hình Đà Nẵng sau ngày 25/3/1975
Trong ngày 26 tháng 3/1975, đại tướng Cao Văn Viên cử thiếu tướng Nguyễn Xuân Trang, tham mưu phó bộ Tổng Tham Mưu ra Đà Nẵng để tổng kiểm tra tình hình quân dụng, quân trang tại tổng kho Đà Nẵng và gặp trung tướng Trưởng để biết về tình trạng quân số tại hàng của các đơn vị tại Quân khu 1. Một khó khăn lớn đối với trung tướng Trưởng và bộ Tư lệnh Quân khu 1 lúc bấy giờ là dân chúng từ các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Tín, Quảng Trị, Thừa Thiên đã chạy giặc dồn về Đà Nẵng. Thành phố có nguy cơ hỗn loạn, chính quyền địa phương bất lực trong việc ổn định tình hình an ninh trật tự. Để giải quyết thực trạng này, ngày 26 tháng 3/1975, trung tướng Trưởng đã cử thiếu tướng Hoàng Văn Lạc, tư lệnh phó Quân khu 1 vào Sài Gòn để thỉnh cầu với Tổng thống Thiệu, Thủ tướng Khiêm và đại tướng Viên để có biện pháp khẩn cấp giải quyết tình trạng cư ngụ, sinh hoạt của dân chúng tị nạn. Thế nhưng, chuyến đi Sài Gòn của tướng Lạc không có kết quả.

Ngày 27 tháng Ba, một phi cơ dân sự của Hoa Kỳ ra Đà Nẵng để chở người. Theo dự trù thì phi cơ này sẽ chuyển mỗi ngày khoảng 14 ngàn người từ Đà Nẵng và Cam Ranh. Nhưng tin phi cơ đến lan truyền nhanh chóng đến độ phi trường tràn ngập người tị nạn. Hàng rào phòng thủ bị phá bỏ, mọi người úa ra phi đạo để lên phi cơ. Phải mất đến nửa ngày, các binh sĩ phòng vệ mới vãn hồi được trật tự. Thế nhưng khi có một chuyến phi cơ khác đến, cảnh hỗn loạn như trước lại tái diễn. Cuối cùng thấy không an toàn nên phản lực cơ này phải ngưng công tác. Ngày sau đó có 4 chiếc C-130 tìm cách thay thế nhưng chỉ chở được một chuyến rồi ngưng luôn.

Tại hải cảng, người tị nạn bám đông nghẹt cầu tàu. Một số chiến hạm của Hoa Kỳ đến Đà Nẵng nhưng được lệnh thả neo ngoài khơi. Từ bờ sẽ có nhiều phà và thuyền nhỏ vào đón dân chúng ra tàu lớn. Cuộc vận chuyển này diễn ra khá chậm, nhưng kết quả khả quan hơn. Hễ mỗi khi có đủ 10,000 người thì tàu đó chở vào Cam Ranh. Đến ngày 1 tháng Tư các tàu này được lệnh chở người tị nạn vào Vũng Tàu và Phú Quốc vì lúc đó Nha Trang cũng đang phải di tản. Đến Phú Quốc, dân chúng phát giác có đến 10 tên địch trà trộn để xúi giục nên một số dân đã xử tử 10 kẻ địch này ngay tại bãi. Trong khi hàng chục ngàn dân tị nạn từ Quân khu 1 về đến Vũng Tàu, Phú Quốc thì tại phòng tuyến Đà Nẵng, tình hình chiến sự trở nên khốc liệt hơn từ rạng sáng ngày 28/3/1975...

-----------------------

Từ Trận Chiến Tại Tam Kỳ Đến Triệt Thoái Ra Khỏi Huế –
Vương Hồng Anh

LTS: Trong hai bài trước, VB đã lược trình đến bạn đọc tình hình chiến trường Trị-Thiên trong thời gian từ ngày 20 đến 20-3-1975. Sau đây là những ghi nhận về tình hình tổng quát tại Quân khu 1 vào những ngày cuối tháng 3/1975, và diễn tiến cuộc triệt thoái khỏi Huế của các lực lượng thống thuộc Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 Tiền Phương. Loạt bài chiến sử này được biên soạn dựa theo hồi ký của cựu Đại tướng Cao Văn Viên do Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ xuất bản; hồi ức của cựu Trung tướng Ngô Quang Trưởng, cựu Thiếu tướng Bùi Thế Lân trong cuộc phỏng vấn của phái viên báo Đời; hồi ký của cựu Trung tướng Trần Văn Đôn, Tổng trưởng Quốc phòng cuối cùng của VNCH; hồi ký của cựu Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, nguyên Tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh kiêm Tư lệnh mặt trận Nam-Tín, lời kể của một số nhân chứng, và tài liệu riêng của VB.

* Ngày 24-3-1975: Trận chiến tại Tam Kỳ
Sáng ngày 24 tháng 3/1975, một biệt đội Cộng quân và 2 chiếc 2 PT 76 đã lọt vào thị xã Tam Kỳ, tỉnh lỵ tỉnh Quảng Tín. Do bị tấn công bất ngờ, binh sĩ trú phòng đã không kịp có phản ứng nên Cộng quân đã chiếm thị xã này.Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy Tiểu khu Quảng Tín, Bộ Tư lệnhTiền phương Sư đoàn 2 Bộ binh (BB) và Bộ chỉ huy Trung đoàn 5 BB đang đóng quân ởthị xã đã phải rút đi di chuyển về vùng hoạt động của Sư đoàn 3Bộ binh ở phía bắc quận Thăng Bình.

Sự kiện Cộng quân chiếm Tam Kỳ đã ảnh hưởng không ít đến tinhthần chiến đấu của quân trú phòng trong thị xã Quảng Ngãi, một tỉnh lỵ ở phía Nam thị xã Tam Kỳ, nằm trên Quốc lộ 1. Từ 12 giờ trưa đến tối ngày 24/3/1975, Cộng quân đã bắt đầu mở các cuộc tấn công vào nhiều căn cứ quân sự và làng mạc chung quanh thị xãQuảng Ngãi. Một tiểu đoàn đặc công Cộng quân tấn công vào phi trường, trong khi đó khoảng 1 trung đoàn thuộc lực lượng chủ lựccủa tỉnh đội Quảng Ngãi đã tấn công vào các tuyến phòng thủ vòng đai thị xã.

Để bảo toàn lực lượng, bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 và Quân khu 1 chấp thuận cho Tiểu khu Quảng Ngãi được quyền cho lệnh các đơn vị Địa phương quân được rời bỏ phòng tuyến và đánh lên phía Bắc để ra khỏi vòng vây của Cộng quân. Do đường từ thị xã Quảng Ngãi đếncăn cứ Chu Lai của Sư đoàn 2 Bộ binh bị gián đoạn và đường ra biển cũng bị Cộng quân phong tỏa nên các đơn vị Địa phương quânđã phải mở đường máu để rút quân. Sáng ngày 25/3/1975, chỉ có một số ít về đến Chu Lai. Phần lớn đã hy sinh hoặc bị bắt trên đườngdi chuyển.

* Diễn tiến về kế hoạch rút quân khỏi Huế.
Tại Huế, ngày 24/3/1975, các đơn vị của Sư đoàn 1 Bộ binh phòng ngự ở phía Bắc và khu vực cận sơn ở phía Đông thành phố Huế đãđược lệnh rời bỏ phòng tuyến và chuyển quân về gần Huế để cùng với Bộ Tư lệnh và các đơn vị yểm trợ chuẩn bị kế hoạch rút quânkhỏi chiến trường Trị Thiên. Trong khi đó, các tiểu đoàn Bộ binhvà Biệt động quân đang án ngữ phòng tuyến dọc trên quốc lộ 1được lệnh di chuyển về bờ biển và tập trung tại các điểm hẹn để tàu Hải quân vào đón.

Theo kế hoạch tổng quát, Bộ Tư lệnh Tiền phương quân đoàn 1 doTrung tướng Lâm Quang Thi chỉ huy sẽ chịu trách nhiệm điều động và kiểm soát cuộc rút quân này. Về lịch trình, thì các đơn vị phải có mặt tại điểm tập trung trước 0 giờ sáng ngày 25/3/1975.Về phương tiện vận chuyển, Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải do Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại làm tư lệnh có nhiệm vụ cung cấp tối đa tàu để chở tất cả các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, Thủy quânlục chiến, Biệt động quân và lực lượng quân sự của hai tiểu khuThừa Thiên và Quảng Trị vào Đà Nẵng. Bộ chỉ huy Quân vận Quân khu1 sẽ sử dụng LCU để đưa các đơn vị từ bờ ra tàu, Công binh sẽ lập những cầu phao tại các cửa sông để đoàn quân đi qua.
* Những gian khó trên đường rút quân.

Theo lời kể của Thiếu tướng Bùi Thế Lân, Tư lệnh Sư đoàn Thủy Quân Lục chiến, do lệnh rút quân quá nhanh, các đơn vị không có thời gian chuẩnbị nên kế hoạch rút quân đã không thể thực hiện đúng theo thờibiểu. Cũng theo lời Thiếu tướng Lân, khi Trung tướng Trưởng quyết định cho rút quân khỏi Thừa Thiên và thành phố Huế thì Thủy quân Lục chiến có Lữ đoàn 369 đang hoạt động tại chiến trường này. Bộ chỉ huy Lữ đoàn 369 đóng tại căn cứ Tân Mỹ ở cửa Thuận An, 2 tiểu đoàn đang phòng thủ tại phòng tuyến An Lỗ, cách trung tâm thànhphố Huế khoảng 17 km, tiểu đoàn thứ ba đang phòng thủ ở phía Bắc quận Hương Điền và ở phía Nam của sông Mỹ Chánh.

Sáng ngày 25/3/1975, biển động mạnh nên tàu Hãi quân đến trễ. Cầuphao tại cửa sông cũng chưa hoàn tất kịp để sử dụng. Đến trưa thì thủy triều lên cao, không làm sao qua được. Cũng vào thời gianđó, Cộng quân biết có cuộc chuyển quân nên bắt đầu tập trung hỏalực pháo binh bắn dồn dập vào các vị trí ẩn quân tại cửa Tư Hiền cùng tại nhiều điểm hẹn để tàu đến đón. Bộ Tư lệnh Tiền phươngQuân đoàn 1 từ Mang Cá chuyển về đặt tại căn cứ Tân Mỹ cũng bị pháo kích nặng.

Ảnh minh hoạ
Trước tình hình đó, nhiều đơn vị đã tự tìm ra cách rút quân bằng phương tiện tự túc. Một đơn vị Thủy quân Lục chiến rút theo Quốc lộ 1 để vượt qua đèo Hải Vân vào Đà Nẵng đã bị Cộng quân phục kích chận đánh và bị tổn thất nặng. Một số đại đội Thủy quân Lục chiến và bộ chỉ huy Lữ đoàn 369 do Đại tá Lương, Lữ đoàn trưởng chỉ huy, từ Thuận An đi bộ dọc theo bờ biển để về hướng Đà Nẵng.Trên đường đi, đoàn quân đã được LCU và tàu Hải quân vào đón.Trong khi đang đứng trên bờ để điều động quân sĩ lội ra tàu ơ ûngoài biển, Đại tá Lương đã bị thương ở chân.

Một tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến và một số đơn vị Bộ binh cũng rút theo đường biển nhưng khi đến phá Tam Giang ở cửa Tư Hiền thìgặp phải con sông chắn ngang quá rộng, trong khi phía bên kiasông đã bị Cộng quân chiếm giữ. Một số chiến binh quyết vượt qua sông nhưng đã bị tử thương do đạn Cộng quân bắn sang. Theo ước tính của Thiếu tướng Bùi Thế Lân, Tư lệnh Thủy quân Lục chiến, thì chỉcó một số nhỏ chiến binh Thủy Quân vào đến Đà Nẵng, số đông còn lại bị tử thương vì trúng đạn pháo kích hoặc bị kẹt lại ở Huế. Những người bị kẹt lại đã lập thành từng phân đội quyết tử với Cộng quân cho đến khi hết đạn.

Riêng với Sư đoàn 1 bộ binh, các tiểu đoàn của các Trung đoàn1,3, 51 và 54 Bộ binh và các đơn vị thống thuộc như Thiết giáp, Pháo binh, cũng lâm vào tình cảnh như Lữ đoàn 369 TQLC. Một số được tàu Hải quân chở, một số khác mở đường máu ven theo quốc lộ 1 và hoặc ventheo biển phần lớn đã hy sinh ngay trên đường rút quân. Theo báo cáo của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 thì chỉ có khoảng 1/3 số binh sĩ thuộc các lực lượng của Sư đoàn 1 Bộ binh, Thủy Quân lục chiến, Biệt động quân…về đến Đà Nẵng.

* Sư đoàn 1 Bộ Binh vĩnh biệt chiến trường Trị Thiên và cố đô Huế.
Trở lại với tình hình Sư đoàn 1 Bộ binh, một trung tá trưởng phòng của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh (không muốn nêu tên) đã kể lại cho người viết bài này nghe diễn tiến những giờ phút cuối tại Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh ở trong căn cứ Giạ Lê.Vị trung tá này nói ông không thể nào quên được buổi họp cuốicùng để nghe tướng Điềm phổ biến lệnh rút quân. Từ vị tư lệnh phó, tham mưu trưởng cho các sĩ quan trưởng phòng, trưởng ban tham mưu như chết lặng khi nghe Thiếu tướng Điềm nói: Sư đoàn 1 Bộ binh có lệnhphải rút khỏi Huế. Và chỉ gần một giờ sau, cảnh tượng đó cũng đã diễn ra tại các bộ chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh, Thiếtđoàn Kỵ binh và các tiểu đoàn yểm trợ.

Là một đại đơn vị đầu lòng của Quân lực VNCH, thành lập ngày 1tháng 1/1955 trên sự qui hợp 3 Liên đoàn chiến thuật lưu động, Sư đoàn 1 Bộ Binh với cái tên đầu tiên là Sư đoàn 1 Dã chiến rồi đổithành Sư đoàn 1 Bộ binh từ 1959, trong hơn 20 năm từ ngày thànhlập cho đến ngày được lệnh rút quân khỏi chiến trường Trị Thiên,Sư đoàn 1 Bộ binh là sư đoàn Bộ binh đầu tiên mà tất cả quân nhân thuộc Sư đoàn được mang giây biểu chương Bảo Quốc Huân Chương màu tam hợp. Suốt 20 năm trấn giữ tuyến đầu của Việt Nam Cộng Hòa, Sư đoàn 1 Bộ Binh là hình ảnh của sự bảo bọc, gìn giữ Huế trong suốt những năm dài lửa đạn. Thế nhưng do những biến động chiến trường,Sư đoàn 1 Bộ binh đã phải vĩnh biệt Huế trong tức tưởi, trong uất nghẹn.

Khi vào đến Đà Nẵng, một số hạ sĩ quan tiểu đội trưởng, sĩ quan trung đội trưởng, đại đội trưởng trẻ tuổi của Sư đoàn 1 Bộ binh kể lại cho các đồng đội cũ (đã thuyên chuyển về Sư đoàn 3 Bộ binh) nghe cuộc rút quân bi tráng của họ. Khi nhận được lệnh rút quân, họ hiểu ngay là họ phải vĩnh biệt Huế, vĩnh biệt Trị Thiên, nơi mà họ và bao nhiêu đồng đội đã gởi cả tuổitrẻ cho chiến trường để giữ gìn từng phòng tuyến, từng ngọn đồi,từng căn cứ, trong những năm dài khói lửa. Một trung úy đại độitrưởng cho biết khi nhận được lệnh rút quân thì đại đội của anh đang phòng thủ ở một ngọn đồi cách Huế gần 10 km về phía Đôngnam. Cả đại đội lúc bấy giờ chỉ còn hơn 70 người đã di chuyển trong đêm để đi về hướng biển. Ra khỏi vị trí phòng thủ hơn 1 km,đại đội đã phải quyết chiến với khoảng hơn 100 Cộng quân chậnđánh. Sau hơn 1 giờ giao tranh, đại đội đã vượt qua khỏi vòng vâycủa địch quân và khi về đến bờ biển gần Thuận An thì cả đại đội chỉ còn hơn 40 người.

Một chuẩn úy già chỉ huy hậu cứ một tiểu đoàn Bộ binh đã khóc trong tức tưởi khi gặp lại chúng tôi, đồng đội cũ của ông. Vị sĩ quan này đã gia nhập Sư đoàn 1Bộ binh khi sư đoàn mới thành lập từ đầu năm 1955, và tính đến tháng 3/1975, ông đã có hơn 20 năm gắn bó với đại đơn vị này, từ một binh nhì khinh binh chiến đấu, rồi hạ sĩ tiểu đội phó, trung sĩ tiểu đội trưởng, trung sĩ nhất trung đội phó rồi quyền trung đội trưởng, thượng sĩ thường vụ tiểu đoàn, rồi chuẩn úy chỉ huy hậu cứ. Vị chuẩn uý già này nóivới chúng tôi trong uất hận: Tui có cả hơn 20 năm ở Sư đoàn này,có cả hơn 20 năm với chiến trường Huế, với Quảng Trị, Thừa Thiên. Tui từ binh nhì lên đến Thượng sĩ nhất, rồi chuẩn úy qua từng trận đánh…Trời ơi… Thế mà bây giờ lệnh trên bắt phải bỏ ThừaThiên, bỏ Huế mà đi, tức quá đi thôi.

Không có nhận xét nào: