Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

Phạm Thiên Thư, cỡi hạc bay đi - Cung Tích Biền


“Tình-tu, tục-thiền, đời-đạo, có-không, còn-mất, một Phạm Thiên Thư chan hòa và ẩn kín.” Cửa động đầu non đường lối cũ nghìn măm thơ thẩn bóng trăng chơi [1]Trước đây vài năm, nghe Thư trở bệnh, tôi có viết một bài, ấy là tình bạn, dù xa cách nhau nhưng đều còn chân đi trên mặt đất. Nay Thư đi thật rồi, xin gởi một nén nhang từ biệt. Trước khi viết tiếp, tôi thử gõ vào AI, anh thầy Mo này có nhận xét về nhà thơ họ Phạm như sau:“Phạm Thiên Thư là một hiện tượng khá đặc biệt của thi ca Việt Nam hiện đại. Ở ông có sự hòa quyện hiếm thấy giữa chất lãng mạn của thơ tình và chiều sâu thiền học của Phật giáo. Chính điều đó làm cho thơ ông mang vẻ “nửa đời nửa đạo” — vừa gần gũi, mộng mơ, vừa phảng phất suy tư siêu thoát.
<!>
Điểm nổi bật nhất trong thơ Phạm Thiên Thư là giọng điệu nhẹ, trong, giàu nhạc tính. Ông sử dụng thể lục bát rất mềm mại, tạo cảm giác như lời ru hoặc tiếng kinh ngân nga. Những bài thơ như Ngày xưa Hoàng Thị, Động hoa vàng, Đoạn trường vô thanh vừa có vẻ đẹp cổ điển vừa mang tâm trạng cô đơn, hoài niệm của con người hiện đại. Nhiều tác phẩm của ông được Phạm Duy phổ nhạc và trở thành ca khúc nổi tiếng, chứng tỏ thơ ông có sức lan tỏa mạnh trong đời sống văn hóa.

Một đóng góp đáng chú ý khác là việc ông “thi hóa” kinh Phật — đưa giáo lý nhà Phật vào thơ ca bằng ngôn ngữ mềm mại, dễ tiếp nhận. Điều này giúp thơ Phạm Thiên Thư không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn mang chiều sâu tinh thần, hướng con người tới sự an nhiên và tỉnh thức.

Nếu cần một nhận xét ngắn gọn, có thể nói:

“Phạm Thiên Thư là nhà thơ của cõi mộng và cõi thiền — thơ ông đẹp như khói sương, buồn mà thanh sạch, đưa người đọc đi giữa tình yêu, thiên nhiên và triết lý nhân sinh.”

Gần đây, sự ra đi của ông vào tháng 5/2026 càng khiến nhiều người yêu thơ tiếc nuối, bởi ông được xem là một trong những giọng thơ riêng biệt và khó thay thế của văn học miền Nam trước 1975 và thơ Việt Nam hiện đại nói chung”.

Quá đủ rồi. Tôi chỉ thêm râu ria.
Một nhà thơ, mặc áo nhà sư, thanh thoát tiếng chuông boong, nhưng cuộc đời ấy chẳng thể nào thoát ngoài phận đời chốn phù du. Ngoảnh lại, ai đã thốt ra lời này, “Thôi thì thôi chỉ là phù vân / thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi”. Đây không một nỗi buồn, nỗi dau, mà là một đốn ngộ.

Với Phạm Thiên Thư, một giọt nước mắt có hai tên gọi, giọt lệ, hạt châu. Đi thong dong đó đây, hoa cỏ dặm đường, thấy có hai ông Phạm Thiên Thư. Cả hai đều nổi tiếng. Một Thư này qua Đọc, Thư kia qua Nghe. Đọc thơ, nghe nhạc
Đọc, là tới với những dòng thơ chưa bị phá trinh, còn nguyên màu, trên giấy. Nghe, là nghe lời thơ đã thụ tinh âm nhạc, qua tiếng hát của ca sĩ, đôi khi không còn nguyên lời thơ cũ.

Sự phối giao giữa thơ và nhạc này, tạo ra hưng phấn phủ trùm, đẩy tâm cảm tới bến bờ. Nhưng cùng lúc, cái chữ của bài thơ lúc chưa về nhà chồng kia, giọt máu của thi sĩ, đã hơn một nửa bị rơi rụng dọc đường biên cải do người nhạc sĩ. Cái dáng khởi nguyên, mộc bản thôn nữ, hồn tơ trúc, đã nhường bước cho cái cách chơi bời của người phổ nhạc. Nhạc sĩ là người có toàn quyền định đoạt, sáng hóa, hay đìu hiu đi, một bài thơ.

Phạm Duy là một phù thủy trong tài phổ thơ. Có khi phanh thây bài thơ này, để mần ra một bài thơ nọ, là lời nhạc. Tuy nhiên giữa hai nhà họ Phạm, thi nhân và nhạc sĩ này, có một tâm đồng ý hiệp kỳ lạ, phải chăng có thần linh phù hộ, họ gặp nhau và gây nhiều biến động trong giới thưởng ngoạn.

Một thời nội chiến, đất nước loạn ly, mạng sống con người bóng phù du, lý tưởng tìm thấy là biên cương cuối cùng của tự do và hy vọng. Con đường đi tới là hố thẳm một xã hội tan rã. Những Ngày xưa Hoàng Thị, Đưa em tìm Động Hoa Vàng, những Đạo ca, Thiền ca, trong chừng mực là những giọt Cam lồ.
Sang trọng như nhã nhạc. Nồng nàn những tình ca. Nhạc của Phạm này đã đẩy thơ của Phạm kia bay bổng đến tận biên ải, thoát ngoài ngôn ngữ – ý tại ngôn ngoại – rồi lại trở lùi. Từ, ngôn trở về thanh, thanh chỉ còn âm. Chỉ là âm vang. Toàn bài nhạc nghe qua, chỉ còn là một giải lụa hải triều âm. Rì rào, mênh mông.

Hẳn phải có lòng quý mến, sự liên thông giữa hai tài danh, một thơ một nhạc, phải lòng nhau rất mực, hồn chạm hồn, Bá Nha-Tử Kỳ, mới có một lực quyến rũ, mê đắm hồn người thưởng ngoạn như thế.

Nhưng, thế gian thường tình. Tai hại đã nhẹ nhàng tới với Phạm Thiên Thư. Đầu tiên, Phạm Duy hay quá. Ít khi nghe, thơ Phạm Thiên Thư hay quá. Bởi vì bài thơ nguyên thủy đã biến mất. Người thi sĩ là cái thi hài đang lơ lửng từng mây, dù mây ngũ sắc. Còn đây, rung chuyển trái tim người là … thơ của Phạm Duy.

Người nghe, hẳn nhiên, đông gấp nghìn lần người thơ thẩn xuân thu nhị kỳ, họa may mới đọc một bài thơ. Nghe nhạc nó bùi cái lỗ tai, mắt nhìn, bởi một trời réo rắt đờn ca sáo thổi, ánh đèn màu, vẻ đẹp nàng ca sĩ. Đọc một bài thơ tỉ như ăn chay.

Vì chỉ nghe qua nhạc, lại rất nhiều người không hề đọc thơ, người ta quên, hoặc không hiểu ra Phạm Thiên Thư còn một Cõi khác, thơ mộng, lẫn thác ghềnh hơn nhiều. Đó là chỗ vi huyền của Thư khi anh thi hóa kinh Phật, là chốn đơn thuần của tình yêu “đạo hạnh”. Là biển trời thân phận một Đoạn Trường Vô Thanh. Tập thơ này của Thư gồm 27 chương, 3290 câu, thể thơ lục bát.

Đoạn trường sổ gói tên hoa
Xưa là giọt lệ nay là hạt châu

Đọc Đoạn Trường Vô thanh, đọc những lời thơ thi hóa kinh Phật, mới thấy tài hoa, uyên bác nơi nhà thơ họ Phạm. Đặc biệt, Phạm Thiên Thư hiếm khi dùng ngôn ngữ hàn lâm, hán-việt, mà là thuần nôm, phong khí nhẹ nhàng, cận nhân tình. Ngôn ngữ ấy trở ra đầm ấm, tình đầy. Đạt chỗ Như nhiên.

Đoạn Trường Vô Thanh, theo tôi, Người họ Phạm có một chủ nghiệm riêng. Có thể, ông đã định đặt kiếp đời mình cùng trong một giấc mộng hóa bướm của Trang Tử. Thế hệ chúng tôi, buổi ấy, ngoài Phật, Khổng, muôn triết Tây Phương, chẳng thể nào thoát ngoài ảnh hưởng Lão, Trang.

**
Có một nguy hại, nhiều người, cả một ít nhà phê bình, cho tới nay, định chuẩn, nhất thiết là vầy:
“Cái tầm thi sĩ của Phạm Thiên Thư ở mức Lên non tìm động hoa vàng, Ngày xưa Hoàng Thị và một số Thiền thi được Phạm Duy phổ nhạc. Ni tấc ngần ấy thôi.

Tôi không nghĩ nhiều người đã bằng lòng với định chuẩn này. Mỗi phận người hãy còn nhiều ẩn mật. Và, sự thoát ngoài, luôn là cửa ngõ khải thị.
Giữa một bài thơ, tiền thân của lời nhạc, tuy trở ra một bài hát tuyệt hảo, hãy còn nghìn dặm xa giữa thơ và nhạc. Nhạc này chẳng phải thơ kia.

Có người lại cho rằng, “Nếu không có thiên tài Phạm Duy, chỗ đứng của Phạm Thiên Thư trong lòng người thưởng ngoạn sẽ khiêm tốn hơn nhiều.
Đúng, sai, ngày tháng còn, sự thật còn.

Hãy bước ra ngoài cõi thơ – nhạc dính chùm, tơ vương, giữa hai ông Phạm, ta sẽ thấy một cảnh giới riêng thơ của Phạm Thiên Thư, trang nhã và nồng nàn, minh triết và siêu thoát.

Phây bốc [FB] là một gã đưa tin tài tình. Hổm rày, từng phút giây biết rõ tin tức Phạm Thiên Thư trên đường hóa diễn âm dương. Phạm im vắng, xanh xao, buồn ngậm ống vố. Nụ cười thiền giả đã phôi pha. Yên nằm tịch nhiên mấy hôm, rồi êm ái ra đi. Nắng tỳ bà, và gió có lau, đưa tiễn một người.

Dòng nước chảy xuôi, lòng người luôn chảy ngược, những bãi bờ ký ức. Ta thể nào quên Sài-gòn thuở nọ có một viện Đại học danh tiếng, thuộc Phật giáo, có tên Vạn Hạnh. Nơi quy tụ, các nhà tu hành, khoa bảng. Bên cạnh cổng trường có quán cà phê Nắng Mới, nơi tụ họp những tài hoa. Sáng chiều, là nơi gặp giữa các nhà sư, các văn nghệ sĩ thời danh. Lạ lùng, ra quán cà phê, nói lung triết học, chỉ mấy ông đại đức, thầy chùa cấp đại đức buổi này thường là các đấng đi tu để trốn lính.

Chúng tôi thân thiết cùng nhau một thời tuổi trẻ. Gặp nhau hằng bữa, những con người có chút điên và say đắm văn chương triết học. Ngồi Nắng Mới, không dùng bia rượu, chúng tôi luôn uống cà phê, thật đậm. Nói như ví von của một nhà văn, đen của địa ngục, nóng của lửa mặt trời, và ngọt đắng trần gian.

Có mặt, những là, Thích Chơn Hạnh, tức Trần Xuân Kiêm, người dịch Zarathustra đã nói như thế, F. Nietzsche, triết gia Đức. Thích Chơn Pháp, Nguyễn Hữu Hiệu, người dịch Doctor Zhivago, tiểu thuyết của Boris Pasternak, nhà văn Nga, tác phẩm đoạt giải Nobel văn Chương 1958. Trần Ngọc Cư, chừng như nay là Hòa thượng Thích Phước An [?]. Đúng vậy, cho phép thăm thầy. Và, Phạm Công Thiện, đại đức Thích Nguyên Tánh. Và, Đại đức Tuệ Sỹ, người ngay thời tuổi trẻ chúng tôi đã rất mực yêu quý. Phạm Thiên Thư lúc này còn tu, có học Vạn Hạnh, tu mười năm [1963-1973], rồi giã từ chuông mõ, mần thơ yêu em.

Tình-tu, tục-thiền, đời-đạo, có-không, còn-mất, một Phạm Thiên Thư chan hòa và ẩn kín. Một khuôn mặt tĩnh tại, một đôi mắt hư vô, nụ cười rất mực khiêm cung. Ngồi cùng bàn cà phê thì chán lắm, Thư rất ít nói. Nhậu thì chán phèo, một người không biết uống rượu, chỉ ngồi xã giao, mất khả năng hưởng ứng. Phạm Thiên Thư, rất gần, mà xa khuất.

Chúng tôi có hai mươi năm sống trong một đất nước tuy chiến chinh nhưng một miền Nam tự do, thơ mộng. Bừng bừng tháng Tư 1975, tất cả là tan tành, rút cạn. Nguyễn Thụy Long lượm ve chai, tôi chạy xe ba gác, Nguyễn Nghiệp Nhượng bán đồ lạc xon xe đạp, Dương Nghiễm Mậu, thợ sơn mài... các ca sĩ Hồng Vân, Huyền Trân đi bán đường, mỡ, từng bao bịch nhựa, nhỏ, quần vải thô áo vá, y phục ngon lành đã bán chợ trời mua gạo trước đó... Phạm Thiên Thư ra lề đường Chi Lăng Gia Định, mở “quán” cà phê, ngồi dưới nắng quạt lửa, đứng lên tụt lưng quần, hàng cây me cao vút, bóng đổ không che đủ nỗi đời.

“Văn tự hà tằng vi ngã dụng”
[văn chương chữ nghĩa giúp ích gì cho ta]. Nguyễn Du từng ngậm ngùi.
Hạnh phúc tan như bụi.
Đời bỏ ta dọc đường.
Vậy, hãy gần nhau lại.
Sao vội bỏ mà đi.
Phạm Thiên Thư, Cái hạc bay lên vút tận trời [2]

Cung Tích Biền
Senior Village – Garden Grove
California, 5 – 2026

Không có nhận xét nào: