Bài Em Tôi ra đời từ đầu năm 1953 và đến nay, vẫn tiếp tục đem đến cho người nghe những xúc cảm vẹn nguyên của một thời tưởng như đã thuộc dĩ vãng, nhưng vẫn cứ tiếp tục làm rung động trái tim những thính giả trẻ tuổi bây giờ.Đằng sau ca khúc lãng mạn này là một cuộc tình mang theo từ thuở vừa biết yêu cho đến khi tuổi xế chiều, lúc người nhạc sĩ sáng tác “gặp” lại người xưa, dù chỉ qua đường dây điện thoại viễn liên.Lê Trạch Lựu (1931 - 2015) rời Việt Nam từ hồi loạn ly năm 1951, bỏ lại sau lưng một mối tình, không hiểu người yêu của mình ở phương nao khi mà khói lửa, chiến tranh, tản cư, ly tán đã đẩy mọi người vào tìn
h huống chẳng biết những người thân của mình còn sống hay đã chết.
Ở Pháp, theo học nốt bậc trung học rồi vào ngành Điện ảnh và làm truyền thông, ông vẫn nhớ hình bóng cũ, cô thiếu nữ tên Phượng mà ông đã gặp lần đầu trong một chuyến đi cắm trại của đoàn hướng đạo ở Sầm Sơn. Chiều nào, qua khung cửa sổ, ông cũng nhìn thấy cô gái ấy ngồi giặt áo bên bờ giếng, dáng người dong dỏng, trắng trẻo, đôi mắt thật đẹp đến nỗi chàng thanh niên mới lớn khi đó phải thấy ngây ngất như lên cơn sốt: “Chao ơi, Tình yêu là thế?”.
Khi đó, trở về Hà Nội, Lê Trạch Lựu may mắn tìm biết được địa chỉ của người mà ông say đắm. Liên tiếp trong 3 tháng trời, ông viết cho cô Phượng gần 70 lá thư mà không hề được trả lời. Cậu em của cô, tên Mỹ, đóng vai chim xanh đã đưa thư cho ông. Cho đến một ngày, ông được người trong mộng hồi âm, rằng cô rất yêu ông nhưng muốn thử lòng xem ông có phải là người nghiêm túc hay không, và lúc đó là một tuần lễ trước ngày Toàn quốc Kháng chiến. Sau đó, gia đình cô Phượng tản cư về Hà Đông.
Từ Hà Nội, ông tìm đến thăm cô Phượng. Thân mẫu của hai người cũng là chỗ quen biết với nhau và họ đã cùng nhau đi chơi suốt một buổi chiều bên ven sông, dưới sự "giám sát" của cậu em cô. Hạnh phúc đến nỗi lúc ấy giữa hai người nói chuyện gì với nhau, ông cũng không thể nhớ hết, chỉ biết rằng mình chưa bao giờ được hạnh phúc như vậy. Duy có một điều ân hận, là ông chưa hề nắm lấy bàn tay của người yêu, dù chỉ một lần.
Rồi chiến tranh, gia đình Phượng tản cư, mất liên lạc, còn Lê Trạch Lựu sang Pháp.
Tháng ngày qua, ở Pháp, cũng là thời gian mà nỗi nhớ quay quắt đã là nguồn suối trào dâng để một ngày, bên những bạn bè như Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, ông bấm phím đàn, đưa bài Em Tôi vào đời. Ông kể: “Mối tình đối với Phượng theo tôi suốt đời, vì rằng đó là mối tình đầu, mà nay thì mình không biết nhau ở đâu, không biết người ta sống hay chết, chỉ thấy là tôi nhớ đến cô và tôi đã viết bài Em Tôi”.
Bẵng đi một thời gian dài, một hôm tình cờ tìm lại được địa chỉ ở Hà Nội của Phượng, ông viết thư về cho cậu em thử hỏi thăm, thì được hồi âm rằng chị của cậu chờ đợi mãi, bao nhiêu đám hỏi mà không nhận lời, sau này ngỡ ông đã chết thì cô lập bàn thờ, để tang ông 2 năm, nhưng vì gia đình thúc giục và cũng vì đã 27 tuổi, cô đành đi lấy chồng. Từ đó ông im lặng, cắt đứt để cho người cũ yên ấm bên chồng con.
Về phần cô Phượng, người chồng cô cũng chấp nhận là cô có một mối tình trước, hết sức cảm thông. Nhưng đôi khi thấy vợ buồn, ông khuyên vợ hãy để ông cất những lá thư và hình ảnh cũ, đến bao giờ vui hãy mở ra xem. Thế rồi ông mất, những lá thư xưa không tìm lại được nữa.
Mãi đến cuối năm 2009, mấy mươi năm sau, Lê Trạch Lựu liên lạc được một người bạn cũ từ bao năm ở lại Hà Nội, và chính người bạn này đã giúp nhạc sĩ họ Lê tìm ra số điện thoại của người xưa. Qua đường dây điện thoại, ông đã gọi về thăm hỏi bà. Bà không thể tin là ông còn sống, chỉ nhắc đi nhắc lại 3 lần như ngỡ trong mơ: “Anh Lê Trạch Lựu đấy ư?”.
Ông kể tiếp: “Bây giờ chúng tôi lại nói chuyện với nhau. Tình ngày xưa xa lắc xa lơ. Cô đã đi lấy chồng, mà tôi đã lấy vợ, bây giờ chỉ coi nhau như bạn già thôi. Quý nhau, kính trọng nhau, chứ không nghĩ đến tình yêu ngày xưa nữa. Không thể nào lập lại thời đó được. Nhưng hai người vẫn rất quý nhau, tôi vẫn thường gọi cho cô, hay cô gọi tôi, mà ăn nói chỉ như hai người bạn thân thôi…”.
Từ ngày rời Hà Nội năm 1951, nhạc sĩ họ Lê chưa một lần trở lại quê hương. Ông lập gia đình với một người vợ Pháp, gốc Ba Lan, theo lời ông thì bà rất đẹp, đoan trang, miệng cười tươi như hoa và ông nhận là số ông may mắn, khi từ người yêu đến người vợ ai cũng đoan chính cả.
Thời còn trẻ, cũng có người bạn ngay từ Pháp rủ ông về miền Nam Việt Nam làm việc, và một hãng thông tấn Pháp cũng muốn ông về để lập thành cột trụ ở Sài Gòn, nhưng như lời ông: “Hồi đó, tôi có đứa con nhỏ mới 3 tuổi, nếu tôi về Việt Nam thì với tính nghệ sĩ của mình, biết đâu tôi sẽ mê một cô Việt Nam nào đó, rồi sẽ lấy cô ấy, sống với cô ấy thì tôi sẽ không thể trở lại Pháp nữa. Tôi tự nghĩ: Mình sinh ra con, mình không nuôi con, mình bỏ nó, sung sướng với cuộc sống của mình, rồi sau này con mình nó nhìn mình bằng cách gì thì mình không thể sống được. Vì thế tôi không đi. Mà nếu tôi đi, thì cũng không thể trở về được, khi nghề của tôi là ra chiến trường quay phim. Tôi vui thích với nghề đó lắm, đến có thể chết được, nên về thì không thể nào trở lại được nữa!”.
Ông cho biết, những sáng tác khác của ông đã bị cái bóng của Em Tôi che mờ: “Nhạc của tôi người ta không biết nhiều, người ta chỉ biết đến Em Tôi thôi. Ở Hà Nội, ông Thẩm Oánh đã cho xuất bản một bài của tôi là bài Thôn Chiều, ông ấy thích bài đó lắm. Sang Pháp, nhớ quê hương, tôi làm bài Nhớ về sau được trình bày trên Đài Phát thanh Hà Nội, và Sài Gòn sau này. Bài thứ ba là bài Em Tôi. Nhưng do nó được người ta yêu quá nên thiên hạ quên mất Nhớ và Thôn Chiều”.
Khoảng 20 năm sau khi Em Tôi ra đời, vẫn nỗi nhớ người xưa, nhạc sĩ họ Lê đã còn sáng tác Cành Mai Tóc Ngắn.
Qua câu chuyện của mình, nhạc sĩ Lê Trạch Lựu có lời nhắc những ai yêu mến ông, xin để ý cho 3 chỗ trong lời nhạc của bài Em Tôi mỗi khi hát:
1. Cho anh gót thắm đem dệt nhớ nhung lời thơ (Không phải “Rót thắm” hay “góp thắm”) và ông giải thích: Người đàn bà xưa ăn mặc kín đáo, quần chùng áo dài, gót Sen của nàng là nguồn xúc cảm, gợi trí tưởng tượng, chứ không lộ liễu như bây giờ.
2. Đèn trăng phô sắc huy hoàng sáng hơn màu nắng (Không phải là “đàn trăng”).
3. Này trăng, này sao chia nhé em (Không phải là “này trăng, này sao kia nhé em”).
Vậy là thêm một chuyện tình nữa đã làm nên một tuyệt phẩm được chào đời từ bao xúc cảm đáy lòng. Như Trịnh Công Sơn với Diễm Xưa, như Phạm Thiên Thư với Ngày Xưa Hoàng Thị được Phạm Duy phổ nhạc, như Nguyễn Tất Nhiên với Thà Như Giọt Mưa Vỡ Trên Mặt Duyên cũng làm nhạc sĩ họ Phạm đồng cảm để đưa nó vào khung nhạc bay bổng, hay như Văn Phụng vì tình yêu với Châu Hà để có bài Suối Tóc, hoặc Phạm Đình Chương với nỗi nhớ Khánh Ngọc khôn nguôi để viết Nửa Hồn Thương Đau. Các nghệ sĩ sáng tác quả là lãng mạn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét